Soạn Bài Qua Đèo Ngang Ngắn Gọn Nhất

--- Bài mới hơn ---

  • Top 3 Soạn Bài Qua Đèo Ngang Ngắn Nhất.
  • Soạn Bài Qua Đèo Ngang (Chi Tiết)
  • Soạn Bài: Qua Đèo Ngang Trang 102 Sgk Ngữ Văn 7
  • Soạn Bài Qua Đèo Ngang Siêu Ngắn
  • Soạn Bài Qua Đèo Ngang Lớp 7 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Tài liệu hướng dẫn soạn bài Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan được Đọc Tài Liệu biên soạn nhằm giúp các bạn học sinh nắm chắc kiến thức trong bài và hướng dẫn trả lời câu hỏi trang 103 SGK Tiếng Việt 5 tập 1.

    Cùng tham khảo…

    Hướng dẫn soạn bài Qua Đèo Ngang chi tiết nhất

    Cùng Đọc tài liệu tham khảo nội dung gợi ý trả lời chi tiết các câu hỏi trang 103, 104 SGK Ngữ văn 7 tập 1:

    Đọc – hiểu văn bản

    1 – Trang 103 SGK

    Căn cứ vào lời giới thiệu về thể thất ngôn bát cú Đường luật ở chú thích, em hãy nhận dạng thể thơ của bài Qua Đèo Ngang về số câu, số chữ trong câu, cách gieo vần, phép đối giữa câu 3, câu 4, câu 5 với câu 6.

    Trả lời:

    Qua Đèo Ngang là một bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật.

    – Bài thơ này có 8 câu mỗi câu bảy chữ, hợp vần ở chữ cuối câu một và chữ cuối các câu chẵn (1, 2, 4, 6 và 8).

    – Trong bài thơ, câu 3 đối với câu 4, câu 5 đối với câu 6. Nói cách khác, có phép đối ở bốn câu giữa.

    2 – Trang 103 SGK

    Cảnh tượng Đèo Ngang được miêu tả ở thời điểm nào trong ngày? Thời điểm đó có lợi thế gì trong việc bộc lộ tâm trạng của tác giả?

    Trả lời:

    Cảnh tượng đèo Ngang được miêu tả vào lúc xế tà (đã về chiều). Thời điểm này là thời điểm ngày sắp tàn. Đó chính là thời điểm dễ gợi nỗi buồn cho lòng người. Ngay ở dân ca Việt Nam từ ngàn xưa cũng từng cho thấy:

    – Chiều chiều ra đứng ngõ sau

    Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều. – Lặng nghe chim vịt kêu chiều Bâng khuâng nhớ bạn chín chiều ruột đau.

    Thời điểm xế tà là lợi thế để tác giả bộc lộ tâm trạng cô đơn của mình lúc qua đèo.

    3 – Trang 103 SGK

    Cảnh Đèo Ngang được miêu tả gồm những chi tiết gì?

    Trả lời:

    Cảnh đèo Ngang được miêu tả gồm các chi tiết: cỏ, cây, hoa, lá, dãy núi, con sông, cái chợ, mây túp nhà, có tiếng chim cuốc và chim đa đa, có vài chú tiều (người đốn củi). Nhà thơ khéo dùng các từ láy lom khom, lác đác, các từ tượng thanh quốc quốc, gia gia đặc biệt gợi hình và gợi cảm, càng gợi lên cảm giác hoang vắng, quạnh hiu.

    4 – Trang 103 SGK

    Hãy nhận xét về cảnh tượng đèo Ngang qua sự miêu tả của Bà Huyện Thanh Quan.

    Trả lời:

    Qua đèo Ngang là một bức tranh thiên nhiên có sự sống con người nhưng hoang sơ, núi đèo bát ngát, vắng lặng và buồn thể hiện một tâm trạng cô đơn, bâng khuâng, buồn nhớ của tác giả.

    5 – Trang 103 SGK

    Hãy hình dung tâm trạng của Bà Huyện Thanh Quan khi qua Đèo Ngang. Tâm trạng đó được thể hiện qua hai hình thức: mượn cảnh nói tình và trực tiếp tả tình như thế nào?

    Trả lời:

    – Mượn cảnh nói tình: thông qua thời gian và không gian hình thức:

    + Gia gia – vừa mô phỏng tiếng chim như đồng âm với nó còn có nghĩa là nhà. Nỗi nhớ nhà đang trào dâng trong lòng người nữ sĩ xa quê, trong cảnh chiều hôm người ta tìm về mái ấm gia đình, còn bà lại đang dừng chân chống hoang sơ hiu quạnh, nhớ nhà là phải lắm.

    + Con quốc quốc – mô phỏng tiếng chim kêu và đồng âm với nó quốc quốc là đất nước, Tổ quốc. Bà là nho sĩ xứ Bắc Hà quặn lòng nhớ về Thăng Long xưa, nhớ về quá khứ của đất nước lúc còn hưng thịnh, lúc triều Nguyễn chưa dời kinh đô vào Huế.

    – Trực tiếp tả tình: Thể hiện qua câu cuối của bài thơ “Một mảnh tìn riêng ta với ta”. Mảnh tình riêng đó thật sâu sắc, thấm thía.

    6 – Trang 104 SGK

    Nói đến mảnh tình riêng giữa cảnh: trời, non, nước bao la ở Đèo Ngang thì có gì khác với cách nói một mảnh tình riêng trong một không gian chật hẹp.

    Trả lời:

    Nói đến một mảnh tình riêng giữa cảnh trời, non, nước bao la ở đèo Ngang là thể hiện một tương quan đối lập: trời, non, nước càng bao la, cao rộng bao nhiêu thì mảnh tình riêng càng nặng nề u uất bấy nhiêu! Dĩ nhiên là khác với nói một mảnh tình riêng trong một không gian chật hẹp.

    Soạn bài Qua đèo ngang phần Luyện tập

    Câu 1. Tìm hàm nghĩa của cụm từ Ta với ta.

    Trả lời:

    Cụm từ ta với ta: Hai chữ “ta” trong cụm từ đều chỉ chính nhà thơ, nỗi cô đơn tìm người chia sẻ giữa trời đất mênh mông lại gặp chính nỗi cô đơn của mình, không ai cùng chia sẻ.

    Câu 2. Học thuộc lòng bài thơ Qua Đèo Ngang.

    “Bước tới đèo Ngang bóng xế tà, Cỏ cây chen đá, lá chen hoa. Lom khom dưới núi tiều vài chú, Lác đác bên sông rợ mấy nhà. Nhớ nước, đau lòng con cuốc cuốc, Thương nhà, mỏi miệng cái da da. Dừng chân đứng lại: trời, non, nước, Một mảnh tình riêng, ta với ta.”

    Bà huyện Thanh Quan

    – Thể thơ: Thất ngôn bát cú

    – Thời kỳ: Nguyễn

    Tham khảo ngay bài văn mẫu: Phân tích tác phẩm Qua đèo ngang

    Hướng dẫn soạn bài Qua Đèo Ngang chi tiết nhất

    Soạn bài Qua Đèo Ngang ngắn nhất

    Bài thơ viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật: gồm 8 câu, mỗi câu 7 tiếng. Vần gieo cuối câu 1,2,4,6,8; phép đối câu 3-4 (lom khom dưới núi – lác đác bên sông; tiều vài chú – chợ mấy nhà), câu 5-6 (nhớ nước đau lòng – thương nhà mỏi miệng, con quốc quốc – cái gia gia).

    Câu 2

    Cảnh tượng được miêu tả lúc chiều tà – thời điểm dễ gợi lên nỗi buồn, cô đơn.

    Cảnh Đèo Ngang được miêu tả với không gian “xế tà”, cây cỏ, hoa lá, nhà cửa, con người vắng vẻ, tiếng kêu các loài chim gợi ra sự khắc khoải. Các từ láy, tượng thanh càng gợi lên cảm giác hoang vắng, quạnh hiu.

    Cảnh Đèo Ngang um tùm cây cỏ, hoang vắng, thưa thớt, con người, gợi buồn.

    Tâm trạng Bà Huyện Thanh Quan :

    – Mượn cảnh nói tình : mượn hình ảnh hoang vắng, thưa thớt con người nói lên nỗi quạnh hiu, mượn tiếng kêu mang âm vọng đất nước, gia đình để thể hiện nỗi nhớ nhà, nhớ nước.

    – Trực tiếp tả tình: “Một mảnh tình riêng, ta với ta” – cô đơn, buồn.

    Câu 6

    Không gian càng rộng, sự cô đơn, trống trải càng đậm nét, hình ảnh con người càng nhỏ bé, nỗi cô đơn càng nhân lên.

    “Ta với ta” chỉ chính bản thân tác giả, thể hiện nỗi cô đơn sâu sắc.

      Với phong cách trang nhã, bài thơ Qua Đèo Ngang cho thấy cảnh tượng Đèo Ngang thoáng đãng mà heo hút, thấp thoáng có sự sống con người nhưng còn hoang sơ, đồng thời thể hiện nỗi nhớ nước thương nhà, nỗi buồn thầm lặng cô đơn của tác giả.

    Tâm Phương (Tổng hợp)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 8. Qua Đèo Ngang
  • Hướng Dẫn Về Việc Xử Lý Đối Với Những Trường Hợp Có Sai Phạm Trong Công Tác Tuyển Dụng Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức
  • Mẫu Quyết Định Kỷ Luật Đảng Viên Vi Phạm
  • Quyết Định Thành Lập Hội Đồng Tuyển Sinh Vào Trường Mầm Non Năm Học 2021
  • Hiến Chương Liên Hợp Quốc 1945
  • Soạn Bài Qua Đèo Ngang (Siêu Ngắn)

    --- Bài mới hơn ---

  • Nêu Ý Nghĩa Bài Thơ Qua Đèo Ngang
  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang Của Bà Huyện Thanh Quan
  • Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang
  • Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ “qua Đèo Ngang”
  • Viết Đoạn Văn :qua Văn Bản Qua Đèo Ngang Em Cảm Nhận Cảnh Đèo Ngang So Với Tâm Trạng Của Tác Giả Câu Hỏi 1264323
  • Soạn bài Qua đèo ngang

    Bố cục

    – Phần 1 (6 câu thơ đầu): Cảnh đèo Ngang khi chiều về

    – Phần 2 (còn lại): Nỗi lòng nhà thơ

    Hướng dẫn soạn bài

    Câu 1 (trang 103 Ngữ Văn 7 Tập 1):

    – Bài thơ Qua đèo ngang là bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật

    – Dấu hiệu:

    + bài thơ có tám câu mỗi câu bảy chữ hợp vần ở chữ cuối câu một và chữ cuối các câu chẵn( 1,2,4,6,8)

    + có phép đối ở các cặp câu 3,câu 4 và câu 5, câu 6

    Câu 2 (trang 103 Ngữ Văn 7 Tập 1):

    – Cảnh tượng đèo Ngang được miêu tả vào lúc xế tà (trời đã về chiều , ngày sắp tàn)

    – Thời điểm đó có những lợi thế rất lớn khi bộc lộ tâm trạng cô đơn của tác giả khi qua đèo Ngang

    + Thời điểm này thường dễ gợi buồn cho lòng người vì đó thường là thời gian con người được sum họp cùng gia đình trong khi mình lại cô đơn nơi này

    + ca dao dân ca cũng rất hay lấy cảnh chiều để gợi tâm trạng

    Chiều chiều ra đứng ngõ sau

    Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều

    Vẳng nghe chim vịt kêu chiều

    Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau

    Câu 3 (trang 103 Ngữ Văn 7 Tập 1):

    – Cảnh đèo Ngang được miêu tả bằng những chi tiết

    + cỏ cây, hoa lá, tiếng chim cuốc

    + lác đác, mấy nhà, vài chú tiều

    + các từ láy lom khom,lác đác các từ tượng thanh quốc quốc gia gia được dùng khéo léo giàu khả năng gợi hình biểu cảm

    Câu 4 (trang 103 Ngữ Văn 7 Tập 1):

    – Qua miêu tả của Bà Huyện Thanh Quan cảnh tượng đèo Ngang hiện lên với bức tranh thiên nhiên hoang sơ bát ngát núi đèo có sự sống con người nhưng vắng lặng, qua đó bộc lộ tâm trạng cô đơn u buồn của tác giả

    Câu 5 (trang 103 Ngữ Văn 7 Tập 1):

    – Khi qua đèo Ngang tâm trạng tác giả thấy cô đơn hoài cổ trong nỗi nhớ nước thương nhà thấm đậm tâm hồn

    – Tâm trạng đó được thể hiện qua hai hình thức

    + mượn cảnh nói tình (cảnh chiều tà ở đèo Ngang, tiếng chim cuốc nhớ nước, tiếng chim đa đa thương nhà)

    + trực tiếp tả tình: câu thơ cuối bài (Một mảnh tình riêng ta với ta)

    Câu 6 (trang 104 Ngữ Văn 7 Tập 1):

    – Nói đến mảnh tình riêng giữa cảnh trời non nước bao la ở đèo Ngang khác với nói mảnh tình riêng ttrong không gian chật hẹp ở chỗ nó thể hiện tương quan đối lập: trời non, nước càng bao la càng rộng thì mảnh tình riêng càng nặng nề u uất

    Luyện tập

    Bài 1 (trang 104 Ngữ Văn 7 Tập 1):

    – Hàm nghĩa của cụm từ ta với ta: hai từ ta ở đây đều chỉ tác giả chỉ có mình tác giả . Qua đó khắc sâu hơn nữa tâm trạng cô đơn trống trải u buồn giữa thiên nhiên đất trời mênh mông hoang vắng nơi xứ lạ của Bà Huyện Thanh Quan

    Bài giảng: Qua đèo ngang – Cô Trương San (Giáo viên VietJack)

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k8: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    Các bài Soạn văn lớp 7 siêu ngắn được biên soạn bám sát câu hỏi sgk Ngữ Văn lớp 7 Tập 1, Tập 2 giúp bạn dễ dàng soạn bài Ngữ Văn 7 hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đọc Hiểu Văn Bản: Qua Đèo Ngang
  • Bài Thơ Qua Đèo Ngang
  • Soạn Bài Qua Đèo Ngang, Trang 103, 104 Sgk Ngữ Văn 7
  • Soạn Bài Qua Đèo Ngang Lớp 7 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Soạn Bài Qua Đèo Ngang Siêu Ngắn
  • Soạn Bài Qua Đèo Ngang Siêu Ngắn

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Qua Đèo Ngang Lớp 7 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Soạn Bài Qua Đèo Ngang, Trang 103, 104 Sgk Ngữ Văn 7
  • Bài Thơ Qua Đèo Ngang
  • Đọc Hiểu Văn Bản: Qua Đèo Ngang
  • Soạn Bài Qua Đèo Ngang (Siêu Ngắn)
  • Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

    Câu 1 Trả lời câu 1 (trang 105, SGK Ngữ văn 7, tập 1):

    – Thơ thất ngôn bát cú gồm 8 câu, mỗi câu 7 chữ.

    – Gieo vần ở các chữ cuối của các câu 1, 2, 4, 6, 8 : tà – hoa- nhà – gia – ta.

    – Có phép đối giữa câu 3 với câu 4, câu 5 với câu 6.

    Câu 2 Trả lời câu 2 (trang 105, SGK Ngữ văn 7, tập 1):

    – Cảnh tượng Đèo Ngang được miêu tả ở thời điểm lúc chiều tà.

    – Thời điểm đó có lợi thế khi gợi cảm giác vắng lặng, là lúc mong được sum họp, mong được trở về nhà. Qua đó bộc lộ tâm trạng cô đơn của tác giả.

    Câu 3 Trả lời câu 3 (trang 105, SGK Ngữ văn 7, tập 1):

    – Cảnh Đèo Ngang được miêu tả gồm những chi tiết: cỏ cây, hoa lá, vài chú tiều phu, con sông, cái chợ, mấy cái nhà, tiếng chim quốc, chim gia gia.

    – Các từ láy: lom khom, lác đác; các từ tượng thanh: quốc quốc, gia gia có tác dụng lớn trong việc gợi hình, gợi cảm và tô đậm vẻ hoang vắng, quạnh hiu.

    Câu 4 Trả lời câu 4 (trang 105, SGK Ngữ văn 7, tập 1):

    Qua sự miêu tả của Bà Huyện Thanh Quan, cảnh tượng Đèo Ngang hiện lên với bức tranh thiên nhiên hoang sơ, bát ngát núi đèo, có sự sống con người nhưng nhỏ bé, vắng lặng, thưa thớt và buồn tẻ.

    Câu 5 Trả lời câu 5 (trang 105, SGK Ngữ văn 7, tập 1):

    Tâm trạng của Bà Huyện Thanh Quan được thể hiện qua hai hình thức:

    – Mượn cảnh nói tình: mượn hình ảnh hoang vắng, thưa thớt của con người nói lên nỗi quạnh hiu, mượn tiếng kêu mang âm vọng đất nước, gia đình để thể hiện nỗi nhớ nhà, nhớ nước.

    – Trực tiếp tả tình (câu thơ cuối): ” Một mảnh tình riêng, ta với ta “: cô đơn, buồn.

    Câu 6

    Trả lời câu 6 (trang 106, SGK Ngữ văn 7, tập 1):

    Nói đến một mảnh tình riêng giữa cảnh trời, non, nước bao la ở Đèo Ngang có sự khác biệt với cách nói một mảnh tình riêng trong không gian chật hẹp là vì: trời, non, nước càng bao la càng rộng thì mảnh tình riêng càng nặng nề, u uất.

    Luyện tập Trả lời câu hỏi (trang 104 SGK Ngữ văn 7 tập 1)

    “Ta với ta” chỉ chính bản thân tác giả, thể hiện nỗi cô đơn sâu sắc.

    Bố cục

    Kết cấu 4 phần: đề – thực – luận – kết

    – 2 câu đề : cái nhìn chung về cảnh vật

    – 2 câu thực : miêu tả cuộc sống con người

    – 2 câu luận : tâm trạng tác giả

    – 2 câu kết : nỗi cô đơn lên cao

    ND chính

    Bài thơ cho thấy cảnh tượng Đèo Ngang thoáng đãng mà heo hút, thấp thoáng của sự sống con người nhưng còn hoang sơ. Đồng thời thể hiện nỗi nhớ nước, thương nhà và nỗi buồn, cô đơn thầm lặng của tác giả.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài: Qua Đèo Ngang Trang 102 Sgk Ngữ Văn 7
  • Soạn Bài Qua Đèo Ngang (Chi Tiết)
  • Top 3 Soạn Bài Qua Đèo Ngang Ngắn Nhất.
  • Soạn Bài Qua Đèo Ngang Ngắn Gọn Nhất
  • Bài 8. Qua Đèo Ngang
  • Top 3 Soạn Bài Qua Đèo Ngang Ngắn Nhất.

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Qua Đèo Ngang (Chi Tiết)
  • Soạn Bài: Qua Đèo Ngang Trang 102 Sgk Ngữ Văn 7
  • Soạn Bài Qua Đèo Ngang Siêu Ngắn
  • Soạn Bài Qua Đèo Ngang Lớp 7 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Soạn Bài Qua Đèo Ngang, Trang 103, 104 Sgk Ngữ Văn 7
  • Soạn bài Qua đèo ngang

    Bản 1/ Soạn bài Qua đèo ngang (cực ngắn)

    Bố cục

    – Phần 1: 6 câu thơ đầu: cảnh đèo ngang khi chiều về.

    – Phần 2: còn lại: nỗi lòng của nhà thơ.

    Nội dung bài

    – Cảnh tượng đèo Ngang hoang sơ, mênh mông, rợn ngợp

    – Nỗi nhớ nước thương nhà, nỗi buồn thầm lặng cô đơn của tác giả.

    – Ngôn ngữ trang nhã, cách đảo trật tự cú pháp câu, sử dụng lối chơi chữ

    I. Đọc – hiểu văn bản

    Câu 1 (trang 103 sgk Ngữ văn 7 Tập 1):

    – Đây là một bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật.

    – Đặc điểm:

    + Bài thơ này có 8 câu mỗi câu bảy chữ

    + Hiệp vần ở chữ cuối các câu 1, 2, 4, 6 và 8.

    + Đối: câu 3 đối với câu 4, câu 5 đối với câu 6.

    Câu 2 (trang 103 sgk Ngữ văn 7 Tập 1):

    – Cảnh tượng đèo Ngang được miêu tả trong buổi chiều tà

    – Đây là thời điểm dễ gợi buồn, gợi thương, gợi nhớ cho con người, chính vì thế tác giả dễ dàng bộc lộ nỗi buồn, sự cô đơn của mình.

    Câu 3 (trang 103 sgk Ngữ văn 7 Tập 1):

    Cảnh đèo Ngang được miêu tả qua những chi tiết:

    – Không gian: Rộng lớn, hoang sơ, rậm rạp, vắng vẻ

    – Thời gian: Chiều tối

    – Cảnh vật: cỏ, cây, hoa, lá, dãy núi, con sông, cái chợ, mấy túp nhà,

    – Âm thanh: có tiếng chim cuốc và chim đa đa

    – Cuộc sống con người: có vài chú tiều phu dưới núi, lác đác mấy ngôi nhà, cái chợ

    – Các từ láy lác đác, lom khom: Gợi lên sự thưa thớt, ít ỏi.

    – Từ tượng thanh nhà nhà, gia gia: Tiếng kêu quốc quốc, gia gia khắc khoải càng gợi lên cảm giác buồn giữa không gian hoang vắng

    Câu 4 (trang 103 sgk Ngữ văn 7 Tập 1):

    Nhận xét về cảnh tượng đèo Ngang: là một cảnh tượng đẹp, hùng vĩ nhưng hoang sơ, buồn vắng, hiu quạnh và thiếu sự sống của con người

    Câu 5 (trang 103 sgk Ngữ văn 7 Tập 1):

    – Tâm trạng của Bà Huyện Thanh Quan: Buồn, cô đơn, nhớ nước, thương nhà

    – Cách thể hiện trực tiếp:

    – Cách thể hiện gián tiếp:

    + Tác giả mượn cảnh đèo Ngang hùng vĩ, hoang vắng, hiu quạnh vật để giãi bày tâm trạng buồn, cô đơn

    + Mượn tiếng để gợi nỗi nhớ nước, thương nhà.

    – Cách thể hiện trực tiếp: Ở câu thơ cuối, biểu cảm trực nỗi buồn, nỗi cô đơn thầm kín, hướng nội của tác giả

    Câu 6 (trang 103 sgk Ngữ văn 7 Tập 1):

    Giữa cảnh trời, non, nước và một mảnh tình riêng có quan hệ đối lập nhau:

    Cảnh càng rộng lớn thì con người càng cô đơn nhỏ bé.

    Làm cho nỗi buồn, sự cô đơn của tác giả càng lớn hơn, nặng nề hơn.

    Luyện Tập

    Câu 1 (trang 103 sgk Ngữ văn 7 Tập 1):

    Hàm nghĩa của cụm từ ta với ta:

    – Bà Huyện Thanh Quan bước tới Đèo Ngang bắt gặp một không gian núi non trùng điệp, biển cả mênh mông. Trước không gian to lớn, vô hạn của vụ trụ con người nhỏ bé, mong manh.

    – Ta với ta – chính là việc con người đối diện với sự cô đơn của mình. Hai ta mà là một, sự cô đơn trở nên tuyệt đối.

    Câu 2 (trang 103 sgk Ngữ văn 7 Tập 1):

    Học thuộc lòng bài thơ

    Bài giảng: Qua đèo ngang – Cô Trương San (Giáo viên VietJack)

    Bản 2/ Soạn bài Qua đèo ngang (siêu ngắn)

    Bố cục

    – Phần 1 (6 câu thơ đầu): Cảnh đèo Ngang khi chiều về

    – Phần 2 (còn lại): Nỗi lòng nhà thơ

    Câu 1 (trang 103 Ngữ Văn 7 Tập 1):

    – Bài thơ Qua đèo ngang là bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật

    – Dấu hiệu:

    + bài thơ có tám câu mỗi câu bảy chữ hợp vần ở chữ cuối câu một và chữ cuối các câu chẵn( 1,2,4,6,8)

    + có phép đối ở các cặp câu 3,câu 4 và câu 5, câu 6

    Câu 2 (trang 103 Ngữ Văn 7 Tập 1):

    – Cảnh tượng đèo Ngang được miêu tả và lúc xế tà (trời đã về chiều , ngày sắp tàn)

    – Thời điể đó có những lợi thế rất lớn khi bộ lộ tâm trạng cô đơn của tác giả khi qua đèo ngang

    + Thời điểm nay thường dễ gợi buồn cho lòng người vì đó thường là thời gian con người được sum họp cùng gia đình trong khi mình lại cô đơn nơi này

    + ca dao dân ca cũng rất hay lấy cảnh chiều để gợi tâm trạng

    Chiều chiều ra đứng ngõ sau

    Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều

    Vẳng nghe chim vịt kêu chiều

    Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau

    Câu 3 (trang 103 Ngữ Văn 7 Tập 1):

    – Cảnh đèo Ngang được miêu tả bằng những chi tiết

    + cỏ cây, hoa lá, tiếng chim cuốc

    + lác đác mấy, vài chú tiều

    + các từ láy lom khôm,lác đác các từ tượng thanh quốc quốc gia gia được dùng khéo léo giàu khả năng gợi hình biểu cảm

    Câu 4 (trang 103 Ngữ Văn 7 Tập 1):

    – Qua miêu tả của Bà Huyện Thanh Quan cảnh tượng đèo Ngang hiện lên với bức tranh thiên nhiên hoang sơ bát ngát núi đèo có sự sống con người nhưng vắng lặng, qua đó bộc lộ tâm trạng cô đơn u buồn của tác giả

    Câu 5 (trang 103 Ngữ Văn 7 Tập 1):

    – Khi qua đèo Ngang tâm trạng tác giả thấy cô đơn hoài cổ trong nỗi nhứ nước thương nhà thấm đậm tâm hồn

    – Tâm trạng đó được thể hiện qua hai hình thức

    + mượn cảnh nói tình (cảnh chiều tà ở đèo Ngang, tiếng chim cuốc nhớ nước, tiếng chim đa đa thương nhà)

    + trực tiếp tả tình: câu thơ cuối bài (Một mảnh tình riêng ta với ta)

    Câu 6 (trang 104 Ngữ Văn 7 Tập 1):

    – Nói đến mảnh tình riêng giữa cảnh trời non nước bao la ở đèo Ngang khác với nói mảnh tình riêng ttrong không gian chật hẹp ở chỗ nó thể hiện tương quan đối lập: trời non, nước càng bao la càng rộng thì mảnh tình riêng càng nặng nề u uất

    Luyện tập

    Bài 1 (trang 104 Ngữ Văn 7 Tập 1):

    – Hàm nghĩa của cụm từ ta với ta: hai từ ta ở đây đều chỉ tác giả chỉ có mình tác giả . Qua đó khắc sâu hơn nữa tâm trạng cô đơn trống trải u buồn giũa thiên nhiên đất trời mênh mông hoang vắng nơi xứ lạ của Bà Huyện Thanh Quan

    Bản 3/ Soạn bài Qua đèo ngang (ngắn nhất)

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k8: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Qua Đèo Ngang Ngắn Gọn Nhất
  • Bài 8. Qua Đèo Ngang
  • Hướng Dẫn Về Việc Xử Lý Đối Với Những Trường Hợp Có Sai Phạm Trong Công Tác Tuyển Dụng Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức
  • Mẫu Quyết Định Kỷ Luật Đảng Viên Vi Phạm
  • Quyết Định Thành Lập Hội Đồng Tuyển Sinh Vào Trường Mầm Non Năm Học 2021
  • Đọc Hiểu Văn Bản: Qua Đèo Ngang

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Qua Đèo Ngang (Siêu Ngắn)
  • Nêu Ý Nghĩa Bài Thơ Qua Đèo Ngang
  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang Của Bà Huyện Thanh Quan
  • Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang
  • Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ “qua Đèo Ngang”
  • ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN TÌM HIỂU KHÁI NIỆM – Thơ Đường luật

    Còn gọi là thơ cận thể. Thể thơ cách luật ngũ ngôn hoặc thất ngôn được đặt ra từ đời Đường ở Trung Quốc. Có ba dạng chính : Thơ bát cú (mỗi bài tám câu), thơ tứ tuyệt (mỗi bài bốn câu) và thơ bài luật (dạng kéo dài của thơ Đường luật), trong đó thơ bát cú, nhất là thất ngôn bát cú (mỗi bài tám câu, mỗi câu bảy chữ), được coi là dạng cơ bản vì từ nó, có thể suy ra các dạng khác. Về bố cục, một bài bát cú gồm 4 phần : đề, thực, luận, kết. Trong đề, câu thứ nhất là phá đề, câu thứ hai là thừa đề. Phá đề mở ý của đầu bài ra, thừa đề tiếp ý của phá đề chuyên vào thân bài. Thực (câu 3 và 4) còn gọi là trích thực hay cập trạng, giải thích rõ ý của đầu bài. Luận (câu 5 và 6) phát triển rộng ý của đầu bài. Kết (hai câu cuối) kết thúc ý toàn bài. Cách chia thành 4 phần như vậy cũng như việc quy định rõ nhiệm vụ cho từng phần càng về sau càng chặt. Các nhà thơ có tài năng thường không để cho bố cục nói trên gò bó. Về luật bằng trắc, buộc phải theo sự quy định về thanh bằng thanh trắc trong từng câu và trong cả bài. Hệ thống này được tính từ chữ thứ hai của câu thứ nhất. Nếu chữ này thanh bằng thì bài thơ thuộc luật bằng (và ngược lại). Sự sắp xếp âm thanh chẳng qua chỉ làm cho điệu thơ không đơn điệu. Muốn vậy trong mỗi câu, các cặp bằng trắc lần lượt thay nhau trong mỗi cặp câu (còn gọi là liên), các chữ tương ứng của câu số lẻ và số chẵn phải có thanh ngược nhau (trừ chữ thứ năm và thứ bảy trong liên đầu) ; nhịp đi của liên trên phải khác nhịp đi của liên dưới, muốn vậy chữ thứ hai của câu chẵn thuộc liên trên phải cùng thanh với chữ thứ hai của câu lẻ thuộc liên dưới (sự giống nhau đó gợi là niêm vì làm cho hai câu thuộc hai liên dính vào nhau). Ví dụ : công thức bốn câu đầu của một bài thơ luật bằng :

    Trên thực tế, ít người theo đúng hoàn toàn công thức, do đó sinh ra lệ bất luận : chữ thứ nhất của câu hoàn toàn bất luận (bằng trắc đều được) ; chữ thứ năm nói chung ngược thanh với chữ thứ bảy, song cũng có thể bất luận ; riêng chữ thứ ba, nếu là bằng thì không nên đổi thành trắc, nhất là ở câu có vần. Về cách đối : đôi ở phần thực và luận. Các chữ đối nhau về nguyên tắc phải cùng từ loại. Các nhà thơ thường thích dùng các kiểu đối khác nhau để giảm tính chất gò bó như đối lưu thuỷ (hơi thơ cũng như ý của câu thứ hai là do câu thứ nhất trượt xuống, không thể đứng một mình), tá đối (mượn âm hoặc nghĩa một từ khác để đối), điệu đối (chủ yếu là đối về âm điệu), tự đối (đối trong nội bộ một câu), khoan đối (đối không thật chỉnh)… về cách gieo vần : chỉ gieo một vần và chỉ gieo vần bằng (ở cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8). Riêng chữ cuối câu thứ nhất, đặc biệt là ở thơ ngũ ngôn, có thể không gieo vần.

    Trong quá trình sử dụng, các nhà thơ đã sáng tạo thêm nhiều biệt thể mới của thơ Đường luật như tiệt hạ (ý, lời của mỗi câu thơ đều lơ lửng), yết hậu (thơ tứ tuyệt mà câu cuối chỉ có một vài chữ), thủ vĩ ngâm (câu một giống câu tám),… Nhiều nhà thơ Việt Nam như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Tú Xương, Nguyễn Khuyến đã sử dụng thể thơ Đường luật để viết nhiều bài thơ có giá trị và trong quá trình sử dụng, đã dân tộc hoá thể thơ này về nhiều phương diện. Do tính chất gò bó về hình thức, từ lâu, đối với số đông người làm thơ, thơ Đường luật khó diễn đạt được đầy đủ, sinh động tình cảm của con người hiện đại. Tuy vậy, thơ Đường luật thỉnh thoảng vẫn còn xuất hiện trên một số lĩnh vực và ở một số trường hợp nhất định trong cuộc sống văn hoá của nhân dân ta.

    (Nguyễn Khắc Phi/ Từ điển văn học, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1984)

    PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

    Ở bài thơ này bà Huyện chỉ nói tâm tư của mình.

    Đèo Ngang là một cảnh được nhiều người ngâm vịnh. Vì vị trí lịch sử (vùng giáp ranh giữa Đàng Ngoài và Đàng Trong suốt hai thế kỉ) đã đành, còn là vì cảnh trí thiên nhiên ngoạn mục : đứng trên đỉnh nhìn quanh, đông là biển xanh thăm thẳm, sóng tung bọt trắng vào chân núi, tây là núi biếc trùng trùng, bắc nam là vùng cận sơn, đất sỏi một màu đỏ thẫm. Đường ô tô nay còn quanh co, khuất khúc, huống gì hồi xưa. Tột đỉnh, ngày đó là cửa quan đỏ chót ba chữ Hoành Sơn Quan.

    Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà, Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.

    Bà đến đây vào lúc bóng chiều đã ngả, không chỉ xế mà xế tà. Thời điểm ấy không còn là thời điểm cho vui tươi, rạng rỡ mà đã xiêu xiêu về phía hoài niệm, mơ màng, cảnh vẫn ra vẻ tươi : cỏ cây chen giữa đá, lá chen giữa hoa (có thể hiểu : đá chen giữa cỏ cây, hoa chen giữa lá). Nhưng sao lại không vui, mà lại gây ấn tượng chen lấn, giành giật, tranh lấy một không gian sống ? Tịnh không mảy may chào đón, hớn hở gặp được một nhà thơ lại là một bà quan. Cỏ cây, đá, lá, hoa cứ làm việc của nó, chang biết gì đến người khách quý.

    Lom khom dưới núi, tiều vài chú, Lác đác bên sông, chợ mây nhà.

    Cỏ cây, hoa đá còn giành giật nhau đất sống, hỏi con người sẽ ra sao ? Rõ là tội nghiệp : Lân với cổ đá, tiều chỉ vài chú lẻ loi, thân hình lom khom như bị núi đè xuống dưới nhỏ nhoi, xa lơ dưới vực sâu. Còn chợ thì tận bên sông (có thể hồi đó, sông Roòn đang còn ở gần núi, từ Đèo có thể nhìn thấy chợ bên sông?), xa tít xa mù, lẽ ra đông nhà đông người, thì chỉ có lác đác mỗi nơi một vài nhà ! Dưới núi, bên sông sao nghe xa xôi thế ! cỏ đá thì giành nhau chỗ sinh tồn vì quá đông, thiên nhiên quá rậm rạp, còn con người thì sao mà thưa thớt, bé nhỏ, hắt hiu vậy ? cảm giác không gian sao mà mênh mông, trông vắng !

    Cảnh hiện thực khách quan đó chăng? Hay là cảnh tâm trạng ? Đến hai câu luận mới rõ dần :

    Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc,

    Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia.

    Ít nhất đây cũng là tâm trạng con người bé nhỏ đối diện với thiên nhiên bao la. Cũng cần biết một chút điển tích : chim cuốc được lưu truyền là hồn vua Thục Đế mất nước nên đau lòng gào kêu mãi quốc quốc. Con đa đa (chữ Hán gọi là gia gia) nhắc tích Bá Di, Thúc Tề, bề tôi nhà Thương, thà chết đói chứ không chịu sống với nhà Chu (triều đại đã diệt nhà Thương) và ăn thóc nhà Chu ; nó là hoá thân của hai vị ấy nên nó luôn kêu “bất thực cốc Chu gia” (dân gian nhại là “bắt con tép kho cà”) tức không ăn thóc nhà Chu ; nhưng gia gia thì nhắc đến nhà.

    Bỗng dưng nhắc đến nước, đến nhà chắc không phải không có căn cớ.

    Bà Nguyễn Thị Hinh, người Đàng Ngoài, thuộc Lê Trịnh ; nay đã là triều Nguyễn, con cháu chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Nói như xưa, mệnh thời thế là đã chuyên về họ Nguyễn. Tuy vậy, trong tâm tư thế hệ bà, người đất Bắc không khỏi không ngầm lắng một niềm luyến tiếc nhà Lê, tiếc thương thời cũ. Gia đình bà lại ở Hà Nội. Thăng Long xưa nay đã thay đổi và đã mất dần dấu tích xưa. Nay bà lại vào kinh, một nơi lạ nước lạ nhà, một mình ngàn dặm. Phụ nữ xưa kia mấy khi xa nhà. Nhớ cảnh cũ người xưa, nghĩ nước nhớ nhà, tâm trạng ấy, càng đi xa vào Nam càng nặng, và qua Đèo Ngang là như bước qua vùng đất Đàng Trong, chốn lạ. Cho dù đau lòng bên trong và mỏi miệng bên ngoài, mỗi bên có thể nặng nhẹ khác nhau, nhưng nhớ nước và thương nhà đều một mực tha thiết. Cặp phạm trù nước nhà này có gốc rất sâu trong lòng Việt Nam. Chạm tới nó là khơi động bao nỗi niềm thiết tha, gắn bó của con người với nước và nhà, nước chung và nhà riêng nhưng nhuyễn quánh làm một. Nhớ nước đã đau, thương nhà đã mỏi. Thương nhà đã thêm chiều sâu ở nhớ nước. Nhớ thương như thế không còn là nhớ thương bình thường của riêng một người. Đó là một nỗi nhớ thương có tính cách lịch sử.

    Mượn tiếng kêu của hai con chim mà gợi đến nỗi niềm ấy trong lòng, kì thực là từ cảnh trước mắt quay về cảnh đã qua, từ hiện tại trở về quá khứ. Quốc quốc, gia gia trở thành những sinh vật của thời nào, nơi nào, không phải của thời điểm này, không gian này. Nó có đấy mà như không có đấy. Nó mơ hồ, huyền hoặc như nó là hiện thân của tấm lòng người khách đi đường lẻ loi, nhiều tâm sự. Hai cầu thơ như hai tiếng vọng của xa xôi thời gian và mờ mịt không gian, mường tượng như hai tiếng than thương tự đáy lòng.

    Dừng chân đứng lại, trời, non, nước, Một mảnh tình riêng, ta với ta.

    Đúng là vậy. Trước cảnh trời, non, nước ở Đèo Ngang, non trùng điệp, nước mênh mông, trước cái vô cùng của trời đất, cảnh bể dâu của cuộc đời, con người thấy bé nhỏ tội nghiệp bao nhiêu ! Thêm cái tâm trạng ngổn ngang nhiều suy cảm, con người càng thấy mình cô đơn. Cho nên, quay lại, chỉ có mình với mình, với mảnh tình riêng của mình, đơn lẻ, nhỏ nhoi. Sáu câu thơ là một sự trống vắng mênh mông.

    Ta có cảm tưởng bài thơ tả cảnh mà không tả cảnh, chỉ mượn cảnh để tả tâm trạng một người nhưng cũng không phải tâm trạng một người. Nó là một tiếng nói của lịch sử, một chứng tích lịch sử, một đoạn đau thương trong trường khúc đau thương của non nước Việt Nam ở giai đoạn lịch sử có tính bi kịch này. Cái bóng xế tà của nhà thơ không chỉ chiếu nghiêng xuống bài thơ mà còn ngả dài xuống lịch sử, xuống số phận nhân dân ta và đất nước ta dưới triều Nguyễn. Bài thơ của một khoảnh khắc mà ai hay lại là một dự báo cho lâu dài.

    (Theo Lê Trí Viễn, Sđd)

    VĂN BẢN ĐỌC THÊM

    QUA ĐÈO NGANG

    Bãi thẳm, ngần xa, cảnh vắng teo

    Đèo Ngang lợi bể nước trong veo

    Thà là cúi xuống cây đòi sụt

    Xô xát trông lên sóng muốn trèo

    Lảnh chảnh đầu mầm chim vững tổ

    Lanh đanh cuối vụng cá ngong triều

    Cuộc cờ kim cổ chừng bao nả

    Non nước trông qua vẫn bấy nhiêu.

    (Lê Thánh Tông)

    * Gợi dẫn

    Hãy phân tích điểm giống và khác nhau giữa bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan và của Lê Thánh Tông.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Thơ Qua Đèo Ngang
  • Soạn Bài Qua Đèo Ngang, Trang 103, 104 Sgk Ngữ Văn 7
  • Soạn Bài Qua Đèo Ngang Lớp 7 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Soạn Bài Qua Đèo Ngang Siêu Ngắn
  • Soạn Bài: Qua Đèo Ngang Trang 102 Sgk Ngữ Văn 7
  • Soạn Bài Qua Đèo Ngang Ngắn Gọn

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Bài Thơ “qua Đèo Ngang” Của Bà Huyện Thanh Quan
  • Thuyết Minh Về Thể Thơ Thất Ngôn Bát Cú
  • 3 Bài Văn Phân Tích Bài Thơ Qua Đèo Ngang
  • Đề Cương Học Kì 1 Môn Ngữ Văn Lớp 7 Bài Qua Đèo Ngang
  • Giáo Án Dạy Hè Chuẩn Ngữ Văn Lớp 7 Lên 8
  • Soạn Văn 7: Qua đèo Ngang do Bà huyện Thanh Quan sáng tác được VnDoc sưu tầm và giới thiệu tới các bạn học sinh tham khảo. Bài soạn văn mẫu Qua đèo Ngang nhằm giúp các bạn hiểu rõ về cảnh đẹp thiên nhiên của Đèo Ngang được thể hiện qua ngòi bút của tác giả để chuẩn bị tốt cho bài giảng của học kì mới sắp tới đây của mình.

    Chuyên mục Soạn văn 7 ngắn gọn được giới thiệu trên VnDoc bao gồm đáp án và hướng dẫn giải cho các câu hỏi trong SGK Ngữ văn 7. Lời giải được trình bày ngắn gọn, dễ hiểu, giúp các em học sinh ghi nhớ bài học một cách nhanh chóng và dễ dàng. Chúc các em học tốt.

    Hướng dẫn soạn bài Qua đèo Ngang

    Bố cục: đề – thực – luận – kết

    – 2 câu đề: Cái nhìn chung về cảnh vật

    – 2 câu thực: Miêu tả cuộc sống con người

    – 2 câu luận: Tâm trạng tác giả

    – 2 câu kết: Nỗi cô đơn lên cao

    Câu 1 (trang 103 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1)

    Bài thơ viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật: Gồm 8 câu, mỗi câu 7 tiếng. Vần gieo cuối câu 1,2,4,6,8; phép đối câu 3-4 (lom khom dưới núi – lác đác bên sông; tiều vài chú – chợ mấy nhà), câu 5-6 (nhớ nước đau lòng – thương nhà mỏi miệng, con quốc quốc – cái gia gia).

    Câu 2 (trang 103 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1)

    Cảnh tượng được miêu tả lúc chiều tà – thời điểm dễ gợi lên nỗi buồn, cô đơn.

    Câu 3 (trang 103 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1)

    Cảnh Đèo Ngang được miêu tả với không gian “xế tà”, cây cỏ, hoa lá, nhà cửa, con người vắng vẻ, tiếng kêu các loài chim gợi ra sự khắc khoải. Các từ láy, tượng thanh càng gợi lên cảm giác hoang vắng, quạnh hiu.

    Câu 4 (trang 103 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1)

    Cảnh Đèo Ngang um tùm cây cỏ, hoang vắng, thưa thớt, con người, gợi buồn.

    Câu 5 (trang 103 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1)

    Tâm trạng Bà Huyện Thanh Quan:

    – Mượn cảnh nói tình: Mượn hình ảnh hoang vắng, thưa thớt con người nói lên nỗi quạnh hiu, mượn tiếng kêu mang âm vọng đất nước, gia đình để thể hiện nỗi nhớ nhà, nhớ nước.

    – Trực tiếp tả tình: “Một mảnh tình riêng, ta với ta” – cô đơn, buồn.

    Câu 6 (trang 104 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1)

    Không gian càng rộng, sự cô đơn, trống trải càng đậm nét, hình ảnh con người càng nhỏ bé, nỗi cô đơn càng nhân lên.

    Luyện tập Câu 1 (trang 104 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1)

    Cụm từ ta với ta: Hai chữ “ta” trong cụm từ đều chỉ chính nhà thơ, nỗi cô đơn tìm người chia sẻ giữa trời đất mênh mông lại gặp chính nỗi cô đơn của mình, không ai cùng chia sẻ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Soạn Môn Ngữ Văn 7
  • Tìm Hiểu Chi Tiết Văn Bản: Qua Đèo Ngang
  • Giáo Án Ngữ Văn 7 Tiết 29
  • Giáo Án Bài Qua Đèo Ngang
  • Cảm Nghĩ Của Em Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang
  • Cảm Thụ Văn Học: Qua Đèo Ngang

    --- Bài mới hơn ---

  • Viết Đoạn Văn Nêu Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ “qua Đèo Ngang”
  • Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang Của Bà Huyện Thanh Quan
  • Bài Văn Phân Tích Nét Đặc Sắc Về Nội Dung Và Nghệ Thuật Trong Bài Thơ
  • Bài Tập Tổng Hợp Môn Văn Bản Quản Lý Nhà Nước
  • Quản Lý Nhà Nước Về Đất Đai Bao Gồm Các Hoạt Động Nào?
  • [văn 7 ]Cảm thụ văn học: Qua đèo Ngang

    Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà,

    Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.

    Lom khom dưới núi tiều vài chú,

    Lác đác bên sông chợ mấy nhà.

    Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc,

    Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.

    Dừng chân đứng lại trời non nước,

    Một mảnh tình riêng ta với ta.

    Tên thật là Nguyễn Thị Hinh sống trong nửa đầu thế kỷ 19. Quê ở làng Nghi Tàm, ven Hồ Tây, kinh thành Thăng Long. Bà xuất thân trong một gia đình quan lại, có nhan sắc, có học, có tài thơ Nôm, giỏi nữ công gia chánh – bà được vua Minh Mệnh vời vào kinh đô Phú Xuân làm nữ quan “Cung trung giáo tập”.

    Chồng bà là Lưu Nghi làm tri huyện Thanh Quan, tỉnh Thái Bình, nên người đời trân trọng gọi bà là Bà huyện Thanh Quan.

    Bà chỉ còn để lại 6 bài thơ Nôm thất ngôn bát cú Đường luật: “Qua Đèo Ngang”, “Chiều hôm nhớ nhà”, “Thăng Long thành hoài cổ”, “Chùa Trấn Bắc”, “Chơi Đài Khán Xuân Trấn võ”. “Tức cảnh chiều thu”.

    Thơ của bà hay nói đến hoàng hôn, man mác buồn, giọng điệu du dương, ngôn ngữ trang nhã, hồn thơ đẹp, điêu luyện.

    Trên đường vào Phú Xuân…, bước tới Đèo Ngang lúc chiều ta, cảm xúc dâng trào lòng người, Bà huyện Thanh Quan sáng tác bài “Qua Đèo Ngang”. Bài thơ tả cảnh Đèo Ngang lúc xế tà và nói lên nỗi buồn cô đơn, nỗi nhớ nhà của người lữ khách – nữ sĩ.

    Lần đầu nữ sĩ “bước tới Đèo Ngang”, đứng dưới chân con đèo “đệ nhất hùng quan” này, địa giới tự nhiên giữa hai tỉnh Hà Tĩnh – Quảng bình, vào thời điểm “bóng xế tà”, lúc mặt trời đã nằm ngang sườn núi, ánh mặt trời đã “tà”, đã nghiêng, đã chênh chênh. Trời sắp tối. Âm “tà” cũng gợi buồn thấm thía. Câu 2, tả cảnh sắc: cỏ cây, lá, hoa… đá. Hai vế tiểu đối, điệp ngữ “chen”, vần lưng: “đá” – “lá”, vần chân: “tà” – “hoa”, thơ giàu âm điệu, réo rắt như một tiếng lòng, biểu lộ sự ngạc nhiên và xúc động về cảnh sắc hoang vắng nơi Đèo Ngang 200 năm về trước:

    “Cỏ cây chen đá, lá chen hoa”.

    Chỉ có hoa rừng, hoa dại, hoa sim, hoa mua. Cỏ cây, hoa lá phải “chen” với đá mới tồn tại được. Cảnh vật hoang sơ, hoang dại đến nao lòng.

    Nữ sĩ sử dụng phép đối và đảo ngữ trong miêu tả đầy ấn tượng. Âm điệu thơ trầm bổng du dương, đọc lên nghe rất thú vị:

    “Lom khom dưới núi tiều vài chú,

    Lác đác bên sông chợ mấy nhà”.

    Điểm nhìn đã thay đổi: đứng cao nhìn xuống dưới và nhìn xa. Thế giới con người là tiểu phu, nhưng chỉ có “tiều vài chú”. Hoạt động là “lom khom” vất vả đang gánh củi xuống núi. Một nét vẽ ước lệ rong thơ cổ (ngư, tiều, canh, mục) nhưng rất thần tình, tinh tế trong cảm nhận. Mấy nhà chợ bên sông thưa thớt, lác đác. chỉ mấy cáilèu chợ miền núi, sở dĩ nữ sĩ gọi “chợ mấy nhà” để gieo vần mà thôi: “tà” – “hoa” – “nhà”. Cũng là cảnh hoang vắng, heo hút, buồn hoang sơ nơi con đèo xa xôi lúc bóng xế tà.

    Tiếp theo nữ sĩ tả âm thanh tiếng chim rừng: chim gia gia, chim cuốc gọi bầy lúc hoàng hôn. Điệp âm “con cuốc cuốc” và “cái gia gia” tạo nên âm hưởng du dương của khúc nhạc rừng, của khúc nhạc lòng người lữ khách. Lấy cái động (tiếng chim rừng) để làm nổi bật cái tĩnh, cái vắng lặng im lìm trên đỉnh đèo Ngang trong khoảnh khắc hoàng hôn, đó là nghệ thuật lấy động tả tĩnh trong thi pháp cổ. Phép đối và đảo ngữ vận dụng rất tài tình:

    “Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc,

    Thương nhà mỏi miệng cái gia gai”.

    Nghe tiếng chim rừng mà “nhớ nước đau lòng”, mà “thương nhà mỏi miệng’ nỗi buồn thấm thía vào 9 tầng sâu cõi lòng, toả rộng trong không gian từ con đèo tới miền quê thân thương. Sắc điẹu trữ tình dào dạt, thiết tha, trầm lắng. Lữ khách là một nữ sĩ nên nỗi “nhớ nước”, nhó kinh kỳ Thăng Long, nhớ nhà, nhó chồng con, nhớ làng Nghi Tàm thân thuộc không thể nào kể xiết!

    Bốn chữ “dừng chân đứng lại” thể hiện một nỗi niềm xúc động đến bồn chồn. Một cái nhìn mênh mang: “Trời non nước”; nhìn xa, nhìn gần, nhìn cao, nhìn sâu, nhìn 4 phía… rồi nữ sĩ thấy vô cùng buồn đau, như tan nát cả tâm hồn, chỉ còn lại “một mảnh tình riêng”. Lấy cái bao la, mênh mông, vô hạn của vũ trụ, của “trời non nước” tương phản với cái nhỏ bé của “mảnh tình riêng”, của “ta” với “ta” đã cực tả nỗi buồn cô đơn xa vắng của người lữ khác khi đứng trên cảnh Đèo Ngang lúc ngày tàn. Đó là tâm trang nhớ quê, nhớ nhà:

    “Dừng chân đứng lại trời non nước,

    Một mảnh tình riêng ta với ta”.

    Bài thơ tả cảnh buổi chiều trên Đèo Ngang. Đèo Ngang trước con mắt lữ khách khi vừa đặt chân tới:

    Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà

    Thiên nhiên như ùa đến trong tầm mắt tác giả, cảnh sắc tươi tắn, ưa nhìn, những sinh vật và đất đá nương tựa, xen lẫn nhau cũng có vẻ đông đúc:

    Cỏ cây chen đá, lá chen hoa

    Nhưng sau sự cảm nhận đầu tiên ấy, tác giả đã có thì giờ buông tầm mắt ra xa, tìm đến thế giới con người.

    Lẽ ra thiên nhiên có thêm con người phải sinh động, đẹp đẽ hơn nhưng ở đây sự điểm xuyết của mấy người hái củi thưa thớt, mấy quán chợ lơ thơ chỉ khiến cho cảnh vật thêm hiu hắt.

    Lom khom dưới núi tiều vài chú

    Lác đác bên sông chợ mấy nhà

    Bà Huyện Thanh Quan đã nhìn bao quát toàn cảnh, bà còn cảm nhận về Đèo Ngang qua thính giác: tiếng chim quốc, tiếng chim đa đa vọng đến, rơi vào cái vắng vẻ tĩnh mịch của buổi chiều trên đèo.

    Khung cảnh thiên nhiên ấy, hoàn cảnh lữ thứ ấy khiến cho tiếng chim gợi liên tưởng đến những từ đồng âm biểu hiện những ý nghĩa, những vấn đề hết sức sâu sắc và lớn lao: nhớ nước và thương nhà.

    Thương nhà thì đã rõ, bà Huyện Thanh Quan có một thời được triệu về Huế làm chức Cung trung giáo tập.

    Bà vốn người Nghi Tàm, Hà Nội (Bài thơ này có thể làm trong dịp vào cung đó). Một người phụ nữ phải rời nhà đi xa như thế, dù là đi làm quan, cũng ngổn ngang biết bao nỗi niềm.

    Cái tiếng chim đa đa tha thiết khêu gợi biết bao. Nhưng còn cái tiếng khắc khoải của những con chim quốc. Điều đó không lấy gì làm chắc, bởi lẽ thời bà sống và làm quan, đất nước đã chuyển sang nhà Nguyễn đến thập kỉ thứ ba, thứ tư rồi.

    Có điều, như các triều đại phong kiến khác, nhà Nguyễn bấy giờ đã bộc lộ những mặt tiêu cực, những chỗ yếu kém và cả những tội ác. Là một nhà thơ nhạy cảm, bà Huyện Thanh Quan hẳn có những điều buồn phiền, bất như ý về hiện thực xã hội. Cái nỗi đau lòng khi nhớ nước có lẽ chính là như thế, chính là sự nghĩ về hiện tình đất nước đương thời.

    Và khi thiên nhiên đã đánh thức dậy trong lòng tác giả những mối suy tư lớn lao thì thiên nhiên bỗng như lùi xa, trả tác giả trở lại với chính tâm tư mình và chỉ có một mình:

    Dừng chân đứng lại: trời, non, nước

    Một mảnh tình riêng, ta với ta.

    Qua Đèo Ngang trước tiên là bài thơ tả cảnh. Cảnh vật hiện ra phong phú dần theo bước chân người đi. Có cảnh sắc: cỏ cây, hoa lá, đá, tiều phu bên sườn núi, chợ bên sông, nhà; có âm thanh: tiếng quốc quốc, gia gia khắc khoải, dồn dập.

    Và khi lên đến đỉnh đèo thì nhà thơ đã nhìn được một cách tổng quát, toàn thể: trời, non, nước. Cái mênh mông vô cùng và hùng vĩ ấy của thiên nhiên đã làm nhà thơ sững lại: dừng chân đứng lại.

    Nhưng tả cảnh chỉ là một phần nhỏ ý nghĩa của bài thơ. Chính là bài thơ đã miêu tả rất rõ diễn biến tình cảm của tác giả khi qua con Đèo Ngang này.

    Từ cảm nhận ban đầu, tình cảm của tác giả sâu lắng dần; qua sự tiếp nhận của mắt, của tai, những nỗi niềm tâm sự mỗi lúc một dồn nén để rồi chất chứa, cô đọng thành một nỗi buồn, nỗi cô đơn không thể cùng ai chia sẻ.

    Hình ảnh một con người, lại là một người phụ nữ, đứng sừng sững giữa cảnh trời, nước, non cao, trong ánh chiều tà đơn độc biết bao!

    Ở đây có sự tương phản: tương phản giữa thời gian khoảnh khắc (chiều sắp hết) và vũ trụ vô cùng; tương phản giữa không gian mênh mông hùng vĩ và con người lẻ loi đơn độc.

    Sự tương phản ấy đã tạc vào cái vô cùng vô tận của không gian và thời gian: tâm trạng cô đơn, nỗi buồn vô hạn, và cả bóng hình nữ sĩ.

    Qua Đèo Ngang là một bài thơ hay và sẽ bất tử với thời gian.

    Có lẽ cho đến khi nào con đường Nam Bắc, còn Đèo Ngang thì những người qua đây nhiều người còn nhớ đến nữ sĩ và như còn mường tượng ra bức tượng bà đứng trên cao trội lên bóng chiếu trên đỉnh đèo.

    * Nguồn: Tư liệu văn học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ôn Tập Bài Thơ Qua Đèo Ngang
  • Giáo Án Dạy Hè Chuẩn Ngữ Văn Lớp 7 Lên 8
  • Đề Cương Học Kì 1 Môn Ngữ Văn Lớp 7 Bài Qua Đèo Ngang
  • 3 Bài Văn Phân Tích Bài Thơ Qua Đèo Ngang
  • Thuyết Minh Về Thể Thơ Thất Ngôn Bát Cú
  • Bài Thơ: Qua Đèo Ngang

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Của Em Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang Của Bà Huyện Thanh Quan
  • Cảm Nghĩ Của Em Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang
  • Giáo Án Bài Qua Đèo Ngang
  • Giáo Án Ngữ Văn 7 Tiết 29
  • Tìm Hiểu Chi Tiết Văn Bản: Qua Đèo Ngang
  • -Bà Huyện Thanh Quan tên thật là Nguyễn Thị Hinh, sống ở thế kỉ XIX, chưa rõ năm sinh, năm mất

    -Quê quán: làng Nghi Tàm, nay thuộc quận Tây Hồ, Hà Nội

    -Chồng bà làm tri huyện Thanh Quan (thuộc Thái Ninh), tỉnh Thái Bình, do đó mà có tên gọi Bà Huyện Thanh Quan

    -Bà là một trong số nữ sĩ tài danh hiếm có trong thời đại ngày xưa, hiện còn để lại sáu bài thơ Đường luật.

    -Thơ bà thể hiện lòng yêu mến cảnh quan thiên nhiên, đất nước và tâm sự u hoài trước thế sự đổi thay. Tác phẩm nào của bà cũng buồn thương da diết, trang nhã và rất điêu luyện

    1. Hoàn cảnh ra đời

    Bài thơ được sáng tác khi bà từ trên đường từ Bắc Hà vào Huế nhận chức “Cung Trung giáo tập”

    2. Bố cục (4 phần )

    -Phần 1 (hai câu đề): Cái nhìn chung về cảnh vật Đèo Ngang

    -Phần 2 (hai câu thực): Cuộc sống của con người ở Đèo Ngang

    -Phần 3 (hai câu luận): Tâm trạng của tác giả

    -Phần 3 (hai câu kết): Nỗi cô đơn đến tột cùng của tác giả

    3. Giá trị nội dung

    bài thơ “Qua Đèo Ngang” cho thấy cảnh tượng Đèo Ngang thoáng đãng mà heo hút, thấp thoáng có sự sống của con người nhưng còn hoang sơ, đồng thời, thể hiện nỗi nhớ nước, thương nhà, nỗi buồn thầm lặng, cô đơn của tác giả

    4. Giá trị nghệ thuật

    -Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật

    -Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình

    -Sử dụng từ láy gợi hình gợi cảm và nghệ thuật đối lập, đảo ngữ

    I. Mở bài

    -Giới thiệu về tác giả Bà Huyện Thanh Quan (tiểu sử, sự nghiệp sáng tác, đặc điểm sáng tác…)

    -Giới thiệu về bài thơ “Qua Đèo Ngang” (hoàn cảnh ra đời, khái quát giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật…)

    II. Thân bài

    1.Cái nhìn chung về cảnh vật Đèo Ngang

    -Thời gian: xế chiều – thời điểm dễ gợi nên nỗi buồn cô đơn, sự trống vắng

    -Không gian: Đèo Ngang – một con đèo hùng vĩ, phân chia hai tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, là ranh giới phân chia Đàng Trong và Đàng Ngoài ngày xưa

    -Cảnh vật:

    +Các sự vật: cỏ cây, lá, đá, hoa

    +Động từ: chen – lẫn vào nhau, không ra hàng ra lối, động từ “chen” chen vào giữa hai câu thơ gợi cảnh tượng rậm rạp, hoang sơ

    ⇒Cảnh vật đầy sức sống nhưng hoang sơ, rậm rạp và hắt hiu

    2.Cuộc sống con người ở Đèo Ngang

    -Sử dụng từ láy có giá trị gợi hình: lom khom, lác đác – gợi cảm giác thưa thợt, ít ỏi

    -Nghệ thuật đảo ngữ:

    +Lom khom … tiều vài chú

    +Lác đác … chợ mấy nhà

    ⇒Nhấn mạnh sự nhỏ bé, ít ỏi, nhỏ nhoi của sự sống ở giữa cảnh vật thiên nhiên rộng lớn, hoang sơ

    ⇒Hình ảnh con người hiện lên thưa thớt, ít ỏi làm cho cảnh vật thêm hoang vắng, tiêu điềi. Qua đó, gợi cảm giác buồn hiu, vắng lặng của tác giả

    3.Tâm trạng của tác giả

    -Âm thanh của chim quốc quốc, gia gia: nghệ thuật lấy động tả tĩnh, chơi chữ. Tiếng chim quốc, chim gia gia nhớ nước, thương nhà cũng chính là tiếng lòng của tác giả thiết tha, da diết nhớ nhà, nhớ quá khứ của đất nước

    -Câu thơ như một tiếng thở dài của tác giả

    ⇒Tâm trạng nhớ nước, nhớ nhà, nhớ quê hương của tác giả. Đó cũng chính là tâm trạng hoài cổ của nữ sĩ

    4.Nỗi cô đơn tột cùng của tác giả

    -Con người nhỏ bé, lẻ loi, cô đơn, một mình đối diện với cả vũ trụ bao la, rộng lớn

    -“Một mảnh tình riêng, ta với ta”: một nỗi buồn, một nỗi cô đơn không có ai để se chia, san sẻ

    ⇒Tâm trạng cô đơn, trống vắng, lẻ loi một mình đối diện với chính mình giữa vũ trụ bao la, rộng lớn

    III.Kết bài

    -Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của tác giả:

    +Nội dung: Cảnh tượng Đèo Ngang thoáng đãng mà heo hút, thấp thoáng sự sống của con người và tâm trạng nhớ nước, thương nhà và nỗi cô đơn của tác giả

    +Nghệ thuật: thể thơ thất ngôn bát cú, sử dụng từ láy, nghệ thuật đảo ngữ…

    Các bài Soạn văn lớp 7 siêu ngắn được biên soạn bám sát câu hỏi sgk Ngữ Văn lớp 7 Tập 1, Tập 2 giúp bạn dễ dàng soạn bài Ngữ Văn 7 hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Giảng Môn Ngữ Văn Lớp 7
  • Nội Dung Nghệ Thuật Bố Cục Của Bài Thơ Qua Đèo Ngang Lớp 7
  • Viết Đoạn Văn :qua Văn Bản Qua Đèo Ngang Em Cảm Nhận Cảnh Đèo Ngang So Với Tâm Trạng Của Tác Giả Câu Hỏi 1264323
  • Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ “qua Đèo Ngang”
  • Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang
  • Soạn Bài : Qua Đèo Ngang

    --- Bài mới hơn ---

  • Bồi Dưỡng Kỹ Năng Soạn Thảo Văn Bản Quản Lý Nhà Nước Trong Bối Cảnh Hiện Nay
  • Hệ Thống Văn Bản Quản Lý Nhà Nước Về Chứng Thực Ở Cấp Xã, Hot
  • Hình Thức Và Phương Pháp Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
  • Khái Niệm Và Các Hình Thức Của Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
  • Trong Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa Cần Có Những Điều Khoản Nào?
  • Hướng dẫn soạn văn, soạn bài, học tốt bài

    Bà Huyện Thanh Quan (? – ?), tên thật là Nguyễn Thị Hinh, người làng Nghi Tàm nay thuộc quận Tây Hồ, Hà Nội. Chồng bà làm tri huyện Thanh Quan (thuộc Thái Bình ngày nay), do đó có tên gọi là Bà Huyện Thanh Quan. Bà là một nữ sĩ vào loại tài danh hiếm có thời phong kiến. Tác phẩm của bà hiện còn lại sáu bài thơ trong đó có bài Qua Đèo Ngang nổi tiếng.

    Bài thơ này được viết theo thể thất ngôn bát cú. Đây là một trong hai dạng cơ bản, phổ biến nhất của thơ Đường luật, gồm thất ngôn bát cú (7 chữ, 8 câu) và thất ngôn tứ tuyệt (7 chữ, 4 câu). Thơ thất ngôn bát cú Đường luật có những quy định rất chặt chẽ về bố cục (tổ chức cơ bản về nội dung và hình thức), luật (quy định về vần, thanh trong cả bài, đối giữa các cặp câu 3 – 4, 5 – 6), niêm (sự liên kết giữa các câu 1 – 8, 2 – 3, 4 – 5, 6 – 7).

    1. Nhận dạng thể thơ của bài Qua Đèo Ngang về số câu, số chữ, về cách gieo vần và về phép đối.

    : Dựa vào phần giới thuyết thể thơ ở trên, tự kiểm tra về số câu, số chữ, cách gieo vần và phép đối của bài thơ.

    2. Cảnh vật được miêu tả và lúc chiều tà. Thời điểm đó dễ gợi lên tâm trạng buồn, cô đơn nhất là với người lữ thứ.

    3. Cảnh Đèo Ngang được miêu tả gồm những chi tiết: cỏ cây, hoa lá, dãy núi, con sông, cái chợ, mấy túp nhà, tiếng chim quốc, chim đa đa, có vài chú tiều phu. Các chi tiết này cho thấy cảnh Đèo Ngang um tùm, rậm rạp. Con người thì ít ỏi, thưa thớt. Các từ láy: lom khom, lác đác, các từ tượng thanh: quốc quốc, đa đa có tác dụng lớn trong việc gợi hình, gợi cảm và càng gợi lên cảm giác hoang vắng, quạnh hiu.

    4. Cảnh Đèo Ngang là cảnh thiên nhiên, núi đèo bát ngát, thấp thoáng có sự sống của con người nhưng rất hoang sơ. Cảnh được miêu tả vào lúc chiều tà, lại được nhìn từ tâm trạng của kẻ xa quê nên cảnh gợi lên cảm giác buồn, hoang sơ, vắng lặng.

    5. Có thể thấy, ấn sâu kín trong bức tranh thiên nhiên là tâm trạng của người lữ thứ (Bà Huyện Thanh Quan). Đó là tâm trạng buồn, cô đơn, hoài cổ. Đọc bài thơ, ta cảm nhận được tiếng kêu da diết của chim quốc, chim đa đa cũng chính là tiếng lòng tha thiết nhớ nhà, nhớ quá khứ của đất nước. Câu thơ cuối cùng chính là cao trào của nỗi buồn, nỗi cô đơn của người khách xa quê.

    6. Giữa cảnh trời, non, nướcmột mảnh tình riêng có quan hệ đối lập nhau. Cảnh càng rộng lớn thì tình càng cô đơn, con người càng nhỏ bé. Như thế, rõ ràng cảnh góp phần khiến nỗi cô đơn của tác giả càng lớn hơn, nặng nề hơn.

    Đọc một bài thơ thất ngôn bát cú, trước hết phải chú ý đọc đúng nhịp (4/3), sau nữa là chú ý đến phép đối trong hai cặp 3 – 4, 5 – 6. Riêng với bài thơ này, cần chú ý đọc chậm, diễn cảm, thể hiện được nỗi buồn sâu lắng của tác giả.

    – Từ ta thứ nhất và từ ta thứ hai đều chỉ bản thân người nói.

    – Vì thế, ta với ta có nghĩa là không có ai khác (chỉ có một mình tác giả mà thôi).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Qua Đèo Ngang
  • Chính Sách Liên Quan Đến Quản Lý Chất Thải Rắn Sinh Hoạt
  • Văn Bản Pháp Luật Về Chất Thải Rắn
  • Quy Định Về Quản Lý Chất Thải Rắn
  • Văn Bản Pháp Lý Liên Quan Đến Tên Miền
  • Soạn Bài Qua Đèo Ngang

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài : Qua Đèo Ngang
  • Bồi Dưỡng Kỹ Năng Soạn Thảo Văn Bản Quản Lý Nhà Nước Trong Bối Cảnh Hiện Nay
  • Hệ Thống Văn Bản Quản Lý Nhà Nước Về Chứng Thực Ở Cấp Xã, Hot
  • Hình Thức Và Phương Pháp Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
  • Khái Niệm Và Các Hình Thức Của Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
  • Soạn bài Qua đèo ngang – Bà Huyện Thanh Quan

    * Bố cục : đề – thực – luận – kết

    – 2 câu đề : cái nhìn chung về cảnh vật

    – 2 câu thực : miêu tả cuộc sống con người

    – 2 câu luận : tâm trạng tác giả

    – 2 câu kết : nỗi cô đơn lên cao

    Câu 1 (trang 103 sgk ngữ văn 7 tập 1)

    Qua Đèo Ngang thuộc thể loại

    Thất ngôn bát cú

    + Tám câu, mỗi câu 7 chữ

    + Cách gieo vần: cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8

    + Câu 3 và 4 đối nhau, câu 5 và câu 6 đối nhau

    Câu 2 (trang 105 sgk ngữ văn 7 tập 1)

    Cảnh tượng Đèo Ngang được nêu trong bài: thời điểm chiều tà

    → Thời điểm chiều tà gợi lên những nỗi buồn, nhất là người phụ nữ xa nhà

    Câu 3 (trang 105 sgk ngữ văn 7 tập 1)

    – Cảnh vật gồm có: cỏ, cây, hoa, lá, dãy núi, con sông, cái chợ, mấy túp nhà, có tiếng chim cuốc và chim đa đa, có vài chú tiều phu

    – Cảnh Đèo Ngang rậm rạp, um tùm, hoang vắng: cỏ cây chen đá

    – Con người xuất hiện thưa thớt, ít ỏi: lác đác chợ mấy nhà, tiều vài chú

    – Tiếng kêu quốc quốc, gia gia khắc khoải càng gợi lên cảm giác buồn giữa không gian hoang vắng

    Câu 4 (Trang 105 sgk ngữ văn 7 tập 1)

    Cảnh tượng ở Đèo Ngang: um tùm cỏ cây, hoang vắng, thưa thớt con người

    – Tiếng chim quốc quốc kêu trong bi thiết càng làm tăng thêm nỗi buồn, sự hoang vắng

    → Cảnh vật hoang sơ, thưa thớt càng làm nỗi nhớ quê hương dâng lên và làm nỗi buồn, nỗi cô đơn, âm thầm của mình khi đối diện với thiên nhiên

    Câu 5 (trang 87 sgk ngữ văn 7 tập 1)

    Tâm trạng của Bà Huyện Thanh Quan khi Đèo Ngang là tâm trạng cô đơn, nhớ nhà, nhớ nước

    – Tác giả mượn cảnh vật để giãi bày tâm trạng

    – Mượn tiếng chim để gợi nhớ quá khứ nước nhà

    – Câu thơ cuối biểu cảm trực nỗi buồn, nỗi cô đơn thầm kín, hướng nội của tác giả

    ⇒ Tâm trạng của tác giả: buồn, cô đơn, hoài cổ

    Câu 6 (trang 87 sgk ngữ văn 7 tập 1)

    Một mảnh tình riêng với ta giữa cảnh trời, non, nước bao la ở Đèo Ngang khác với những không gian khác

    – Tác giả đối diện với không gian hoang vắng, hiu quạnh → cảm thấy cô đơn và nỗi buồn nhân lên gấp bội

    Bài giảng: Qua đèo ngang – Cô Trương San (Giáo viên VietJack)

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k8: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chính Sách Liên Quan Đến Quản Lý Chất Thải Rắn Sinh Hoạt
  • Văn Bản Pháp Luật Về Chất Thải Rắn
  • Quy Định Về Quản Lý Chất Thải Rắn
  • Văn Bản Pháp Lý Liên Quan Đến Tên Miền
  • Khai Bổ Sung Mục: Mã Văn Bản Pháp Quy
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50