Tình Bạn, Tình Yêu, Hôn Nhân Và Gia Đính

--- Bài mới hơn ---

  • Quy Luật Trong Tình Yêu Bạn Cần Biết Để Yêu Đúng Cách
  • Định Luật Vạn Vật Hấp Dẫn Của Newton, Lực Hấp Dẫn, Ứng Dụng Và Bài Tập
  • Top 7 Sách Luật Hấp Dẫn Ai Cũng Nên Đọc
  • 6 Cuốn Sách Hay Nhất Về Luật Hấp Dẫn
  • Luật Hấp Dẫn Và Ứng Dụng
  • Đán án D. Nam: 20, Nữ: 18

    Đán án: A

    A. khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân

    B. Khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng

    C. Tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân

    D. Cả 3 đáp án trên

    10

    9

    8

    7

    6

    5

    4

    3

    2

    1

    0

    Câu 3

    Những trường hợp nào sau đây không được phép kết hôn ?

    Đán án: D. Cả A,B và C đều đúng.

    A. Người đang có vợ hoặc có chồng

    C. Giữa những người cùng giới tính.

    B. Người mất năng lực hành vi dân sự.

    D. Cả A,B và C đều đúng.

    Câu 4 : Theo Luật hôn nhân và gia đình. Trường hợp nào sau đây là đúng ?

    A. Chỉ có cha, mới có nhiệm vụ và quyền chăm sóc nuôi dưỡng con chưa thành niên.

    B. Chỉ có mẹ , mới có nhiệm vụ và quyền chăm sóc nuôi dưỡng con chưa thành niên.

    C. Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền cùng nhau nuôi dưỡng con chưa thành niên.

    D. Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền cùng nhau nuôi dưỡng con đã thành niên và có tài sản tự nuôi mình.

    Câu 5 : Điều mấy trong Luật Hôn nhân và gia đình qui định về việc định đoạt tài sản riêng của con chưa thành niên ?

    Câu 6 : Hành vi nào sau đây vi phạm Luật hôn nhân và gia đình ?

    A. Vợ chồng tôn trọng và gìn giữ nhân phẩm và uy tín cho nhau.

    B. Chồng có quyền ngược đãi, hành hạ vợ.

    C. Cấm vợ hoặc chồng có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau.

    D. A và C đều đúng.

    10

    9

    8

    7

    6

    5

    4

    3

    2

    1

    0

    Đán án D.

    Câu 7 : Những quy định nào sau đây về nghĩa vụ và quyền hạn của con với cha mẹ là đúng ?

    A. Con có bổn phận yêu quý kính trọng với cha mẹ.

    B. Con có nghĩa vụ chăm sóc cha mẹ.

    C. Nghiêm cấm con ngược đãi với cha mẹ. D. Cả A,B và C đầu đúng.

    Câu 8: Luật Hôn nhân và gia đình do Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày nào?

    Câu 9: Tảo hôn là:

    A. Việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật;

    B. Lấy anh chị em trong vòng 3 đời

    C. Lấy vợ hoặc chồng do bố mẹ ép

    D. Tất cả đều sai

    10

    9

    8

    7

    6

    5

    4

    3

    2

    1

    0

    Đán án A.

    Câu 10: Những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình

    Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.

    Kết hôn phải đúng tuổi do bộ luật quy định.

    Bình đẳng giới

    Tự nguyện từ hai phía.

    Phần III.

    Mình với ta tuy hai mà một

    Ta vời mình tuy một mà hai.

    Giải đáp ô chữ

    1/ Ô chữ gồm có 7 chữ cái. Đây là thực trạng trong tình yêu của giới trẻ đang được dư luận xã hội hết sức quan tâm.

    Từ chìa khoá: T

    2. Ô chữ gồm 9 chữ cái. Đây là từ thường được dùng khi nói đến những tình cảm của lứa tuổi học trò.

    Từ chìa khoá: T, G

    3. Ô chữ gồm 10 chữ cái. Đây là điều mà các thành viên trong gia đình nên chia sẻ với nhau.

    Từ chìa khoá: T, G, R

    4. Ô chữ có 8 chữ cái. Đây là một trong những quyền cơ bản trong tình bạn và tình yêu

    Từ chìa khoá: T, G, R, N

    5. Ô chữ có 9 chữ cái. Đây là một trong những phẩm chất cao quý trong tình yêu của người Việt Nam

    Từ chìa khoá: T, G, R,N,T

    6. Ô chữ gồm 7 chữ cái. Đây là điều mà nhờ nó ta có suy nghĩ đúng và làm đúng mọi vấn đề trong cuộc sống hàng ngày.

    Từ chìa khoá: T, G, R ,N, T,Ọ

    7. Ô chữ có 7 chữ cái tập hợp những người gắn bó với nhau sau hôn nhân ?

    Từ chìa khoá: T, G, R ,N, T,Ọ, N

    6. Ô chữ gồm 7 chữ cái. Đây là từ chỉ sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà được pháp luật thừa nhận

    Từ chìa khoá: TÔN TRỌNG

    Từ chìa khoá: T, G, R ,N, T,Ọ,N, Ô

    Trao giải thưởng cho đội có điểm cao nhất.

    Hết rồi!

    

    Hẹn gặp lại!!!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tư Vấn Về Luật Hôn Nhân Và Gia Đình
  • Tư Vấn Luật Hôn Nhân Và Gia Đình
  • Thành Lập Trung Tâm Tư Vấn Hỗ Trợ Hôn Nhân Và Gia Đình Có Yếu Tố Nước Ngoài
  • Thủ Tục Thành Lập Trung Tâm Tư Vấn, Hỗ Trợ Hôn Nhân Và Gia Đình Có Yếu Tố Nước Ngoài
  • Tìm Hiểu Luật Hôn Nhân Và Gia Đình. Ý Nghĩa Của Nó Đối Với Bản Thân
  • Tình Huống Luật Dân Sự Và Hôn Nhân Gia Đình

    --- Bài mới hơn ---

  • Bộ Luật Dân Sự Hàn Quốc
  • Hàn Quốc Thay Đổi ” Quyền Phạt Con Của Cha Mẹ ” Trong Luật Dân Sự.
  • Hàn Quốc Xúc Tiến Sửa Luật Nhằm Ngăn Cấm Cha Mẹ Phạt Đòn Roi Với Con Cái
  • Hàn Quốc Thông Qua Dự Luật Cấm Cha Mẹ Phạt Đòn Con Cái
  • Khái Niệm Chung Về Luật Dân Sự Việt Nam
  • Chào bạn, với câu hỏi của bạn, công ty luật Hải Nguyễn và cộng sự xin được tư vấn như sau :

    Thứ nhất, Mười triệu đồng tiền thuê nhà hàng tháng không phải là tài sản riêng của anh A.

    Bởi vì : Căn nhà mà anh A đang cho thuê là tài sản mà anh A được nhận từ bố mẹ của mình trước khi cưới chị B. Theo đó, đây là tài sản trước thời kỳ hôn nhân, là tài sản riêng của anh A.

    Tuy nhiên, theo khoản 1 Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng, thì : “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung”.

    Như vậy, số tiền 10 triệu đồng tiền thuê nhà hàng tháng chính là lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của anh A và chị B trong thời kỳ hôn nhân. Như vậy, đây là tài sản chung của anh A và chị B.

    Thứ hai, Tiền trúng vé số (1.5 tỷ đồng) cũng là tài sản chung của 02 vợ chồng anh A chị B .

    Điều 9 Nghị định 126/2014/NĐ-CP quy định về thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân như sau:

    “1. Khoản tiền thưởng, tiền trúng thưởng xổ số, tiền trợ cấp, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 11 của Nghị định này.

    2. Tài sản mà vợ, chồng được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật Dân sự đối với vật vô chủ, vật bị chôn giấu, bị chìm đắm, vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước.

    3. Thu nhập hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.”

    Do đó, số tiền 1,5 tỷ đồng mà anh A trúng thưởng xổ số là khoản thu nhập hợp pháp trong thời kỳ hôn nhân.

    Khoản 1 Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 đã nêu trên quy định về chế độ tài sản chung của vợ chồng .Theo đó khoản thu nhập hợp pháp khác của anh A trong thời kỳ hôn nhân được xem là tài sản chung của vợ chồng anh A và chị B trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

    Công Ty Luật Hải Nguyễn và cộng sự – Hotline: 0973.509.636

    Website: chúng tôi – Email: [email protected]

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ngành Luật Thi Khối Nào?
  • 120 Câu Hỏi Đáp, Tình Huống Pháp Luật Phục Vụ Việc Dạy Và Học Pháp Luật Ở Các Trường Trung Học
  • Những Nguyên Tắc Cơ Bản Của Các Bộ Luật Dân Sự Trên Thế Giới Và Kinh Nghiệm Cho Việt Nam
  • Top Các Trường Đào Tạo Ngành Luật Danh Tiếng Ở Việt Nam
  • Ngành Luật Học Trường Nào? Top 10 Trường Đào Tạo Ngành Luật Hàng Đầu Việt Nam
  • Ngoại Tình Có Vi Phạm Luật Hôn Nhân Và Gia Đình

    --- Bài mới hơn ---

  • Vợ Ngoại Tình Thì Bị Xử Phạt Như Thế Nào ? Nghi Ngờ Vợ Ngoại Tình Có Ly Hôn Được Không ?
  • Có Thể Kiện Chồng Và Bồ Về Tội Ngoại Tình Không ? Phân Chia Tài Sản Khi Chồng Ngoại Tình ?
  • Vi Phạm Chế Độ Hôn Nhân Và Gia Đình Thì Bị Phạt Như Thế Nào ?
  • Tội Vi Phạm Chế Độ Một Vợ, Một Chồng Theo Quy Định Mới 2021
  • Hôn Nhân Là Gì? Quy Định Về Hôn Nhân Theo Luật Hôn Nhân Và Gia Đình
  • Nội dung tư vấn: 1. Ngoại tình là hành vi vi phạm luật hôn nhân và gia đình.

    Pháp luật Việt Nam không định nghĩa thế nào là ngoại tình. Nhưng theo nghĩa thông thường, đây là hành vi mà vơ/chồng có quan hệ bất chính thể hiện qua việc có quan hệ tình dục, chung sống với người khác, có tình cảm qua lại với người thứ ba,…Dựa vào định nghĩa thông thường này, thì hành vi đó đã vi phạm 1 nguyên tắc thể hiện nghĩa vụ của vợ chồng. Cụ thể tại Điều 17 Luật hôn nhân và gia đình2014.

    “Điều 19. Tình nghĩa vợ chồng

      Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.”

    Hơn nữa, Pháp luật không cấm người đã có vợ/chồng”quan hệ tình dục với người khác” nhưng lại cấm hành vi chung sống như vợ chồng với người đã có gia đình.

    “Chung sống như vợ chồng” là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ. Việc sống chung thể hiện một cách công khai hoặc không nhưng được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó. Hành vi này vi phạm nghĩa vụ “thủy chung” vốn có của hai bên, gây ảnh hưởng đến tình cảm gia đình. Cụ thể tại Luật hôn nhân và Gia đình 2014 có quy định:

    2. Cấm các hành vi sau đây:

    c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

    d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

    Như vậy, rõ ràng, hành vi ngoại tình đã vi phạm quy định của Luật hôn nhân và đình.

    Cụ thể người Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ hoặc Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị xử phạt hành chính.

    Căn cứ tại Khoản 1 Điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP:

    “Điều 48. Hành vi vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng; vi phạm quy định về ly hôn

    1.Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

    a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

    b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;”

    Cùng với hành vi trên nhưng để lại hậu quả nghiêm trọng, hoặc tái phạm sau khi đã bị xử lý hành chính thì người “ngoại tình” sẽ bị xử lý hình sự. căn cứ theo Điề 147 Bộ luật hình sự 2021:

    “Điều 147. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

    1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm…”

    Hậu quả dẫn đến người ngoại tình phải chịu trách nhiệm đó là hành vi làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn hoặc tăng nặng Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát.

    1. LSX là thương hiệu hàng đầu về dịch vụ ly hôn nhanh tại Việt Nam
    2. Nội dung tư vấn pháp luật mà LSX cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo. Để có những những tư vấn rõ ràng và cụ thể hơn, hãy liên hệ với chúng tôi ngay

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ai Đã Và Đang Có Ý Định “ngoại Tình” Cần Đọc Ngay Bài Viết Này
  • Theo Luật, Người Vợ Nên Làm Gì Khi Có Chồng Ngoại Tình?
  • Vi Phạm Luật Hôn Nhân Và Gia Đình Khi Ngoại Tình Sẽ Bị Phạt Tù Đến 03 Năm
  • Giáo Trình Luật Hôn Nhân Và Gia Đình Việt Nam Pdf
  • Tải Luật Hôn Nhân Và Gia Đình Năm 1959
  • Quyền Yêu Cầu Ly Hôn Theo Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 2014

    --- Bài mới hơn ---

  • Tư Vấn Về Vấn Đề Ly Thân Và Ly Hôn Trong Luật Hôn Nhân Gia Đình ?
  • Căn Cứ Ly Hôn Theo Quy Định Của Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 2014
  • Luật Hôn Nhân Gia Đình 2014
  • Tìm Hiểu Luật Hôn Nhân Gia Đình Khi Ly Hôn
  • Tìm Hiểu Về Luật Hôn Nhân Và Gia Đình Khi Ly Hôn
  • Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về quyền yêu cầu li hôn tại Điều 51. Theo đó, quyền yêu cầu li hôn có thể thuộc về vợ, chồng hoặc thuộc về cha mẹ, người thân thích của một bên vợ hoặc chồng khi có những điều kiện nhất định. Đồng thời, Luật cũng quy định người chồng không có quyền yêu cầu li hôn trong một số trường hợp. Tuy nhiên, quy định này còn dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, từ đó có thể dẫn đến việc áp dụng thiếu thống nhất. Bài viết tập trung phân tích để làm sáng tỏ các nội dung về quyền yêu cầu li hôn của vợ, chồng, hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng và quyền yêu cầu li hôn của cha mẹ, người thân thích.

    Kết hôn và li hôn là quyền nhân thân và là quyền dân sự cơ bản của con người. Pháp luật công nhận cho nam, nữ quyền quyết định việc kết hôn để xác lập quan hệ vợ chồng thì cũng quy định cho vợ, chồng quyền yêu cầu li hôn để chấm dứt quan hệ hôn nhân. Đồng thời, giải quyết li hôn phải dựa vào thực chất của quan hệ vợ chồng mà chính vợ, chồng là người xác định một cách chính xác nhất thực chất mối quan hệ giữa họ. C. Mác đã khẳng định: “Li hôn chỉ là việc xác nhận một sự kiện: Cuộc hôn nhân này là cuộc hôn nhân đã chết, sự tồn tại của nó chỉ là bề ngoài và lừa dối. Đương nhiên, không phải sự tuỳ tiện của nhà lập pháp, cũng không phải sự tuỳ tiện của những cá nhân, mà chỉ bản chất của sự kiện mới quyết định được là cuộc hôn nhân đã chết hoặc chưa chết, bởi vì, như mọi người đều biết, việc xác nhận sự kiện chết tuỳ thuộc vào thực chất của vấn đề, chứ không phải vào nguyện vọng của những bên hữu quan”.

    Như vậy, khi vợ, chồng nhận thức một cách rõ ràng về tình trạng quan hệ hôn nhân của họ đã trầm trọng, về việc họ không thể tiếp tục cuộc sống chung thì họ có quyền yêu cầu toà án giải quyết li hôn. Pháp luật không buộc những người yêu nhau phải kết hôn với nhau thì cũng không buộc những người không còn yêu nhau phải tồn tại quan hệ vợ chồng. Do vậy, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cũng như các luật trước đó đều quy định vợ, chồng có quyền yêu cầu li hôn. Tuy nhiên, nếu quan hệ vợ chồng đã không phản ánh đúng bản chất của nó nhưng vợ chồng vẫn không muốn li hôn thì không ai có quyền buộc họ phải li hôn. Hôn nhân tự nguyện không chỉ thể hiện trong việc kết hôn mà còn thể hiện cả trong việc tồn tại hôn nhân. Thực tế cho thấy, nhiều cặp vợ, chồng nhận thấy cuộc sống chung của họ đã mất ý nghĩa, không những không đem lại hạnh phúc cho mỗi bên mà còn mang lại sự khổ đau nhưng vì con, vì gia đình… mà họ không li hôn. Trong trường hợp này, không ai buộc họ phải li hôn. Vì vậy, quyền yêu cầu li hôn thuộc về vợ, chồng là phù hợp cả về lí luận và thực tế.

    Xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em, từ tính nhân đạo của pháp luật, luật hôn nhân và gia đình của Nhà nước ta quy định hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng trong một số trường hợp. Từ khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời cho đến này, đã có 4 luật về hôn nhân và gia đình được ban hành đó là Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Các luật đều quy định quyền yêu cầu li hôn chỉ thuộc về vợ, chồng. Tuy nhiên, quy định về trường hợp người chồng bị hạn chế quyền yêu cầu li hôn có sự khác nhau:

    Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 và Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định: Trong trường hợp người vợ có thai, chồng chỉ có thể xin li hôn sau khi vợ đã sinh đẻ được một năm. Theo đó, quyền yêu cầu li hôn của người chồng bị hạn chế dựa vào hai yếu tố: 1) Người vợ đang có thai và 2) Người vợ sinh con chưa được một năm. Trong đó yếu tố thứ hai chỉ dựa trên sự kiện sinh của người vợ. Nếu người vợ “có sinh mà không có dưỡng” thì người chồng vẫn bị hạn chế quyền yêu cầu li hôn.

    Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định, khi người vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu li hôn. Như vậy, theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng căn cứ vào hai yếu tố: 1) Người vợ đang có thai và 2) Người vợ đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi. Phân tích yếu tố thứ hai có thể nhận thấy nhà làm luật dường như không chú ý đến sự kiện sinh mà chỉ quan tâm đến việc người vợ đang nuôi con. Như vậy đối với trường hợp “có sinh mà không có dưỡng” thì người chồng vẫn có quyền yêu cầu li hôn. Điều này chưa thực sự phù hợp với nguyên tắc bảo vệ bà mẹ, trẻ em.

    Khắc phục khiếm khuyết đó, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định chồng không có quyền yêu cầu li hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Có thể nhận thấy, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã kế thừa quy định của cả ba luật trước đó về vấn đề hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng. Theo đó, việc xác định quyền yêu cầu li hôn của người chồng dựa vào trạng thái có thai, nuôi con và sự kiện sinh con của người vợ.

    – Về trạng thái có thai của người vợ:

    Việc xác định trạng thái có thai của người vợ dựa trên cơ sở sinh học thông qua quá trình thụ thai và phát triển của trứng để thành thai nhi. Thụ thai là sự thụ tinh và làm tổ của trứng. Thụ tinh là sự kết hợp giữa một giao tử đực là tinh trùng và một giao tử cái là noãn để hình thành một tế bào mới gọi là trứng. Trứng di chuyển vào buồng tử cung để làm tổ. Sau khi làm tổ, trứng phát triển qua hai thời kì:

    • Thời kì thứ nhất bắt đầu từ khi thụ tinh cho đến hết 8 tuần lễ đầu (thời kì sắp xếp tổ chức). Đây là thời kì hình thành bào thai.
    • Thời kì thứ hai từ tháng thứ 3 đến khi đủ tháng (thời kì hoàn chỉnh tổ chức). Đây là thời kì phát triển của thai. Thai nhi đã được hình thành đầy đủ các bộ phận và tiếp tục lớn lên, phát triển và hoàn chỉnh các tổ chức của thai. Như vậy, có thể nói người vợ có thai được tính từ khi trứng hoàn thành quá trình làm tổ trong buồng tử cung cho đến khi thai nhi được sinh ra.

    Hiện nay, do sự phát triển vượt bậc của y học nên con người đã can thiệp vào quá trình thụ tinh. Sự thụ tinh có thể diễn ra trong cơ thể người phụ nữ hoặc có thể diễn ra trong phòng thí nghiệm (gọi là thụ tinh trong ống nghiệm). Tuy nhiên, quá trình phát triển của trứng để thành thai nhi nhất định phải diễn ra trong cơ thể người phụ nữ. Do vậy, đối với các trường hợp thông thường, người vợ có khả năng mang thai thì dù sự thụ tinh diễn ra trong cơ thể của họ hay trong ống nghiệm rồi được cấy vào tử cung của họ (thành công) thì họ đều được xác định là đang có thai. Khi đó, việc xác định chồng của họ không có quyền yêu cầu li hôn là hoàn toàn có cơ sở. Nhưng đối với những trường hợp vì lí do nào đó mà người vợ không thể mang thai nên đã nhờ người khác mang thai hộ (vì mục đích nhân đạo) thì việc xác định hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng của cả bên nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ còn có những ý kiến khác nhau. Về vấn đề này, tác giả có một số ý kiến như sau:

    Đối với bên mang thai hộ: Nếu người vợ đang mang thai hộ thì chồng của họ không có quyền yêu cầu li hôn. Bởi vì, về mặt sinh học rõ ràng người vợ đang mang thai.

    Đối với bên nhờ mang thai hộ: Có ý kiến cho rằng người chồng trong cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ bị hạn chế quyền yêu cầu li hôn ngay cả trong thời gian nhờ mang thai hộ.Tuy nhiên, xét về mặt sinh học của việc mang thai, có thể nhận thấy người chồng trong cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ không bị hạn chế quyền yêu cầu li hôn. Bởi lẽ, trong trường hợp này người vợ trong cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ không “có thai” mà là người phụ nữ mang thai hộ “có thai”.

    – Về việc người vợ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi:

    Việc xác định người vợ đang nuôi con dưới 12 tháng dựa trên sự thực là người vợ đang chăm sóc, trông nom, nuôi dưỡng con dưới 12 tháng. Người con này có thể là con đẻ, có thể là con nuôi (của người vợ hoặc của cả hai vợ chồng). Trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, pháp luật quy định người mang thai hộ, chồng của người mang thai hộ có quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ. Do vậy, nếu người vợ mang thai hộ sau khi sinh mà đang chăm sóc, nuôi dưỡng đứa trẻ thì cũng được coi là người vợ đang nuôi con và người chồng không có quyền yêu cầu li hôn.

    – Về việc người vợ sinh con:

    Sinh con được diễn ra trong quá trình gọi là chuyển dạ, bắt đầu khi tử cung mở, tiếp theo là sổ thai và cuối cùng là sổ rau. Về hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng khi vợ sinh con còn có ý kiến khác nhau. Ý kiến thứ nhất cho rằng người chồng không có quyền yêu cầu li hôn trong thời gian vợ sinh con, có nghĩa là người chồng bị hạn chế quyền yêu cầu li hôn chỉ trong thời gian diễn ra quá trình sinh con. Ý kiến này dựa trên sự phân tích câu chữ trong điều luật cho rằng: Cụm từ “dưới 12 tháng tuổi” không bổ nghĩa cho cụm từ “sinh con” mà chỉ bổ nghĩa cho cụm từ “nuôi con”. Ý kiến thứ hai cho rằng người chồng bị hạn chế quyền yêu cầu li hôn khi vợ sinh con mà tính từ thời điểm sinh là chưa được 12 tháng. Tức là người chồng chỉ có quyền yêu cầu li hôn sau khi vợ sinh con được 12 tháng.

    Căn cứ vào bản chất, ý nghĩa của quy định hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng, cũng như phân tích câu chữ trong điều luật có thể nhận thấy rằng ý kiến thứ hai là phù hợp. Xét trên khía cạnh bảo vệ bà mẹ và trẻ em, nếu người chồng chỉ bị hạn chế quyền yêu cầu li hôn trong quá trình sinh con là không hợp lí. Quá trình sinh con chỉ xảy ra trong một khoảng thời gian. Theo y học thì quá trình này diễn ra trong thời gian tối đa là khoảng 10 giờ.

    Nếu pháp luật hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng chỉ trong thời gian đó thì không có ý nghĩa trong việc bảo vệ bà mẹ, trẻ em. Sự kiện sinh con của người phụ nữ ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ thể chất và tinh thần của họ. Vì vậy, hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng phải được kéo dài trong khoảng thời gian sau khi vợ sinh con. Hơn nữa, quy định này nhằm hạn chế quyền li hôn của người chồng cả trong trường hợp người vợ sinh con mà không được nuôi con (do con chết, do mang thai hộ…). Xét về mặt câu chữ của điều luật thì giữa cụm từ “sinh con” và “nuôi con” có từ “hoặc”, do đó cụm từ “dưới 12 tháng tuổi” bổ nghĩa cho cả cụm từ “sinh con” và “nuôi con”. Như vậy, sự kiện sinh con của người vợ được coi là một trường hợp hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng nhưng không chỉ vào thời điểm người vợ sinh con mà kéo dài cho đến khi được 12 tháng.

    Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, quyền nhân thân luôn gắn với mỗi cá nhân mà không thể chuyển giao cho người khác. Do vậy, về nguyên tắc, quyền yêu cầu li hôn chỉ thuộc về vợ, chồng. Lịch sử lập pháp của Việt Nam chỉ ghi nhận quyền yêu cầu li hôn của vợ, chồng. Pháp luật thời kì Pháp thuộc quy định chỉ có vợ, chồng mới có thể người nọ xin li dị người kia hoặc vợ, chồng cùng xin li dị nhau. Từ khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời (nay là Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) cho đến trước khi ban hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cả ba luật về hôn nhân và gia đình (ban hành năm 1959, năm 1986 và năm 2000) đều chỉ quy định quyền yêu cầu li hôn thuộc về vợ, chồng.

    Tuy nhiên, nếu chỉ công nhận cho vợ, chồng có quyền yêu cầu li hôn thì sẽ không giải quyết được những trường hợp đặc biệt khi một bên vợ hoặc chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình lại bị ngược đãi, hành hạ… Thực tế đã có không ít trường hợp một bên vợ hoặc chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, bên kia không những không quan tâm, chăm sóc theo đúng nghĩa vụ mà còn hành hạ, ngược đãi hoặc có các hành vi khác đe dọa đến sức khoẻ, tính mạng của họ… Đối với trường hợp này, để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bên vợ hoặc chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cha, mẹ, người thân thích khác của một bên vợ, chồng có quyền yêu cầu toà án giải quyết li hôn.

    Đây là quy định có tính ngoại lệ về quyền yêu cầu li hôn. Tuy nhiên, không phải tất cả các trường hợp vợ, chồng bị tâm thần hoặc mắc bệnh khác không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì cha, mẹ, người thân thích đều có quyền yêu cầu li hôn. Chỉ những trường hợp người vợ hoặc chồng đó đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khoẻ, tinh thần của họ thì cha, mẹ, người thân thích khác của vợ, chồng mới có quyền yêu cầu li hôn. Như vậy, có thể nhận thấy rằng cha, mẹ, người thân thích khác của một bên vợ, chồng có quyền yêu cầu toà án giải quyết li hôn khi có đủ ba yếu tố: Một là một bên vợ hoặc chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình; hai là bên vợ hoặc chồng đó là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng hoặc vợ của họ gây ra; ba là tính mạng, sức khoẻ, tinh thần của nạn nhân bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nếu thiếu một trong ba yếu tố đó thì cha, mẹ, người thân thích khác của vợ, chồng không có quyền yêu cầu li hôn.

    Có thể thấy, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cha, mẹ, người thân thích khác của vợ, chồng có quyền yêu cầu li hôn trong trường hợp đặc biệt là xuất phát từ tính nhân đạo và phù hợp với thực tế. Mặc dù vậy, việc áp dụng quy định này trên thực tế có một số khó khăn, vướng mắc sau:

    Thứ nhất, khó khăn trong việc cung cấp chứng cứ

    Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, người khởi kiện phải cung cấp chứng cứ. Như vậy, khi cha, mẹ, người thân thích yêu cầu li hôn thì họ phải đưa ra các chứng cứ sau: 1) Người vợ hoặc chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình; 2) Bên vợ hoặc chồng đó là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng hoặc vợ của họ gây ra; 3) Hành vi bạo lực đó đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khoẻ, tinh thần của họ.

    Về chứng cứ thứ nhất, người khởi kiện phải cung cấp kết luận giám định pháp y tâm thần của hội đồng giám định được thành lập theo quy định của Luật giám định tư pháp. Người khởi kiện không thể cung cấp sổ khám, chữa bệnh hay bệnh án của bên vợ hoặc chồng để làm chứng cứ chứng minh rằng người này bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình. Bởi vì, “kết luận trong giám định pháp y tâm thần không hoàn toàn giống kết luận chẩn đoán bệnh của bệnh viện tâm thần. Kết luận của bệnh viện tâm thần chỉ phục vụ việc chữa bệnh không bao gồm việc đánh giá năng lực chịu trách nhiệm hành vi của đối tượng”. Việc đánh giá năng lực chịu trách nhiệm hành vi của người bệnh tâm thần phải dựa vào 2 tiêu chuẩn: Tiêu chuẩn y học và tiêu chẩn pháp luật. Tiêu chuẩn y học là kết luận chẩn đoán bệnh. Tiêu chuẩn pháp luật là khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Do đó, khi đã có kết luận chuẩn đoán bệnh thì phải đánh giá mức độ nặng nhẹ của bệnh, mức độ nhận thức và làm chủ hành vi. Vì vậy, người khởi kiện phải cung cấp kết luận giám định pháp y tâm thần để chứng minh họ có quyền yêu cầu li hôn. Tuy nhiên, để có được kết luận này, cơ quan giám định phải tuân theo quy trình kĩ thuật chung về giám định pháp y tâm thần và theo quy định của Luật giám định tư pháp năm 2012. Do đó, người khởi kiện phải mất thời gian (đi lại, chờ đợi), công sức, tiền bạc để có được bản kết luận. Đây thực sự là khó khăn đối với người khởi kiện.

    Về chứng cứ thứ hai, bên vợ hoặc chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình phải là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng hoặc vợ của họ gây ra. Có nghĩa là phải có hành vi bạo lực gia đình mà nạn nhân là người vợ hoặc chồng bị tâm thần và người có hành vi bạo lực gia đình là chồng hoặc vợ họ. Việc đưa ra căn cứ để chứng minh có thể bằng nhân chứng hoặc các văn bản xác nhận có hành vi bạo lực gia đình (như biên bản xử lí hành chính đối với người có hành vi bạo lực…).

    Về chứng cứ thứ ba , phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi bạo lực gia đình của một bên vợ hoặc chồng với tình trạng tính mạng, sức khoẻ, tinh thần của nạn nhân bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Về tình trạng tính mạng, sức khoẻ của nạn nhân bị ảnh hưởng nghiêm trọng thì thiết nghĩ phải dựa trên kết luận về giám định pháp y thương tích. Các giám định viên phải kết luận rằng những thương tích của nạn nhân là kết quả của hành vi bạo lực (do chồng hoặc vợ họ) gây ra và vì những thương tích đó mà tính mạng, sức khoẻ của nạn nhân bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

    Như vậy, có thể nhận thấy cha, mẹ, người thân thích khác của một bên vợ, chồng yêu cầu li hôn khi một bên vợ hoặc chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc cung cấp chứng cứ. Do đó, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn rất nhiều trở ngại.

    Thứ hai, thiếu sự tương thích với một số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về quyền khởi kiện

    Theo Điều 161 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 thì cá nhân có quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác (với tư cách là người đại diện). Trong trường hợp này, cha, mẹ, người thân thích khác khởi kiện vụ án li hôn không phải để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính họ mà là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của một bên vợ hoặc chồng. Cha, mẹ, người thân thích khác cũng không phải là người đại diện của một bên vợ hoặc chồng. Bởi vì, nếu một bên vợ hoặc chồng cần được đại diện thì bên kia là chồng hoặc vợ họ đại diện cho họ (với tư cách là người giám hộ). Hơn nữa, người khởi kiện không nhất thiết phải là cha, mẹ, người thân thích khác của bên vợ hoặc chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình. Đồng thời, theo Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 thì cha, mẹ, người thân thích khác của một bên vợ hoặc chồng không thuộc trường hợp có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Như vậy, quy định này thiếu sự tương thích với Điều 161 và Điều 162 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004./.

    Nguồn trích dẫn: TS. Ngô Thị Hường: “Quyền yêu cầu ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014”, Tạp chí Luật học số 12/2015, Hà Nội

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Giành Quyền Nuôi Con Sau Khi Ly Hôn Quy Định Mới 2021
  • Thực Hiện Thủ Tục Giành Quyền Nuôi Con Sau Ly Hôn Như Thế Nào?
  • Giành Quyền Nuôi Con Khi Ly Hôn: Toàn Bộ Hướng Dẫn Chi Tiết
  • Quy Định Của Luật Hôn Nhân Gia Đình Về Quyền Nuôi Con Sau Khi Ly Hôn ?
  • Quyền Nuôi Con Theo Quy Định Của Bộ Luật Hôn Nhân Và Gia Đình
  • Luật Hôn Nhân & Gia Đình

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 1959
  • Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 1959 2/sl
  • Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 1959 Của Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà
  • Tải Luật Hôn Nhân Và Gia Đình Năm 1959
  • Giáo Trình Luật Hôn Nhân Và Gia Đình Việt Nam Pdf
  • HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH (1986)

    Gia đình là tế bào của xã hội. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt.

    Trong gia đình xã hội chủ nghĩa, vợ chống bình đẳng, thương yêu, giúp đỡ nhau tiến bộ, tham gia tích cực vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, cùng nhau nuôi dạy con thành những công dân có ích cho xã hội.

    Kế thừa và phát triển Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, để tiếp tục xây dựng và củng cố gia đình xã hội chủ nghĩa, giữ gìn và phát huy những phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc, xoá bỏ những tục lệ lạc hậu, tập quán tốt đẹp của dân tộc, xoá bỏ những tục lệ lạc hậu, những tàn tích của chế độ hôn nhân và gia đình phòng kiến, chống ảnh hưởng của chế độ hôn nhân và gia đình tư sản ;

    Căn cứ vào Điều 64 và Điều 65 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ;

    Luật này quy định chế độ hôn nhân và gia đình.

    Nhà nước bảo đảm thực sự chế độ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, nhằm xây dựng gia đình dân chủ, hoà thuận, hạnh phúc, bền vững.

    Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc các tôn giáo khác nhau, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo được tôn trọng và bảo vệ.

    Vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện sinh đẻ có kế hoạch.

    Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành những công dân có ích cho xã hội.

    Con có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ.

    Nhà nước và xã hội bảo vệ bà mẹ và trẻ em, giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ.

    Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, yêu sách của cải trong việc cưới hỏi ; cấm cưỡng ép ly hôn.

    Cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác.

    Cấm ngược đãi, hành hạ cha, mẹ, vợ, chồng, con cái.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chế Độ Tài Sản Của Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 1986
  • Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 1986 Thay Thuế Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 1959
  • Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 1986 21
  • Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 1986
  • Luật Hôn Nhân Và Gia Đình Số 22/2000/qh10
  • Luật Hôn Nhân Gia Đình

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Hôn Nhân Gia Đình 2021: Quyền Nuôi Con Khi Ly Hôn
  • Có Được Kiện Vợ Ngoại Tình Hay Không ? Phân Chia Tài Sản Chung Khi Ly Hôn ?
  • Ly Hôn Và Kiện Vợ Ngoại Tình
  • Pháp Luật Quy Định Giành Quyền Nuôi Con Khi Vợ/chồng Ngoại Tình?
  • Bảo Vệ Quyền Lợi Của Chồng Khi Vợ Ngoại Tình
  • Thứ tư – 26/08/2015 10:38

    Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn

    Hiện tượng ly hôn diễn ra ngày càng phổ biến trong xã hội. Và có rất nhiều vấn đề phát sinh xung quanh vấn đề ly hôn, đặc biệt là chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.

    Do vậy, Hãng luật IMC – với những luật sư, chuyên gia tư vấn pháp lý trong đặc biệt quan tâm đến lĩnh vực này.

    Việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn chia làm 2 trường hợp: trường hợp vợ chồng sống riêng với nhau và trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình bên vợ hoặc bên chồng.

    Trường hợp vợ chồng sống riêng với nhau.

    Khi ly hôn, việc chia tài sản chung của vợ chồng do hai bên thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng có thể yêu cầu Tòa án giải quyết.

    Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có xét đến một số yếu tố sau:

    – Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

    – Công sức đóng góp của vợ, chồng

    – Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

    – Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

    Ngoài ra, pháp luật cũng đặc biệt quan tâm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

    Trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình: Trong khối tài sản chung với gia đình

    Nếu đó là khối tài sản có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó. Sau đó được chia như trường hợp vợ chồng sống riêng vơi nhau.

    Nếu khối tài sản đó không thể xác định được thì căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

    Bạn có thắc mắc hoặc cần tư vấn vui lòng liên hệ:

    Hãng luật IMC

    Điện thoại: 036.593.9999

    Địa chỉ: P1809 tòa 27A2 Green Stars, số 234 Phạm Văn Đồng, phường Cổ Nhuế, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội

    Email : [email protected]imc.org.vn

    Website: www.interimc.org.vn

    Hãng luật IMC : Uy tín – Chất lượng – Hiệu quả – Bảo mật

    IMC Nhận bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự trong các vụ án: Dân sự – Kinh tế – Hôn nhân gia đình – Hành chính – Tài chính – Bất động sản – Sở hữu trí tuệ – Lao động – Đầu tư…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xử Lý Như Thế Nào Khi Chồng Có Con Riêng Với Người Khác?
  • Chồng Ngoại Tình Vợ Có Quyền Nuôi Con Khi Ly Hôn Không
  • Đại Diện Giữa Vợ Và Chồng Theo Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 2014
  • Skkn Sử Dụng Một Số Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Dạy Học Quyền “bình Đẳng Trong Hôn Nhân Và Gia Đình” Môn Gdcd 12
  • Gdcd Bài 12: Công Dân Với Tình Yêu Hôn Nhân Và Gia Đình Bai 12 Doc
  • Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 1986 Thay Thuế Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 1959

    --- Bài mới hơn ---

  • Chế Độ Tài Sản Của Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 1986
  • Luật Hôn Nhân & Gia Đình
  • Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 1959
  • Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 1959 2/sl
  • Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 1959 Của Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà
  • Kế thừa và phát triển Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, để tiếp tục xây dựng và củng cố gia đình xã hội chủ nghĩa, giữ gìn và phát huy những phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc, xoá bỏ những tục lệ lạc hậu, những tàn tích của chế độ hôn nhân và gia đình phòng kiến, chống ảnh hưởng của chế độ hôn nhân và gia đình tư sản, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VII đã thông qua Luật hôn nhân và gia đình số 21-LCT/HĐNN7 (Gọi tắt là Luật hôn nhân và gia đình 1986).

    Toàn văn Luật hôn nhân và gia đình 1986 như sau:

    HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

    Gia đình là tế bào của xã hội. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt.

    Trong gia đình xã hội chủ nghĩa, vợ chống bình đẳng, thương yêu, giúp đỡ nhau tiến bộ, tham gia tích cực vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, cùng nhau nuôi dạy con thành những công dân có ích cho xã hội.

    Kế thừa và phát triển Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, để tiếp tục xây dựng và củng cố gia đình xã hội chủ nghĩa, giữ gìn và phát huy những phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc, xoá bỏ những tục lệ lạc hậu, những tàn tích của chế độ hôn nhân và gia đình phòng kiến, chống ảnh hưởng của chế độ hôn nhân và gia đình tư sản ;

    Căn cứ vào Điều 64 và Điều 65 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ;

    Luật này quy định chế độ hôn nhân và gia đình.

    Nhà nước bảo đảm thực sự chế độ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, nhằm xây dựng gia đình dân chủ, hoà thuận, hạnh phúc, bền vững.

    Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc các tôn giáo khác nhau, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo được tôn trọng và bảo vệ.

    Vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện sinh đẻ có kế hoạch.

    Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành những công dân có ích cho xã hội.

    Con có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ.

    Nhà nước và xã hội bảo vệ bà mẹ và trẻ em, giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ.

    Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, yêu sách của cải trong việc cưới hỏi ; cấm cưỡng ép ly hôn.

    Cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác.

    Cấm ngược đãi, hành hạ cha, mẹ, vợ, chồng, con cái.

    Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn.

    Việc kết hôn do nam nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc bên nào, không ai được cưỡng ép hoặc cản trở.

    Cấm kết hôn trong những trường hợp sau đây :

    a) Đang có vợ hoặc có chồng ;

    b) Đang mắc bệnh tâm thần không có khả năng nhận thức hành vi của mình ; đang mắc bệnh hoa liễu ;

    c) Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ ; giữa anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha ; giữa những người khác có họ trong phạm vi ba đời ;

    d) Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi.

    Việc kết hôn do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú của một trong hai người kết hôn công nhận và ghi vào sổ kết hôn theo nghi thức do Nhà nước quy định.

    Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau ở ngoài nước do cơ quan đại diện ngoại giao của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận.

    Mọi nghi thức kết hôn khác đều không có giá trị pháp lý.

    Việc kết hôn vi phạm một trong các Điều 5, 6, 7 của Luật này là trái pháp luật.

    Một hoặc hai bên đã kết hôn trái pháp luật, vợ, chồng hoặc con của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác, Viện kiểm sát nhân dân, Hội liên hiệp phụ nữa Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam có quyền yêu cầu Toà án nhân dân huỷ việc kết hôn trái pháp luật.

    Tài sản của những người mà hôn nhân bị huỷ được giải quyết theo nguyên tắc : tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người ấy ; tài sản chung được chia căn cứ vào công sức đóng góp của mỗi bên ; quyền lợi chính đáng của bên bị lừa dối hoặc bị cưỡng ép kết hôn được bảo vệ.

    Quyền lợi của con được giải quyết như trong trường hợp cha mẹ ly hôn.

    Vợ, chồng có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình.

    Vợ, chồng có nghĩa vụ chung thuỷ với nhau, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau tiến bộ, cùng nhau thực hiện sinh đẻ có kế hoạch.

    Chồng có nghĩa vụ tạo điều kiện cho vợ thực hiện tốt chức năng của người mẹ.

    Vợ, chồng có quyền tự do chọn nghề nghiệp chính đáng, tham gia các công tác chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội.

    Chỗ ở của vợ chồng do vợ chồng lựa chọn, không bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán.

    Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập về nghề nghiệp và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được cho chung.

    Tài sản chung được sử dụng để bảo đảm những nhu cầu chung của gia đình.

    Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung. Việc mua bán, đổi, cho, vay, mượn, và những giao dịch khác có quan hệ đến tài sản mà có giá trị lớn thì phải được sự thoả thuận của vợ, chồng.

    Đối với tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng hoặc được cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thì người có tài sản đó có quyền nhập hoặc không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng.

    Khi một bên chết trước, nếu cần chia tài sản chung của vợ chồng thì chia đôi. Phần tài sản của người chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.

    Vợ, chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau.

    Khi hôn nhân tồn tại, nếu một bên yêu cầu và có lý do chính đáng, thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định ở Điều 42 của Luật này.

    Cha mẹ có nghĩa vụ thương yêu, nuôi dưỡng, giáo dục con, chăm lo việc hoặc tập và sự phát triển lành mạnh của con về thể chất, trí tuệ và đạo đức.

    Cha mẹ không được phân biệt đối xử giữa các con.

    Cha mẹ phải làm gương tốt cho con về mọi mặt, và phối hợp chặt chẽ với nhà trường và các tổ chức xã hội trong việc giáo dục con.

    Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dưỡng con đã thành niên mà không có khả năng lao động để tự nuôi mình.

    Các con có nghĩa vụ và quyền ngang nhau trong gia đình.

    Con có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, lắng nghe những lời khuyên bảo của cha mẹ.

    Con đã thành niên còn ở chung với cha mẹ có quyền lựa chọn nghề nghiệp, tham gia các công tác chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội.

    Con có quyền có tài sản riêng.

    Con từ 16 tuổi trở lên còn ở chung với cha mẹ có nghĩa vụ chăm lo đời sống chung của gia đình, và nếu có thu nhập riêng thì phải đóng góp vào nhu cầu của gia đình.

    Cha mẹ đại diện cho con chưa thành niên trước pháp luật.

    Cha mẹ quản lý tài sản của con chưa thành niên.

    Cha mẹ chịu trách nhiệm bồi thường các thiệt hại do hành vi trái pháp luật của con dưới 16 tuổi gây ra. Trong trường hợp cha mẹ không có khả năng mà con có tài sản riêng thì lấy tài sản của con để bồi thường.

    Con chưa thành niên từ 16 tuổi trở lên chịu trách nhiệm bồi thường bằng tài sản riêng của mình đối với các thiệt hại do hành vi trái pháp luật của mình gây ra. Nếu con không có tài sản riêng thì cha mẹ phải bồi thường.

    Người cha, người mẹ nào bị xử phạt về một trong các tội xâm phạm thân thể, nhân phẩm của con chưa thành niên, ngược đãi nghiêm trọng hoặc hành hạ con chưa thành niên, thì có thể bị Toà án nhân dân quyết định không cho trông giữ, giáo dục con, quản lý tài sản của con hoặc đại diện cho con trong thời hạn từ một năm đến năm năm. Đối với người đã sửa chữa, Toà án nhân dân có thể rút ngắn thời hạn này.

    Người cha, người mẹ nói trên vẫn có nghĩa vụ đóng góp phí tổn nuôi dạy con.

    Ông, bà có nghĩa vụ nuôi dưỡng, giáo dục cháu chưa thành niên trong trường hợp cháu không còn cha mẹ. Cháu đã thành niên có nghĩa vụ nuôi dưỡng ông bà trong trường hợp ông bà không còn con. Anh chị em có nghĩa vụ đùm bọc lẫn nhau trong trường hợp không còn cha mẹ.

    Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ đó là con chung của vợ chồng.

    Trong trường hợp có yêu cầu xác định lại vấn đề này thì phải có chứng cứ khác.

    Người được khai là cha, là mẹ một đứa trẻ có thể xin xác định đứa trẻ đó không phải là con mình.

    Người không được khai là cha, là mẹ một đứa trẻ có thể xin xác định đứa trẻ đó là con của mình.

    Việc cha mẹ nhận con ngoài giá thú do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú của người con công nhận và ghi vào sổ khai sinh.

    Con ngoài giá thú có quyền xin nhận cha, mẹ kể cả trong trường hợp cha. mẹ đã chết.

    Người mẹ, người cha hoặc người đỡ đầu có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ cho người con ngoài giá thú chưa thành niên.

    Viện kiểm sát nhân dân, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ cho người con ngoài giá thú chưa thành niên.

    Con ngoài giá thú được cha, mẹ nhận hoặc được Toà án nhân dân cho nhận cha, mẹ có mọi quyền và nghĩa vụ như con trong giá thú.

    Các tranh chấp về nhận con, nhận cha, mẹ do Toà án nhân dân nơi thường trú của người con xét xử.

    Việc nuôi con nuôi nhằm gắn bó tình cảm giữa người nuôi và con nuôi trong quan hệ cha mẹ và con cái, bảo đảm người con nuôi chưa thành niên được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục tốt.

    Giữa người nuôi và con nuôi có những nghĩa vụ và quyền của cha mẹ và con quy định ở các Điều từ 19 đến 25 của Luật này.

    Người từ 15 tuổi trở xuống mới được nhận làm con nuôi. Trong trường hợp con nuôi là thương binh, người tàn tật hoặc làm con nuôi người già yếu cô đơn thì con nuôi có thể trên 15 tuổi.

    Người nuôi phải hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên.

    Việc nhận nuôi con nuôi phải được sự thoả thuận của hai vợ chồng người nuôi, của cha mẹ đẻ hoặc người đỡ đầu của người con nuôi chưa thành niên. Nếu nhận nuôi người từ 9 tuổi trở lên thì còn phải được sự đồng ý của người đó.

    Việc nhận nuôi con nuôi do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú của người nuôi hoặc con nuôi công nhận và ghi vào sổ hộ tịch.

    Nhà nước và xã hội khuyến khích việc nhận các trẻ em mồ côi làm con nuôi.

    Con liệt sĩ được nhận làm con nuôi vẫn hưởng mọi quyền lợi của con liệt sĩ.

    Việc nuôi con nuôi có thể chấm dứt khi người nuôi hoặc con nuôi hoặc cả hai người có hành vi nghiêm trọng xâm phạm thân thể, nhân phẩm của nhau hoặc những hành vi khác làm cho tình cảm giữa người nuôi và con nuôi không còn nữa.

    Việc chấm dứt nuôi con nuôi do Toà án nhân dân quyết định theo yêu cầu của con nuôi hoặc của người nuôi. Trong trường hợp người con nuôi chưa thành niên thì cha mẹ đẻ hoặc người đỡ đầu của con nuôi, Viện kiểm sát nhân dân, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi.

    Khi vợ hoặc chồng, hoặc cả hai vợ chồng có đơn xin ly hôn thì Toà án nhân dân tiến hành điều tra và hoà giải.

    Trong trường hợp cả hai vợ chồng xin ly hôn, nếu hoà giải không thành và nếu xét đúng là hai bên thật sự tự nguyện ly hôn, thì Toà án nhân dân công nhận cho thuận tình ly hôn.

    Trong trường hợp một bên vợ hoặc chồng xin ly hôn, nếu hoà giải không thành thì Toà án nhân dân xét xử. Nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Toà án nhân dân xử cho ly hôn.

    Trong trường hợp vợ có thai, chồng chỉ có thể xin ly hôn sau khi vợ đã sinh con được một năm.

    Điều hạn chế này không áp dụng đối với việc xin ly hôn của người vợ.

    Khi ly hôn, việc chia tài sản do hai bên thoả thuận, và phải được Toà án nhân dân công nhận. Nếu hai bên không thoả thuận được với nhau thì Toà án nhân dân quyết định.

    a) Tài sản riêng của bên nào thì vẫn thuộc quyền sở hữu của bên ấy;

    b) Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, nhưng có xem xét một cách hợp lý đến tình hình tài sản, tình trạng cụ thể của gia đình và công sức đóng góp của mỗi bên;

    c) Trong trường hợp vợ chồng do còn sống chung với gia đình mà tài sản của bản thân vợ chồng không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình, căn cứ vào công sức của người được chia đóng góp vào việc duy trì và phát triển khối tài sản chung, cũng như vào đời sống chung của gia đình. Lao động trong gia đình được coi như lao động sản xuất;

    d) Khi chia tài sản, phải bảo vệ quyền lợi của người vợ và của người con chưa thành niên, bảo vệ lợi ích chính đáng của sản xuất và nghề nghiệp.

    Khi ly hôn, nếu bên túng thiếu yêu cầu cấp dưỡng thì bên kia phải cấp dưỡng theo khả năng của mình.

    Khoản cấp dưỡng và thời gian cấp dưỡng do hai bên thoả thuận. Nếu hai bên không thoả thuận được với nhau thì Toà án nhân dân quyết định.

    Khi hoàn cảnh thay đổi, người được cấp dưỡng hoặc người phải cấp dưỡng có thể yêu cầu sửa đổi mức hoặc thời gian cấp dưỡng. Nếu người cấp dưỡng kết hôn với người khác thì không được cấp dưỡng nữa.

    Vợ chồng đã ly hôn vẫn có mọi nghĩa vụ và quyền đối với con chung.

    Khi ly hôn, việc giao con chưa thành niên cho ai trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Về nguyên tắc, con còn bú được giao cho người mẹ nuôi giữ.

    Người không nuôi giữ con có nghĩa vụ và quyền thăm nom, chăm sóc con và phải đóng góp phí tổn nuôi dưỡng, giáo dục con. Nếu trì hoãn hoặc lẩn tránh việc đóng góp, thì Toà án nhân dân quyết định khấu trừ vào thu nhập hoặc buộc phải nộp những khoản phí tổn đó.

    Vì lợi ích của con, khi cần thiết, có thể thay đổi việc nuôi giữ con hoặc mức đóng góp phí tổn nuôi dưỡng, giáo dục con.

    Việc đỡ đầu được thực hiện trong trường hợp cần bảo đảm việc chăm nom, giáo dục và bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên mà cha mẹ đã chết, hoặc tuy cha mẹ còn sống nhưng không có điều kiện để làm những nhiệm vụ đó.

    Cha mẹ có thể cử người đỡ đầu cho con chưa thành niên. Nếu cha mẹ không cử được thì những người thân thích có thể cử người đỡ đầu cho người đó. Việc cử người đỡ đầu do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn công nhận.

    Trong trường hợp cha mẹ hoặc những người thân thích không cử được người đỡ đầu thì cơ quan Nhà nước có chức năng hoặc tổ chức xã hội đảm nhiệm việc đỡ đầu người con chưa thành niên.

    Công dân làm người đỡ đầu phải là người từ 21 tuổi trở lên, có tư cách đạo đức tốt và có điều kiện thực tế để làm người đỡ đầu.

    Công dân hoặc tổ chức làm người đỡ đầu có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây :

    a) Chăm sóc, giáo dục người được đỡ đầu;

    b) Quản lý tài sản của người được đỡ đầu;

    c) Đại diện cho người được đỡ đầu trước pháp luật và bảo vệ quyền lợi của người đó.

    Công dân làm người đỡ đầu chịu sự giám sát của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn về công việc đỡ đầu.

    Người thân thích của người được đỡ đầu, Viện kiểm sát nhân dân,

    Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam có quyền yêu cầu Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn thay người đỡ đầu, nếu người này không làm tròn nhiệm vụ, gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền lợi của người đỡ đầu.

    Công dân làm người đỡ đầu có thể yêu cầu cử người thay, nếu thấy mình không còn đủ điều kiện làm người đỡ đầu.

    Việc đỡ đầu chấm dứt khi người chưa thành niên được giao lại cho cha mẹ, được nhận làm con nuôi, hoặc đủ 18 tuổi.

    QUAN HỆ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA CÔNG DÂN VIỆTNAM VỚI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI

    Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên tuân theo những quy định của pháp luật nước mình về kết hôn.

    Nếu việc kết hôn giữa công dân ViệtNam với người nước ngoài tiến hành ở ViệtNam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định ở Điều 5, Điều 6, Điều 7 của Luật này. Thủ tục kết hôn do Hội đồng bộ trưởng quy định.

    Những vấn đề về quan hệ vợ chồng, quan hệ tài sản, quan hệ cha mẹ và con, huỷ việc kết hôn, ly hôn, nuôi con nuôi và đỡ đầu giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài do Hội đồng Nhà nước quy định.

    Trong trường hợp đã có hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về hôn nhân và gia đình giữa Việt Nam và nước ngoài, thì tuân theo những quy định của các hiệp định đó.

    Đối với dân tộc thiểu số, Hội đồng Nhà nước căn cứ Luật này và tình hình cụ thể mà có những quy định thích hợp.

    Hội đồng bộ trưởng, Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trong phạm vi chức năng của mình, có trách nhiệm hướng dẫn thi hành Luật này.

    Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam giáo dục, vận động nhân dân thi hành nghiêm chỉnh Luật này.

    Luật này thay thế Luật hôn nhân và gia đình năm 1959.

    Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VII, kỳ họp thứ 12, thông qua ngày 29 tháng 12 năm 1986.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 1986 21
  • Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 1986
  • Luật Hôn Nhân Và Gia Đình Số 22/2000/qh10
  • Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 2000 Thay Thế Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 1987
  • So Sánh Luật Hôn Nhân Và Gia Đình Năm 2000
  • Gdcd Bài 12: Công Dân Với Tình Yêu Hôn Nhân Và Gia Đình Bai 12 Doc

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Sử Dụng Một Số Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Dạy Học Quyền “bình Đẳng Trong Hôn Nhân Và Gia Đình” Môn Gdcd 12
  • Đại Diện Giữa Vợ Và Chồng Theo Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 2014
  • Chồng Ngoại Tình Vợ Có Quyền Nuôi Con Khi Ly Hôn Không
  • Xử Lý Như Thế Nào Khi Chồng Có Con Riêng Với Người Khác?
  • Luật Hôn Nhân Gia Đình
  • GV sử dụng phương pháp đàm thoại giúp HS tìm hiểu “hôn nhân”.

    a. Hôn nhân là gì ?

    -GV nêu câu hỏi:

    * Em hiểu hôn nhân là gì?

    Hôn nhân thể hiện nghĩa vụ, quyền lợi và quyền hạn của vợ chồng với nhau, được pháp luật công nhận và pháp luật bảo vệ.

    * Em hãy cho biết ở nước ta pháp luật quy đinh độ tuổi kết hôn là bao nhiêu?

    + Nữ: từ 18 tuổi trở lên ( từ ngày hôm sau của sinh nhật lần thứ 17).

    Sauk hi đăng kí kết hôn, họ thường tổ chức đám cưới.

    Một cô gái có hoàn cảnh gia đình khó khăn về kinh tế nhưng khi lấy chồng lại muốn cha mẹ phải tổ chức đám cưới linh đinh để “nở mày, nở mặt” với mọi người, nhất là với bạn bè.

    * GV hỏi: Em có tán đồng với quan điểm của cô gái nay? Tại sao lại tán đồng hoặc không tán đồng?.

    – Không nên tán đồng với ý kiến đó.

    – Vì như thế sẽ gây tốn kém tiền của, thời gian và sức khỏe,…cũng có thể để lại hậu quả cuộc sống gia đình sau này không hạnh phúc vì nợ nầng lúc đám cưới.

    b. Chế độ hôn nhân ở nước ta hiện nay:

    * GV hỏi: Theo em để hôn nhân hạnh phúc thì cần có các yếu tố nào?

    – Chế độ hôn nhân ở nước ta hiện nay là chế độ hôn nhân mới, tốt đẹp với 2 nội dung:

    + Hôn nhân phải tự nguyện và tiến bộ : d ựa trên tình yêu chân chính (khác với các chế độ trước đây, hôn n hân thường dựa trên lợi ích kinh tế, lợi ích giai cấp,… Chẳng hạn, thời phong kiến: “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, ” Nam nữ thọ thọ bất thân”, ” Môn đăng hộ đối”…)

    T ự nguyện tro n g hôn nhân đươc thể hiện qua việc cá n hân được tự do kết hôn theo qui định của pháp luật, nhưng cần sự tư vấn tích cực của người thân.

    Hôn nhân tiến bộ là hôn nhân được bảo đảm về mặt pháp lý, phải đăng ký kết hôn. Điều này thể hiện sự tôn trọng nhau, tinh thần trách nhiệm trước xã hội có ý thức chăm lo, bảo vệ cuộc sống hạnh phúc gia đình.

    GV sử dụng phương pháp đàm thoại giúp HS tìm hiểu khái niệm, chức năng gia đình, các mối quan hệ gia đình và trách nhiệm của các thành viên:

    Hôn nhân sẽ tạo ra cuộc sống gia đình.

    – Gia đình em gồm có những ai? Các thành viên trong gia đình có tình cảm với nhau như thế nào?

    – Dựa vào gia đình mình và các gia đình khác, em hãy cho biết gia đình là gì?

    Gia đình là một cộng đồng người chung sống và gắn bó với nhau bởi hai mối quan hệ cơ bản là quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống.

    b. Chức năng của gia đình:

    * GV nêu câu hỏi:

    Dựa vào cuộc sống của gia đình mình, em hãy cho biết gia đình có những chức năng gì?

    – Những chức năng của gia đình:

    + Duy trì nòi giống.

    + Hoạt động kinh tế.

    + Tổ chức đời sống gia đình.

    + Nuôi dưỡng, giáo dục con cái.

    – Gia đình em có tổ chức sản xuất, kinh doanh hoặc hoạt động dịch vụ gì không? Viêc đó giúp gì cho gia đình em?

    – Để góp phần xây dựng gia đình yên vui, hạnh phúc, em có thể làm được gì?

    VD: Em có thể đi làm thêm.

    – Có người cho rằng, việc giáo dục trẻ em là việc của nhà trường, em nhận xét gì về ý kiến trên?

    c. Mối quan hệ gia đình và trách nhiệm của các thành viên :

    – GV nêu câu hỏi: Em hãy cho biết gia đình thường có những mối quan hệ nào?

    +Quan hệ giữa vợ và chồng.

    + Quan hê giữa cha mẹ và con cái.

    + Quan hệ giữa ông bà và các cháu.

    + Quan hệ giữa anh, chị, em.

    – GV h ỏi: Em hãy cho biết quan hệ giữa vợ và chồng được xây dựng dựa trên cơ sở nào? Vợ, chồng phải có trách nhiệm với nhau như thế nào?

    Quan hệ giữa vợ chồng được hình thành trên cơ sở tình yêu và được pháp luật công nhận. Vợ chồng phải có trách nhiệm chung thủy, yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau cùng xây dựng gia đình hạnh phúc.

    – GV hỏi: Theo em, cha mẹ phải có trách nhiệm như thế nào đối với con cái và ngược lại.

    VD: Cha mẹ không được ngược đãi, hành hạ con cái,…

    + Con cái phải có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo với cha mẹ, biết vâng lời khuyên bảo đúng đắn của cha mẹ, biết giữ gìn danh dự và truyền thống tốt đẹp của gia đình. Đối với cha mẹ già, phải có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc chu đáo,…

    VD: Con cái không được cãi lời cha mẹ, ngược đãi cha mẹ,…

    – GV h ỏi: Theo em, ông bà cần có trách nhiệm như thế nào đối với các cháu và ngược lại?

    Ông bà có trách nhiệm yêu thương, quan tâm, chăm sóc các cháu, sống mẫu mực làm gương cho con cháu.

    Các cháu có bổn phận yêu thương, kính trọng, hiếu thảo, phụng dưỡng ông bà.

    – GV hỏi: Anh, chị, em trong gia đình cần có trách nhiệm như thế nào đối với nhau?

    * GV giảng lại:

    Các thành viên trong gia đình cần yêu thương, tôn trọng, đùm bọc nhau và làm tròn trách nhiệm của mình trong gia đình, làm cho gia đình thật sự trở thành một tổ ấm hạnh phúc.

    -GV: Trong các mối quan hệ gia đình, mối quan hệ nào là quan trọng nhất? Vì sao?

    **GV kết lại toàn bài:

    Tình yêu chân chính sẽ dẫn đến hôn nhân. Hôn nhân sẽ tạo ra cuộc sống gia đình. Một gia đình hạnh phúc sẽ mang lại những điều tốt đẹp cho mỗi thành viên trong gia đình và là tế bào lành mạnh của xã hội .

    a. Hôn nhân là gì?

    Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn đúng với qui định của pháp luật.

    b. Chế độ hôn nhân ở nước ta hiện nay:

    – Chế độ hôn nhân ở nước ta hiện nay là chế độ hôn nhân mới, tốt đẹp với 2 nội dung:

    + Hôn nhân phải tự nguyện và tiến bộ.

    Hôn nhân tiến bộ là hôn nhân được bảo đảm về mặt pháp lý, tức là phải đăng ký kết hôn.

    Hôn nhân tự nguyện và tiến bộ còn thể hi ện ở việc bảo đảm quyền tự do li hôn .

    + Hôn nhân một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.

    Hôn nhân dựa trên tình yêu chân chính là hôn nhân một vợ một chồng. Bởi vì tình yêu là không chia sẽ được.

    3. Gia đình, chức năng của gia đình, các mối quan hệ gia đình và trách nhiệm của các thành viên.

    a. Gia đình là gì?

    Gia đình là một cộng đồng người chung sống và gắn bó với nhau bởi hai mối quan hệ cơ bản là quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống.

    b. Chức năng của gia đình:

    – Những chức năng của gia đình:

    + Duy trì nòi giống.

    + Hoạt động kinh tế.

    + Tổ chức đời sống gia đình.

    + Nuôi dưỡng, giáo dục con cái.

    c. Mối quan hệ gia đình và trách nhiệm của các thành viên:

    – Quan hê giữa cha mẹ và con cái.

    – Quan hệ giữa ông bà và các cháu.

    – Quan hệ giữa anh, chị, em.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lý Thuyết, Trắc Nghiệm Gdcd 10 Bài 12: Công Dân Với Tình Yêu, Hôn Nhân Và Gia Đình
  • Giải Sách Bài Tập Giáo Dục Công Dân 9
  • Giải Gdcd 9 Bài 12: Quyền Và Nghĩa Vụ Của Công Dân Trong Hôn Nhân
  • Bài 12: Quyền Và Nghĩa Vụ Của Công Dân Trong Hôn Nhân
  • Giải Bài Tập Giáo Dục Công Dân 9
  • Luật Hôn Nhân Gia Đình 2014

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Luật Hôn Nhân Gia Đình Khi Ly Hôn
  • Tìm Hiểu Về Luật Hôn Nhân Và Gia Đình Khi Ly Hôn
  • Chia Quyền Sử Dụng Đất Theo Luật Hôn Nhân Và Gia Đình Khi Ly Hôn Như Thế Nào?
  • Điều Kiện Kết Hôn Trong Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 2014
  • Kết Hôn Trong Phạm Vi 3 Đời Có Vi Phạm Pháp Luật Không?
  • Luật Hôn Nhân Gia Đình 2014, Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 2014, Văn Bản Hướng Dẫn Luật Hôn Nhân Gia Đình 2014, Hướng Dẫn Thi Hành Luật Hôn Nhân Gia Đình 2014, Văn Bản Hướng Dẫn Thi Hành Luật Hôn Nhân Gia Đình 2014, Điều Kiện Kết Hôn Theo Luật Hôn Nhân Gia Đình 2014, Điều Kiện Kết Hôn Trong Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 2014, Tiểu Luận Điều Kiện Kết Hôn Theo Luật Hôn Nhân Gia Đình 2014, Luận Văn Về Điều Kiện Kết Hôn Trong Pháp Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 2014, Quyết Định Số 51/2014/qĐ-ubnd Ngày 31 Tháng 12 Năm 2014 Của ủy Ban Nhân Dân Thành Phố, Nội Dung Luật Công An Nhân Dân Sửa Đổi Năm 2014, Nội Dung Luật Công An Nhân Dân Sửa Đổi 2014, Nghị Định Hướng Dẫn Luật Xây Dựng 2014, Nghị Định Hướng Dẫn Luật Doanh Nghiệp 2014, Quyết Định Số 178/qĐ-ubnd Ngày 14/01/2014 Của ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hải Phòng, Thông Tư, 104/2014/tt-bqp. 13/8/2014. Quy Định Về Chế Độ, Định Mức, Tiêu Chuẩn Đời Sống Văn Hóa, Tin, Thông Tư, 104/2014/tt-bqp. 13/8/2014. Quy Định Về Chế Độ, Định Mức, Tiêu Chuẩn Đời Sống Văn Hóa, Tin, Thông Tư, 104/2014/tt-bqp. 13/8/2014. Quy Định Về Chế Độ, Định Mức, Tiêu Chuẩn Đời Sống Văn Hóa, Tin, Luật Hải Quan Số 54/2014/qh13 Ngày 23/6/2014, Nghị Định Số 63/2014/nĐ-cp Ngày 26 Tháng 6 Năm 2014, Quyết Định Số 31/2014/qĐ-ttg Ngày 5/5/2014, Don To Cao Ve Luat Hon Nhan Gia Dinh, Bộ Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Luật Hôn Nhân Gia Dình, Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Nhận Định Môn Luật So Sánh, Điều 92 Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Báo Cáo Thực Tập Luật Hôn Nhân Gia Đình, Điều Luật Hôn Nhân Gia Đình, Chương X Luật Hôn Nhân Gia Đình, Điều 9 Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Quyết Định Kỷ Luật Của ủy Ban Nhân Dân, Điều 85 Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Luật Hôn Nhân Gia Đình 2000, Mẫu Đơn Tố Cáo Vi Phạm Luật Hôn Nhân Gia Đình, Định Luật 1 Niu Tơn Xác Nhận Rằng, Nội Dung Luật Hôn Nhân Gia Đình Sửa Đổi, Điều 2 Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Điều 8 Luật Hôn Nhân Gia Đình, Tìm Hiểu Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Quyết Định Kỷ Luật Nhân Sự, Điều 95 Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Dự Thảo Luật Hôn Nhân Gia Đình, Bài Giảng Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Điều 95 Luật Hôn Nhân Gia Đình, Văn Bản Pháp Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Trình Bày Nội Dung Các Quy Định Của Luật Doanh Nghiệp 2014 Về Các Loại Hình Doanh Nghiệp, Tiểu Luận Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Văn Bản Quyết Định Kỷ Luật Nhân Viên, Quyết Định Xử Lý Kỷ Luật Nhân Viên, Khoản 2 Điều 02 Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Mẫu Quyết Định Kỷ Luật Quân Nhân, Tiểu Luận Về Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Hướng Dẫn Thi Hành Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Hướng Dẫn Thi Hành Luật Hôn Nhân Gia Đình, Quyết Định Kỷ Luật Nhân Viên, Bài Tiểu Luận Về Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Định Luật 1 Newton Xác Nhận Rằng, 5 Định Luật Hôn Nhân Công Giáo, Điều 95 Luật Hôn Nhân Gia Đình Năm 2000, Định Luật I Niutơn Xác Nhận Rằng, Điều Kiện Kết Hôn Trong Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, 4 Định Luật Bảo Toàn Trong Phản ứng Hạt Nhân, Nghị Định 70 Hướng Dẫn Thi Hành Luật Hôn Nhân, Quyết Định Kỷ Luật Nhân Viên Công Ty, Quyết Định Số 04 Của Btbqp Về Xu Ly Kỳ Luật Quản Nhan, Mẫu Quyết Định Kỷ Luật Sa Thải Nhân Viên, Hướng Dẫn Thực Hiện Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Quyết Định Kỷ Luật Sa Thải Nhân Viên, Tài Liệu Tham Khảo Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Quy Định Về Trình Bày Khóa Luận Tốt Nghiệp Cử Nhân Luật, Mẫu Quyết Định Kỷ Luật Khiển Trách Nhân Viên, Nhận Định Nào Sau Đây Thể Hiện Được Đặc Trưng Của Pháp Luật, Nhận Định Nào Sau Đây Mô Tả Chính Xác Nhất Quy Luật Hiệu Suất Giảm Dần, Định Luật Nào Sau Đây Không áp Dụng Được Trong Phản ứng Hạt Nhân, Hãy Phân Tích Và Chứng Minh Nhận Định Dân Chủ Và Kỉ Luật Là Sức Mạnh Của M, Nghị Định Hướng Dẫn Thực Hiện Luật Công An Nhân Dân, Thực Tế Hoạt Động Của ủy Ban Nhân Dân Theo Qui Định Của Pháp Luật Hiện Hành, Luật 2014, Luật 70/2014, Luat Ph San 2014, Mục Lục Luật Phá Sản 2014, Bộ Luật Phá Sản 2014, Luật 69/2014, Mục Lục Luật Đầu Tư 2014, Luật 68/2014, Luật Đầu Tư 2014, Luật Dn 2014, Luật Nhà ơ 2014, Luật 58/2014, Luật 71/2014/qh1, Luật 50/2014, Thông Tư 104/2014/tt-bqp Của Bộ Quốc Phòng Quy Định Về Chế Độ, Định Mức, Tiêu Chuẩn Đời Sống Văn Hóa, Cứ Quy Định Số 228-qĐ/tw, Ngày 07/02/2014 Của Ban Bí Thư Trung ương Đảng (khóa Xi), Quy Định Về Nhiệ, Thông Tư 104/2014/tt-bqp Của Bộ Quốc Phòng Quy Định Về Chế Độ, Định Mức, Tiêu Chuẩn Đời Sống Văn Hóa, Quy Định Số 228-qĐ/tw, Ngày 07/02/2014 Của Ban Bí Thư Trung ương Đảng (khóa Xi), Quy Định Về Nhiệm V, Thông Tư 104/2014/tt-bqp Của Bộ Quốc Phòng Quy Định Về Chế Độ, Định Mức, Tiêu Chuẩn Đời Sống Văn Hóa, Thông Tư 104/2014/tt-bqp Của Bộ Quốc Phòng Quy Định Về Chế Độ, Định Mức, Tiêu Chuẩn Đời Sống Văn Hóa, Cứ Quy Định Số 228-qĐ/tw, Ngày 07/02/2014 Của Ban Bí Thư Trung ương Đảng (khóa Xi), Quy Định Về Nhiệ, Quy Định Số 228-qĐ/tw, Ngày 07/02/2014 Của Ban Bí Thư Trung ương Đảng (khóa Xi), Quy Định Về Nhiệm V,

    Luật Hôn Nhân Gia Đình 2014, Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 2014, Văn Bản Hướng Dẫn Luật Hôn Nhân Gia Đình 2014, Hướng Dẫn Thi Hành Luật Hôn Nhân Gia Đình 2014, Văn Bản Hướng Dẫn Thi Hành Luật Hôn Nhân Gia Đình 2014, Điều Kiện Kết Hôn Theo Luật Hôn Nhân Gia Đình 2014, Điều Kiện Kết Hôn Trong Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 2014, Tiểu Luận Điều Kiện Kết Hôn Theo Luật Hôn Nhân Gia Đình 2014, Luận Văn Về Điều Kiện Kết Hôn Trong Pháp Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 2014, Quyết Định Số 51/2014/qĐ-ubnd Ngày 31 Tháng 12 Năm 2014 Của ủy Ban Nhân Dân Thành Phố, Nội Dung Luật Công An Nhân Dân Sửa Đổi Năm 2014, Nội Dung Luật Công An Nhân Dân Sửa Đổi 2014, Nghị Định Hướng Dẫn Luật Xây Dựng 2014, Nghị Định Hướng Dẫn Luật Doanh Nghiệp 2014, Quyết Định Số 178/qĐ-ubnd Ngày 14/01/2014 Của ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hải Phòng, Thông Tư, 104/2014/tt-bqp. 13/8/2014. Quy Định Về Chế Độ, Định Mức, Tiêu Chuẩn Đời Sống Văn Hóa, Tin, Thông Tư, 104/2014/tt-bqp. 13/8/2014. Quy Định Về Chế Độ, Định Mức, Tiêu Chuẩn Đời Sống Văn Hóa, Tin, Thông Tư, 104/2014/tt-bqp. 13/8/2014. Quy Định Về Chế Độ, Định Mức, Tiêu Chuẩn Đời Sống Văn Hóa, Tin, Luật Hải Quan Số 54/2014/qh13 Ngày 23/6/2014, Nghị Định Số 63/2014/nĐ-cp Ngày 26 Tháng 6 Năm 2014, Quyết Định Số 31/2014/qĐ-ttg Ngày 5/5/2014, Don To Cao Ve Luat Hon Nhan Gia Dinh, Bộ Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Luật Hôn Nhân Gia Dình, Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Nhận Định Môn Luật So Sánh, Điều 92 Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Báo Cáo Thực Tập Luật Hôn Nhân Gia Đình, Điều Luật Hôn Nhân Gia Đình, Chương X Luật Hôn Nhân Gia Đình, Điều 9 Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Quyết Định Kỷ Luật Của ủy Ban Nhân Dân, Điều 85 Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Luật Hôn Nhân Gia Đình 2000, Mẫu Đơn Tố Cáo Vi Phạm Luật Hôn Nhân Gia Đình, Định Luật 1 Niu Tơn Xác Nhận Rằng, Nội Dung Luật Hôn Nhân Gia Đình Sửa Đổi, Điều 2 Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Điều 8 Luật Hôn Nhân Gia Đình, Tìm Hiểu Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Quyết Định Kỷ Luật Nhân Sự, Điều 95 Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Dự Thảo Luật Hôn Nhân Gia Đình, Bài Giảng Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Điều 95 Luật Hôn Nhân Gia Đình, Văn Bản Pháp Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Trình Bày Nội Dung Các Quy Định Của Luật Doanh Nghiệp 2014 Về Các Loại Hình Doanh Nghiệp, Tiểu Luận Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Văn Bản Quyết Định Kỷ Luật Nhân Viên, Quyết Định Xử Lý Kỷ Luật Nhân Viên,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Căn Cứ Ly Hôn Theo Quy Định Của Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 2014
  • Tư Vấn Về Vấn Đề Ly Thân Và Ly Hôn Trong Luật Hôn Nhân Gia Đình ?
  • Quyền Yêu Cầu Ly Hôn Theo Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 2014
  • Hướng Dẫn Giành Quyền Nuôi Con Sau Khi Ly Hôn Quy Định Mới 2021
  • Thực Hiện Thủ Tục Giành Quyền Nuôi Con Sau Ly Hôn Như Thế Nào?
  • Gia Đình Trong Luật Hôn Nhân Gia Đình Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Có Thể Khởi Kiện Hành Vi Ngoại Tình Hay Không?
  • Những Điểm Mới Của Luật Hôn Nhân Và Gia Đình Năm 2014 Về Chế Định Quyền Nuôi Con Trong Ly Hôn
  • Quyền Nuôi Con Trên 3 Tuổi Khi Ly Hôn
  • Quy Định Mới Về Tài Sản Chung, Tài Sản Riêng Của Vợ Chồng
  • Tài Sản Chung, Tài Sản Riêng Của Vợ, Chồng Trong Thời Kỳ Hôn Nhân
  • Đây là công trình nghiên cứu về gia đình một cách có hệ thống và hoàn chỉnh, có sự so sánh đối chiếu với một số ngành khoa học khác, có sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn để đưa ra được sự điều chỉnh của pháp luật về gia đình một cách phù hợp nhất. Công trình là cái nhìn xuyên suốt các quy phạm pháp luật quy định về thành viên gia đình trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

      Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

    Mục đích của đề tài là nghiên cứu vấn đề lý luận chung về gia đình, cơ sở để phát sinh, hình thành gia đình, mối quan hệ, quyền và nghĩa vụ của các thành viên gia đình theo quy định của pháp luật. Đồng thời nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa các thành viên gia đình, từ đó làm rõ những điểm đã đạt được, vướng mắc hạn chế cần hoàn thiện

    Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận gia đình từ nhiều góc độ khác nhau, đặc biệt là từ góc độ luật HN&GĐ . Nghiên cứu về các mối quan hệ tạo thành gia đình theo luật HNGĐ Việt Nam năm 2014, trên cơ sở phân tích, so sánh với các quy định điều chỉnh quan hệ gia đình trong các văn bản pháp luật trước đây. Đồng thời nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định điều chỉnh về gia đình trong cuộc sống hiện tại.

    Luận văn nghiên cứu về những vấn đề lý luận về gia đình theo quan điểm luật học mà chủ yếu là luật HNGĐ. Những quy định của pháp luật điều chỉnh về gia đình và các mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình. Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về gia đình

    Trong phạm vi của luận văn, vấn đề gia đình được xem xét, nghiên cứu theo Luật HN&GĐ năm 2014 theo 3 mối quan hệ cơ bản tạo thành gia đình là quan hệ giữa vợ và chồng, quan hệ giữa cha mẹ và con và quan hệ giữa các thành viên khác trong gia đình. Trong quá trình nghiên cứu có sự so sánh, đối chiếu với các quy định điều chỉnh về gia đình trong hệ thống pháp luật HNGĐ Việt Nam. Trên cơ sở đó đánh giá về hiệu quả điều chỉnh, việc áp dụng các quy định hiện hành về gia đình để phát hiện những điểm vướng mắc, bất cập và đưa ra các đề xuất, kiến nghị .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Thủ Tục Ly Hôn Đối Với Người Nước Ngoài Thực Hiện Như Thế Nào Thì Đúng Luật ?
  • Những Tranh Chấp Thường Gặp Khi Hai Vợ Chồng Tiến Hành Thủ Tục Ly Hôn Hiện Nay Là Gì ?
  • Luật Phòng, Chống Bạo Lực Gia Đình 2007
  • Toàn Văn Điểm Mới Luật Hôn Nhân & Gia Đình 2014
  • Xác Định Tài Sản Chung, Tài Sản Riêng Của Vợ Chồng
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50