Dịch Vụ Thương Mại Là Gì? Đặc Trưng Của Dịch Vụ Thương Mại

--- Bài mới hơn ---

  • Dịch Tài Liệu Tiếng Anh
  • Dịch Tiếng Anh Chuyên Ngành Luật
  • Từ Vựng Tiếng Anh Chuyên Ngành Luật Thương Mại Trong Hợp Đồng Quốc Tế (Phần 2)
  • Giáo Trình Luật Thương Mại Quốc Tế Pdf
  • Giáo Trình Luật Thương Mại Quốc Tế (Song Ngữ Anh
  • Dịch vụ thương mại là các dịch vụ gắn liền với quá trình giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa, nhận thanh toán của bên bán và nghĩa vụ thanh toán, nhận hàng và quyền sở hữu theo thỏa thuận của bên mua.

    1. Dịch vụ thương mại là gì

    Nếu như tìm hiểu khái niệm “dịch vụ thương mại” theo hướng bóc tách và kết hợp việc tìm hiểu khái niệm “thương mại” và “dịch vụ” ta có thể thấy như sau: Về khái niệm thương mại: Theo quy định của Luật mẫu về trọng tài thương mại quốc tế (được UNCITRAL – Uỷ ban Liên hợp quốc tế Luật thương mại quốc tế thông qua ngày 21/6/1985), những quan hệ có bản chất thương mại bao gồm, nhưng không giới hạn ở: giao dịch thương mại về cung cấp hoặc trao đổi hàng hoá, dịch vụ; hợp đồng phân phối; đại diện hoặc đại lí thương mại; sản xuất; cho thuê; xây dựng công trình; tư vấn; thiết kế kĩ thuật; li – xăng; đầu tư, cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; hợp đồng khai thác hoặc đặc nhượng; liên doanh và các hình thức hợp tác công nghiệp hoặc hợp tác thương mại; vận chuyển hàng hóa hoặc hành khách bằng đường không, đường biển, đường sắt hoặc đường bộ. Có thể thấy khái niệm thương mại có phạm vi rộng, bao gồm rất nhiều các hoạt động khác nhau.

    Khái niệm dịch vụ: là một loại sản phẩm kinh tế biểu hiện dưới dạng công việc của con người dưới hình thái lao động thể lực, kiến thức và kỹ năng chuyên nghiệp, kỹ năng tổ chức và thương mại. Nói cách khác, dịch vụ là hoạt động của con người, được kết tinh thành các loại sản phẩm vô hình và không cầm nắm được. Nếu hiểu theo nghĩa hẹp hơn trong tình huống này thì dịch vụ là những hoạt động hỗ trợ cho quá trình kinh doanh, bao gồm các hỗ trợ trước, trong và sau khi bán, là phần mềm của sản phẩm được cung ứng cho khách hàng.

    Vậy, Dịch vụ thương mại là gì ?

    Có thể khái quát khái niệm dịch vụ thương mại là các giao dịch thương mại, bao gồm các hoạt động hỗ trợ cho quá trình kinh doanh và sản phẩm của nó được kết tinh lại là sản phẩm vô hình, không cầm nắm được.

    Tuy nhiên, nếu hiểu khái niệm “dịch vụ thương mại” trong mối quan hệ với các hoạt động thương mại thì “dịch vụ thương mại là các dịch vụ gắn liền với mua bán hàng hóa”.

    Có thể nói đây là các hiểu khá phổ biến trong pháp luật các nước hiện nay. Ta biết rằng: Mua bán hàng hoá: được định nghĩa tại khoản 3 Điều 8 Luật Thương Mại 2005 (LTM) là: “hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thoả thuận”.

    Theo đó, dịch vụ thương mại là các dịch vụ gắn liền với quá trình giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa, nhận thanh toán của bên bán và nghĩa vụ thanh toán, nhận hàng và quyền sở hữu theo thỏa thuận của bên mua.

    Dịch vụ thương mại là gì

    2. Đặc trưng của dịch vụ thương mại là gì

    Dịch vụ thương mại là một khía cạnh trong thương mại hàng hóa, vì vậy nó mang đầy đủ những nét đặc trưng của thương mại hàng hóa. Dịch vụ thương mại cũng như các giao dịch thương mại hàng hóa gắn liền với đối tượng của giao dịch là hàng hóa – các sản phẩm hữu hình.

    Hàng hóa là đối tượng của dịch vụ thương mại là những hàng hóa mà luật thương mại có quy định. Theo khoản 2 Điều 3 LTM quy định: “Hàng hóa bao gồm: a) Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lại; b) Những vật gắn liền với đất đai”.

    Về chủ thể, chủ thể của dịch vụ thương mại nói riêng và các hoạt động thương mại khác nói chung chủ yếu là thương nhân. Về hình thức, các giao dịch dịch vụ thương mại có thể bằng lời nói, bằng văn bản, hành vi hoặc các hình thức pháp lý khác do pháp luật quy định. Ngoài những đặc điểm của thương mại hàng hóa nói chung như trên, dịch vụ thương mại còn mang những đặc điểm nhất định của các hoạt động dịch vụ.

    Dịch vụ thương mại là một loại sản phẩm vô hình, không thể sở hữu cũng như chuyển quyền sở hữu

    Dịch vụ thương mại có tính quá trình, không tiêu chuẩn hóa được và không đồng nhất; nó còn mang tính liên hoàn, kết hợp từ sản xuất, cung cấp và sử dụng dịch vụ; không cần nắm được, không lưu kho, lưu bãi được.

    Nếu bạn không có nhiều kinh nghiệm trong việc làm bài trên phần mềm SPSS? Bạn cần đến xử lý số liệu SPSS để giúp mình xóa bỏ những rắc rối về lỗi gây ra khi không sử dụng thành thạo phần mềm này? Khi gặp khó khăn về vấn đề phân tích kinh tế lượng hay gặp vấn đề về chạy SPSS, hãy nhớ đến Tổng đài tư vấn luận văn 1080, nơi giúp bạn giải quyết những khó khăn mà chúng tôi đã từng trải qua.

    3. Một số dịch vụ thương mại theo quy định của Luật thương mại.

    Dịch vụ thương mại là các dịch vụ gắn liền với mua bán hàng hóa. Với những đặc điểm của dịch vụ thương mại như trên, ta có thể khái quát một số dịch vụ thương mại cơ bản theo quy định của Luật thương mại 2005 như sau:

    – Thứ nhất, hoạt động cung ứng dịch vụ.

    Theo khoản 9 Điều 3 LTM: “Cung ứng dịch vụ là hoạt động, theo đó một bên (sau đây gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận”.

    Theo đó, cung ứng dịch vụ bao gồm 2 bên chủ thể, mỗi bên có thể có sự tham gia của 1 hay nhiều thương nhân với nhiều loại hợp đồng khác nhau. Đối tượng của hợp đồng cung ứng dịch vụ là dịch vụ, hình thức có thể bằng văn bản, lời nói, hành vi. Như vậy, xét về bản chất của giao dịch, cung ứng dịch vụ cũng có tính chất của giao dịch mua bán (mua bán dịch vụ) hay cung ứng dịch vụ là một loại dịch vụ thương mại.

    – Thứ hai, dịch vụ xúc tiến thương mại.

    – Thứ ba, dịch vụ trung gian thương mại

    ” Dịch vụ trung gian thương mại là hoạt động của thương nhân để thực hiện các giao dịch thương mại cho một hoặc một số thương nhân được xác định, bao gồm hoạt động đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hóa và đại lý thương mại” (khoản 11 Điều 3 LTM). Dịch vụ trung gian thương mại là loại hoạt động cung ứng dịch vụ thương mại (nhằm mục tiêu lợi nhuận) do một chủ thể trung gian thực hiện. Do đó, nó cũng mang những bản chất pháp lý của cung ứng dịch vụ.

    Hơn nữa, nó là hoạt động dịch vụ gắn liền với mua bán hàng hóa. Theo đó, dịch vụ trung gian thương mại là một loại dịch vụ thương mại. Ngoài ra, dịch vụ thương mại còn bao gồm các hoạt động như: vận chuyển, giao nhận hàng hóa, giám định hàng hóa,… Với những kiến thức trên chắc hẳn bạn đã biết “dịch vụ thương mại là gì” rồi đúng không?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nội Dung Pháp Luật Việt Nam Về Thương Mại Dịch Vụ
  • Đề Thi Môn Pháp Luật Thương Mại Hàng Hóa & Dịch Vụ
  • Các Chế Tài Thương Mại (Phần 2)
  • Một Số Quy Định Về Chế Tài Của Luật Thương Mại Năm 2005 Cần Được Hoàn Thiện
  • Chế Tài Trong Hoạt Động Thương Mại
  • 59 Câu Hỏi Ôn Tập Luật Thương Mại 2 – Thương Mại Hàng Hóa Và Dịch Vụ.

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Thương Mại 2005
  • Luật Thương Mại Năm 2005
  • Luật Thương Mại Số 36/2005/qh11 Ngày 14 Tháng 6 Năm 2005
  • Đề Thi Môn Luật Thương Mại Quốc Tế Lớp Thương Mại 36B
  • 4 Thời Điểm Chuyển Rủi Ro Trong Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hoá
  • Câu 1: Phân tích khái niệm và đặc điểm của mua

    bán hàng hóa trong thương mại. Phân biệt

    quan hệ mua bán hàng hóa trong thương mại với quan hệ hàng đổi hàng, quan hệ tặng cho hàng

    hóa, quan hệ cho thuê

    hàng hóa.

    Khái niệm

    và đặc điểm của mua bán hàng hóa trong thương mại.

    1. Khái

    niệm: (Khoản 8 điều 3 Luật TM)

    Mua bán hàng hóa là hoạt động

    thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa

    cho bên mua và nhận thanh toán, bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán và

    nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận.

    Hàng hóa bao gồm (Điều 3 (2)):

               a) Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành

    trong tương lai;

               b) Những vật gắn liền với đất đai

                               1.

    Bất động sản bao gồm: Đất đai; Nhà, công

    trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; Các tài sản khác gắn liền với đất đai; Các tài sản khác do pháp luật quy định.

                               2. Động sản là những tài sản không phải là bất

    động sản.

                               3.

    Quyền tài sản (Điều 181 BLDS) là động sản.

    2. Đặc

    điểm

    – Chủ thể

    của hoạt động mua bán hàng hóa trong thương mại là thương nhân hoặc thương nhân

    và các chủ thể khác có nhu cầu về hàng hóa.

    – Đối tượng

    của quan hệ mua bán hàng hóa theo quy định của Luật Thương mại là hàng hóa theo

    quy định tại khoản 2 điều 3 Luật Thương maị.

         –

    Hình thức: HĐ là phương tiện để các bên ghi nhận kết quả đã thoả thuận

    được.

    NOTE: HĐ có thể được xác lập bằng lời nói, bằng

    văn bản hoặc có thể xác lập bằng hành vi. Đối với các HĐ pháp luật quy định

    phải lập bàng văn bản thì phải tuân theo quy đinh đó, ví dụ: HĐ mua bán quốc

    tế.

    Quá

    trình thực hiện hành vi mua bán hàng hóa gắn liền với quá trình chuyển giao

    quyền sở hữu hàng hóa từ bên bán sang bên mua.

    Phân biệt

    quan hệ mua bán hàng hóa trong thương mại với một số quan hệ có đối tượng là hàng hoặc hàng hóa.

     

    Mua bán HH

    Hàng đổi hàng

    Tặng cho HH

    Cho thuê HH

    KN

     Là hoạt động thương mại.

    giao dịch dân sự.

    giao dịch dân sự.

    Có thể là

    hđộng TM hoặc giao dịch dân sự.

    Chủ thể

    Chủ

    yếu là các thương nhân với nhau, gồm: bên mua & bên bán.

    chủ thể của QH PL

    nói chung, gồm: 2 bên trao đổi cho nhau.

    Là chủ thể

    của QH PL

    nói chung, gồm: bên tặng & bên đuợc tặng.

    Nếu là HĐ

    TM thì bên thuê phải là thương nhân, gồm: bên thuê & bên cho thuê.

    Đối tượng

    hàng hoá qđ tại k2Đ3 LTM.

    Hàng

    hoá theo quy định của BLDS.

    Hàng

    hoá theo quy định của BLDS.

    hàng hoá theo qđ của LTM.

    Chuyển

    quyền SH

    Bên bán chuyển HH, quyền SH cho bên mua và nhận thanh toán; Bên

    mua nhận quyền SH HH và thanh toán cho bên bán. Kể từ thời điểm giao hàng thì

    quyền SHHH đc chuyển từ người bán sang nguời mua.

    Hai

    bên chuyển giao HH & quyền SH cho nhau.

    Bên

    tặng chuyển quyền SH cho bên được tặng; bên được tăng ko có nghĩa vụ gì với

    bên tặng.

    Ko

    chuyển quyền SH mà người thuê chỉ có quyền sử dụng trong một thời gian nhất

    định theo thoả thuận và trả tiền thuê cho bên cho thuê.

    Mục

    đích

    Kinh doanh thu lợi nhuận.

    Đổi

    hàng này lấy hàng kia, phục vụ cho nhu cầu trong cuộc sống.

    Xuất

    phát từ ý chí của 1 bên chủ thể tặng cho vì nhiều mục đích khác nhau.

    Kinh

    doanh thu lợi  nhuận.

     

     

    Luật áp dụng

    LTM và LDS

    LDS

    LDS

    LTM và LDS

    Câu 2: Phân tích khái niệm và đặc điểm của mua bán hàng

    hóa trong thương mại. Phân biệt quan hệ mua bán hàng hóa với quan hệ mua bán tài

    sản

    trong dân sự.

    Khái niệm

    và đặc điểm của mua bán hàng hóa trong thương mại.

    Khái niệm

    Mua bán hàng hóa là hoạt động

    thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa

    cho bên mua và nhận thanh toán, bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán và

    nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận.

    Hàng hóa bao gồm (Điều 3 (2)):

               a) Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành

    trong tương lai;

               b) Những vật gắn liền với đất đai

                               1.

    Bất động sản bao gồm: Đất đai; Nhà, công

    trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; Các tài sản khác gắn liền với đất đai; Các tài sản khác do pháp luật quy định.

                               2. Động sản là những tài sản không phải là bất

    động sản.

                               3.

    Quyền tài sản (Điều 181 BLDS) là động sản.

    2. Đặc

    điểm

    – Chủ thể

    của hoạt động mua bán hàng hóa trong thương mại là thương nhân hoặc thương nhân

    và các chủ thể khác có nhu cầu về hàng hóa.

    – Đối tượng

    của quan hệ mua bán hàng hóa theo quy định của Luật Thương mại là hàng hóa theo

    quy định tại khoản 2 điều 3 Luật Thương maị.

         –

    Hình thức: HĐ là phương tiện để các bên ghi nhận kết quả đã thoả thuận

    được.

    NOTE: HĐ có thể được xác lập bằng lời nói, bằng

    văn bản hoặc có thể xác lập bằng hành vi. Đối với các HĐ pháp luật quy định

    phải lập bàng văn bản thì phải tuân theo quy đinh đó, ví dụ: HĐ mua bán quốc

    tế.

    Quá

    trình thực hiện hành vi mua bán hàng hóa gắn liền với quá trình chuyển giao

    quyền sở hữu hàng hóa từ bên bán sang bên mua.

    Phân biệt quan hệ mua bán hàng hóa với

    quan hệ mua bán tài sản trong dân sự.

     

    Quan hệ mua bán HH

    Mua bán tài sản trong dân sự

     

    Là hoạt động thương mại.

    Là giao dịch dân sự.

    Chủ thể

    Chủ yếu là giữa các thương nhân với nhau.

    Là chủ thể của quan hệ pháp luật nói chung.

    Đối tưọng

    Phạm vi hẹp hơn chỉ đối với hàng hoá theo qđ tại k2Đ3 LTM không

    có bất động sản.

    Phạm vi rộng hơn bao gồm tất cả cá loại tài sản theo quy định

    của BLDS trong đó có cả bất động sản.

    Phạm vi

    Phạm vi hẹp hơn chỉ là một dạng của quan hệ mua bán tài sản

    trong dân sự.

    Phạm vi rộng hơn.

    Mục đích

    Kinh doanh thu lợi nhuận.

    Nhiều mục đích khác nhau nhưng không nhất thiết là phải có mục

    đích lợi nhuận như trong mua bán hàng hoá.

    Luật áp dụng

    LDS và LTM.

    LDS.

    Câu 3: Phân tích khái niệm và đặc điểm của mua

    bán hàng hóa

    trong thương

    mại. Nêu rõ nguồn luật cơ bản điều chỉnh

    quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại.

    Khái niệm và đặc điểm của mua bán hàng hóa trong thương mại.

    Khái

    niệm: Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó

    bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận

    thanh toán, bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán và nhận hàng và quyền sở

    hữu hàng hóa theo thỏa thuận.

    Hàng hóa bao gồm (Điều 3 (2)):

               a) Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành

    trong tương lai;

               b) Những vật gắn liền với đất đai

                               1.

    Bất động sản bao gồm: Đất đai; Nhà, công

    trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; Các tài sản khác gắn liền với đất đai; Các tài sản khác do pháp luật quy định.

                               2. Động sản là những tài sản không phải là bất

    động sản.

                               3.

    Quyền tài sản (Điều 181 BLDS) là động sản.

    2. Đặc

    điểm

    – Chủ thể

    của hoạt động mua bán hàng hóa trong thương mại là thương nhân hoặc thương nhân

    và các chủ thể khác có nhu cầu về hàng hóa.

    – Đối tượng

    của quan hệ mua bán hàng hóa theo quy định của Luật Thương mại là hàng hóa theo

    quy định tại khoản 2 điều 3 Luật Thương maị.

         –

    Hình thức: HĐ là phương tiện để các bên ghi nhận kết quả đã thoả thuận

    được.

    NOTE: HĐ có thể được xác lập bằng lời nói, bằng

    văn bản hoặc có thể xác lập bằng hành vi. Đối với các HĐ pháp luật quy định

    phải lập bàng văn bản thì phải tuân theo quy đinh đó, ví dụ: HĐ mua bán quốc

    tế.

    Quá

    trình thực hiện hành vi mua bán hàng hóa gắn liền với quá trình chuyển giao

    quyền sở hữu hàng hóa từ bên bán sang bên mua.

    Nêu rõ nguồn luật cơ bản điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa trong

    thương mại.

    Nguồn luật điều chỉnh:

    • BLDS 2005
    • LTM 2005
    • NĐ 12/2006 hướng dẫn hoạt động mua

      bán hàng hoá quốc tế

    • NĐ 158 /2006 hướng dẫn hoạt động

      mua bán hàng hoá qua sở giao dịch.

    • ĐƯQT WTO

    Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hoá

    Câu 4: Nêu và phân tích các vấn đề pháp lý cơ bản của

    việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong TM (chủ thể, đại diện, đề

    nghị giao kết hợp đồng, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng và thời điểm giao kết, nội

    dung cơ bản cần thỏa thuận)

    Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa

    thuận giữa các bên theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu

    hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên

    bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận

    1. Chủ thể

    Chủ thể giao kết hợp đồng mua bán

    hàng hóa chủ yếu là thương nhân (hoạt động thương mại độc lập thường xuyên liên

    tục, mục đích lợi nhuận, hợp pháp có đăng kí kinh doanh), các điều kiện khác

    (kiểu như độ tuổi, năng lực…) phải được đảm bảo. bao gồm bên mua bên bán và bên

    trung gian (nếu có)

    Chủ thể ko phải là thương nhân phải

    tuân theo LTM 2005 khi chủ thể lựa chọn áp dụng LTM.

    2. Đại diện

    Hợp đồng mua bán hàng hóa có thể do

    bên đại diện giao kết (đại diện theo pháp luật hoặc theo ủy quyền) – đại diện

    đúng thẩm quyền.

    Giao kết hợp đồng ko đúng thẩm quyền

    (sai thẩm quyền) ko làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trừ trường hợp

    người đại diện hợp pháp của bên đc đại diện chấp nhận.

    3. Đề nghị giao kết hợp đồng

    a. Lời đề nghị giao kết hợp đồng mua bán:

    – Là những điều khoản do một bên đưa

    ra cho phía bên kia, nó chỉ mới thể hiện ‎yù chí, nguyện vọng

    của một bên trong quan hệ hợp đồng. Lời đề nghị này phải được chấp nhận mới  trở thành sự nhất trí thỏa thuận chung

    Đề nghị giao kêt HĐ phải:

    Hàm chứa các điều khoản chủ yếu như

    đối tượng của HĐ;

    Thể hiện mong muốn ràng buộc trách

    nhiệm;

    Hướng đến một chủ thể hoặc một số chủ

    thể nhất định;

    Tuân theo hình thức pháp luật quy định.

    Đề nghị giao kết có hiệu lực kể từ

    thời điểm bên kia nhận được đề nghị. Đó là thời điểm:

    Chuyển đến nơi cư trú của bên được đề

    nghị;

    Đưa vào hệ thống thông tin của bên

    đc đề nghị;

    Bên được đề nghị nhận được đề nghị

    thông qua các phương thức khác.

    Bên đưa ra đề nghị phải đưa ra thời  hạn trả lời đề nghị.

     – Đề nghị hợp đồng được gửi đến một hay nhiều

    chủ thể đã xác định. Hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng do bên đề nghị ấn định.

    Bên đề nghị phải chịu trách nhiệm về lời đề nghị của mình.

    – Đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt

    hiệu lực trong trường hợp :

    + Bên nhận được đề nghị trả lời

    không chấp nhận

    + Hết thời hạn trả lời chấp nhận

    + Thông báo về viêc thay đổi hoặc

    rút lại đề nghị có hiệu lực

    + Thông báo về việc hủy bỏ đề nghị

    có hiệu lực

    + Theo thỏa thuận của bên đề nghị và

    bên nhận được đề nghị trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời.

    b. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa .

    Là sự trả lời của bên được đề nghị đối

    với bên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ 

    nội dung của đề nghị . Thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng được

    xác định khác nhau trong các trường hợp sau :

    -Trong thời hạn bên đề nghị yêu cầu.

    Nếu thông báo đến chậm vì lí‎ do khách quan mà

    bên đề nghị biết  thì thông báo chấp nhận

    vẫn có hiệu lực trừ trường hợp bên đề nghị trả lời ngay không đồng ‎ý với chấp nhận đó.

    – Nếu bên đề nghị nhận được trả lời

    khi đã hết thời hạn thì chấp nhận này được coi là  đề nghị mới 

    của bên chậm trả lời .

    – Khi các bên trực tiếp giao tiếp với

    nhau , kể cả trường hợp qua  điện thoại  hoặc qua phương tiện khác thì bên được đề nghị

    phải trả lời ngay là có chấp nhận  hay

    không  chấp nhận, trừ trường hợp có thoả

    thuận về thời hạn trả lời.

    c. Thời điểm giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá :

    – Đối với Hợp đồng giao kết trực tiếp

    bằng văn bản : thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm bên sau cùng ký‎ tên vào văn bản

    – Đối với hợp đồng được giao kết

    gián tiếp bằmg văn bản : hợp đồng được giao kết khi bên đề nghị nhận được

    trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng 

    – Hợp đống giao kết bằng lời

    nói : thời điểm giao kết  hợp đồng

    là thời điểm các bên đã thoả thuận về nội dung hợp đồng .

    6. Nội dung cơ bản cần thỏa thuận

    Pháp luật ko bắt buộc các bên phải

    thỏa thuận những nội dung nào trong HĐ. Tuy nhiên trong HĐ cần các điều khoản: Nhất

    thiết phải có điều khoản về đối tượng (nó là loại hàng hóa gì); Các vấn đề về

    giá cả, chất lượng, thời điểm, địa điểm, phương thức thanh toán…

    Câu 5: Phân tích khái niệm, đặc điểm và nội dung chủ yếu (các điều khoản cơ

    bản) của hợp đồng mua bán hàng hóa.

    Khái niệm: Hợp đồng mua

    bán hàng hóa là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt các quyền và

    nghĩa vụ trong quan hệ mua bán hàng hóa (bao gồm cả mua bán hàng hóa quốc tế;

    mua bán hàng hóa trong nước).

    Đặc điểm

    – Về chủ thể: chủ yếu là thương

    nhân, có thể trong nước và cả nước ngoài, có thể không là thương nhân nhưng vẫn

    áp dụng luật thương mại điều chỉnh nếu lựa chọn áp dụng

    – Về hình thức: Hợp đồng mua bán

    hàng hoá được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành

    vi cụ thể. Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hoá mà pháp luật quy định phải

    được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó (Điều 24 Luật Thương

    mại)

    – Về đối tượng: là hàng hóa, hàng

    hóa bao gồm: tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong trong

    tương lai, những vật gắn liền với đất đai (khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại)

    – Về nội dung: quyền và nghĩa vụ của

    các bên trong quan hệ mua bán. Theo đó, bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển

    quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận

    hàng hóa và trả tiền cho bên bán. Mục đích của các bên mua bán là lợi nhuận.

    Nội dung chủ yếu của HĐ mua bán hàng hóa

    Là các điều khoản, hông bắt buộc các

    bên phải thỏa thuận những nội dung cụ thể nào, tuy nhiên với điều khoản chủ yếu

    của hợp đồng mua bán nói chung gồm:

    + đối tượng của hợp

    đồng.

    + Chất lượng và giá

    cả của hàng hóa.

    + Phương thức

    thanh toán.

    + thời hạn và địa

    điểm giao nhận hàng.

    Câu 6: phân tích các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua

    bán hàng hóa

    – Chủ thể tham gia hợp đồng phải có

    năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Đối với các thương nhân khi tham gia hợp

    đồng phải đáp ứng điều kiện có đăng ký kinh doanh hợp pháp đối với hàng hóa được

    mua bán. Trong trường hợp mua bán hàng hóa có điều kiện kinh doanh thì thương

    nhân phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh đó theo quy định của pháp luật.

    –  Đại diện của các bên giao kết hợp đồng phải đúng thẩm quyền,

    có thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền. người không có quyền

    đại diện, khi giao kết sẽ không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với bên hợp

    đồng được đại diện, trừ trường hợp bên giao kết kia biết hoặc phải biết về việc

    không có quyền đại diện.

    – Mục đích và nội dung của hợp đồng

    mua bán không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội hàng

    hóa là đối tượng của hợp đồng không bị cấm kinh doanh theo quy định của pháp luật.

    – Hợp đồng mua bán được giao kết đảm bảo

    các nguyên tắc của hợp đồng theo quy định của pháp luật: tự do giao kết nhưng

    không trái pháp luật, trái đạo đức xã hội; tự nguyện, bình đẳng, thiện chí,

    trung thực và ngay thẳng.

    – Hình thức hợp đồng phù hợp với quy định

    của pháp luật.

    Câu 7: phân tích các nghĩa vụ của bên bán và

    bên mua trong HĐMBHH theo quy đinh của LTM 2005

    1. Bên bán

    – Giao

    hàng đúng đối tượng và chất lượng

    Về nguyên tắc phải căn cứ vào nội

    dung hợp đồng để xác định vấn đề này, nếu không thì dựa trên quy định của pháp

    luật, các trường hợp sau đây được coi là hàng hóa không phù hợp với hợp đồng

    (Điều 39)

    + không phù hợp với mục đích sử dụng sử

    dụng thông thường của các hàng hóa cùng chủng loại;

    + không phù hợp với mục đích bên mua

    báo cho bên bán hoặc bên bán phải biết vào thời điểm giao kết hợp đồng

    + không bảo đảm chất lượng theo mẫu mà

    bên mua đã giao cho bên bán

    + Không được bảo quản, đóng gói theo

    cách thức thông thường đối với loại hàng hoá đó hoặc không theo cách thức thích

    hợp để bảo quản hàng hoá trong trường hợp không có cách thức bảo quản thông thường

    – Giao chứng từ kèm theo hàng hóa

    Các chứng từ như: chứng nhận chất lượng,

    chứng nhận nguồn gốc xuất xứ…

    Trường hợp không có thỏa thuận, bên

    bán có nghĩa vụ giao cho bên mua trong thời hạn, tại thời điểm hợp lý để bên

    mua có thể nhận hàng. Nghĩa vụ này được qui định tại điều 42 Luật Thương mại Chứng

    từ phải giao trong thời hạn thỏa thuận hoặc thời điểm hợp lí, nếu giao trước hạn

    mà thiếu sót thì trong thời hạn vẫn được khắc phục những thiếu sót này, nhưng nếu

    việc này gây thiệt hại hoặc bất lợi cho bên mua thì bên mua được quyền yêu cầu

    bên bán khắc phục hoặc chịu chi phí đó

    – Giao

    hàng đúng thời hạn.

    – Giao

    hàng đúng địa điểm Theo

    Điều 35

    Theo thỏa thuận không có thỏa thuận

    thì lần lượt theo các nguyên tắc sau:

    Hàng hóa gắn liền với đất đai thì

    giao tại nơi có đất đai

    Giao cho người vận chuyển đầu tiên nếu

    có qui định về vận chuyển

    Giao tại kho nếu biết kho

    Giao tại nơi kinh doanh cư trú của

    bên bán

    – Tạo điều kiện cho bên mua kiểm

    tra hàng hóa trước khi giao hàng

    Trường hợp có thỏa thuận thì bên bán

    phải bảo đảm cho bên mua có điều kiện tiến hành việc ktra hàng hóa. Nếu phát hiện

    hàng hóa ko đúng hợp đồng, bên mua phải thông báo cho bên bán trong 1thời hạn hợp

    lý.

    – Đảm bảo

    quyền sở hữu đối với hàng

    hóa

    Trừ trường hợp PL có quy định khác

    hoặc các bên có thỏa thuận khác, quyền SH được chuyển từ bên bán sang bên mua kể

    từ thời điểm hàng hóa được chuyển giao.

    – Rủi ro đối với hàng hóa

    Trường hợp các bên ko có thỏa thuận,

    theo LTM xác định như sau:

    Trong trường hợp có địa điểm giao

    hàng xác định: rủi ro chuyển giao cho bên mua khi nhận hàng tại địa điểm đó.

    Trong trường hợp không có địa điểm

    giao hàng xác định: rủi ro được chuyển cho bên mua khi hàng hóa đã đc giao cho

    người vận chuyển đầu tiên.

    Trong trường hợp giao hàng cho người

    nhận hàng để giao mà ko phải là người vận chuyển: rủi ro đc chuyển giao cho bên

    mua chỉ khi: bên mua nhận được chứng từ sở hữu hàng hóa hoặc khi người nhận

    hàng để giao xác nhận quyền chiếm hữu của bên mua.

    Trong trường hợp mua bán hàng hóa

    đang trên đường vận chuyển: rủi ro đc chuyển cho bên mua kể từ thời điểm giao kết

    HĐ.

    – Bảo hành

    hàng hóa

    TH hàng hóa mua bán có bảo hành thì

    bên bán phải chịu trách nhiệm bảo hành hàng hóa đó theo nội dung và thời hạn đã

    thỏa thuận. Bên bán phải chịu các chi phí về bảo hành, trừ trường hợp có thỏa

    thuận khác (Điều 49).

    Bên mua

    – Nhận hàng

    và thanh toán tiền

    nhận hàng:

    Được hiểu là bên mua tiếp nhận trên

    thực tế hàng hóa từ bên bán. Bên mua hàng có ngĩa vụ nhận hàng theo thỏa thuận.

    Sau khi hoàn thành việc giao nhận,

    bên bán vẫn phải chịu trách nhiệm về những khiếm khuyết của hàng hóa được giao,

    nếu bên bán biết hoặc phải biết nhưng không thông báo cho bên mua.

    Bên bán giao hàng mà bên mua không

    tiếp nhận thì bị coi là VPHĐ và phải chịu các biện pháp chế tài theo thỏa thuận

    hoặc theo quy định của pháp luật.

    thanh toán:

    Là nghĩa vụ quan trọng nhất của bên

    mua. Các điều khoản thanh toán trong hợp đồng mua bán:

    – Địa điểm

    thanh toán:

    Trường hợp không có thỏa thuận, địa

    điểm thanh toán sẽ là:

    Địa điểm kinh doanh của bên bán tại

    thời điểm giao kết hợp đồng, nếu không là tại nơi cư trú của bên bán;

    Địa điểm giao hàng hoặc giao chứng từ,

    nếu việc thanh toán trùng với giao hàng hoặc giao chứng từ.

    – Thời hạn thanh toán:

    Trường hợp không có thỏa thuận thì:

    Bên mua phải thanh toán vào thời điểm

    bên bán giao hàng hoặc giao chứng từ;

    Bên mua không có nghĩa vụ thanh toán

    khi chưa kiểm tra hàng hóa (trong trường hợp có thảo thuận).

    Bên mua phải thanh toán trong trường

    hợp hàng hóa mất mát, hư hỏng sau thời điểm rủi ro được chuyển từ bên bán sang

    bên mua.

    – Xác định

    giá: Trường hợp không có thỏa thuận thì

    giá của hàng hóa được xác định theo gía của loại hàng hóa đó trong các điều kiện

    tương tự về phương thức giao hàng, thời điểm mua bán, thị trường địa lý, phương

    thức thanh toán và các điều kiện khác.

    – Chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán: Bên bán có quyền yêu cầu bên mua trả tiền lãi trên số tiền

    chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm

    thanh toán.

    – Ngừng thanh toán:

    Trừ trường hợp có thỏa thuận khác:

    Bên mua có bằng chứng về việc bên

    bán lừa dối thì có quyền tạm ngừng thanh toán;

    Có bằng chứng về đối tượng của hàng

    hóa là đối tượng đang bị tranh chấp

    Có bằng chứng bến bán giao hàng

    không phù hợp với HĐ.

    (Bằng chứng mà bên mua đưa ra không

    xác thực, gây thiệt hại cho bên bán thì bên mua phải BTTH đó và chịu các chế

    tài khác theo quy định.)

    Câu 8: Đặc điểm của dịch vụ thương mại. Kể tên những dịch vụ thương mại

    được điều chỉnh bởi luật thương mại.

    1.

    Khái niệm: Dịch vụ là hoạt

    động của con người nhằm đáp ứng yêu cầu nào đó của con người và được kết tinh

    thành các loại sản phẩm vô hình.

    Dịch vụ thương mại ra đời bởi hoạt động

    cung ứng dịch vụ thương mại. Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó

    một bên (sau đây gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho

    một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách

    hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo

    thỏa thuận. (khoản 9 Điều 3)

    Dịch vụ trung gian TM đc xác định là

    hoạt động của thương nhân để thực hiện các giao dịch TM cho 1 hoặc 1 số thương

    nhân đc xác định bao gồm: Hoạt động đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại,

    ủy thác mua bán hàng hóa và đại lý thương mại.

    Đặc

    điểm

    – DV trung gian TM do 1 bên chủ thể

    trung gian thực hiện vì lợi ích của bên thuê dịch vụ để hưởng thù lao.

    – Bên thực hiện dịch vụ trung gian phải

    là thương nhân và có tư cách pháp lý độc lập với bên thuê dịch vụ và bên thứ 3.

    – Dịch vụ trung gian TM đc xác lập

    trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc hình thức khác có giá trị pháp lý tương

    đương.

    Những dịch vụ thương mại được điều chỉnh bởi luật thương

    mại năm 2005

    – Nhóm dịch vụ xúc tiến thương mại: dịch

    lãm.

    – Nhóm dịch vụ trung gian thương mại:

    đại diện, môi giới, ủy thác, đại lí

    – Nhóm khác: đấu giá, đấu thầu, gia

    công, logistics, quá cảnh hàng hóa, giám định, cho thuê hàng hóa, nhượng quyền

    thương mại.

    Câu 9: Phân tích quyền và nghĩa vụ cơ bản của các bên trong hợp đồng cung ứng dịch vụ thương mại.

    Bên cung ứng dịch vụ (xem t

    Điều 78 đến 84)

     Cung ứng các dịch vụ và thực hiện những

    của Luật thương mại:

     Về kết quả thực

    hiện dịch vụ: trong trường hợp không có thỏa thuận khác nếu công việc đòi hỏi

    phạt đạt được kết quả nhất định thì bên cung ứng dịch vụ phải đạt được kết quả

    này, nếu công việc đòi hỏi bên cung ứng dịch vụ phải nỗ lực cao nhất để đạt được

    kết quả như mong muốn thì bên cung ứng dịch vụ phải thực hiện dịch vụ đó với nỗ

    lực và khả năng cao nhất.

     Về thời hoàn

    thành dịch vụ: nếu không có thỏa thuận thì phải hoàn thành trong thời gian hợp

    lí trên cơ sở tính toán các điều kiện và hoàn cảnh cụ thể, trong trường hợp

    nghĩa vụ chỉ có thể hoàn thành khi khách hàng đáp ứng được những điều kiện nhất

    định thì bên cung ứng không có nghĩa vụ phải hoàn thành dịch vụ cho đến khi các

    điều kiện đó được đáp ứng.

     Tuân thủ những

    hiện dịch vụ, chi phí phát sinh do thực hiện sẽ do khách hàng trả trừ trường hợp

    có thỏa thuận khác.

     Bảo quản và giao lại cho khách hàng

    tài liệu và phương tiện được giao để thực hiện dịch vụ sau khi hoàn thành công

    việc;

     Thông báo ngay cho khách hàng trong

    trường hợp thông tin, tài liệu không đầy đủ, phương tiện không bảo đảm để hoàn

    thành việc cung ứng dịch vụ;

     Giữ bí mật về thông tin mà mình biết

    được trong quá trình cung ứng dịch vụ nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định

     Hợp tác với khách hàng (trao đổi

    thông tin, tiến hành các hoạt động cần thiết).

    Bên khách hàng

     Thanh toán tiền cung ứng dịch vụ như

    đã thoả thuận trong hợp đồng; nếu không có thỏa thuận khác thì việc thanh toán

    được tiến hành khi dịch vụ hoàn thành

     Cung cấp kịp thời các kế hoạch, chỉ

    dẫn và những chi tiết khác để việc cung ứng dịch vụ được thực hiện không bị trì

    hoãn hay gián đoạn;

     Hợp tác trong tất cả những vấn đề cần thiết khác để bên

    cung ứng có thể cung ứng dịch vụ một cách thích hợp;

     Trường hợp một dịch vụ do nhiều bên

    cung ứng dịch vụ cùng tiến hành hoặc phối hợp với bên cung ứng dịch vụ khác,

    khách hàng có nghĩa vụ điều phối hoạt động của các bên cung ứng dịch vụ để

    không gây cản trở đến công việc của bất kỳ bên cung ứng dịch vụ nào.

    Câu 10: Phân tích khái niệm và đặc điểm của hoạt

    động đại diện cho thương nhân. So sánh đại diện cho thương nhân với đại diện

    theo ủy quyền theo quy định của Bộ luật dân sự 2005

    Khái niệm (Điều 141 Luật Thương mại )

    Đại diện

    cho thương nhân là việc một thương nhân nhận uỷ nhiệm (gọi là bên đại

    diện) của thương nhân khác (gọi là bên giao đại diện) để thực hiện các hoạt động

    thương mại với danh nghĩa, theo

    sự chỉ dẫn của thương nhân đó

    và được hưởng thù lao

    về việc đại diện.

    Trong trường

    hợp thương nhân cử người của mình

    để làm đại diện cho mình thì áp dụng

    quy định của Bộ luật dân sự.

    Vậy đại diện cho thương nhân được

    chia làm 2 trường hợp là hợp đồng cung ứng dịch vụ thương mại và là trường hợp

    cá nhân đại diện cho tổ chức là thương nhân. Tuy nhiên trường hợp thứ 2 không

    xét phân tích đặc điểm

    Đặc điểm

     Chủ thể: Quan hệ đại diện cho thương

    nhân phát sinh giữa bên đại diện và bên giao đại diện. Cả 2 bên đều phải là

    thương nhân.

     Bản chất: Bên giao đại diện sẽ ủy

    quyền cho bên đại diện thay mặt, nhân danh bên giao đại diện thực hiện các hoạt

    động thương mại. Khi bên đại diện giao dịch với bên thứ 3, thì về mặt pháp lí

    các hành vi do người này thực hiện được xem như người ủy quyền (người giao đại

    diện thực hiện). Bên giao đại diện phải chịu trách nhiệm về các cam kết do bên

    đại diện thực hiện trong phạm vi ủy quyền.

     Nội dung của hoạt động đại diện rất

    đa dạng: có thể thỏa thuận thực hiện một phần hoặc toàn bộ các hoạt động thương

    mại thuộc pham vi hoạt động của bên giao đại diện, nó có thể bao gồm các hoạt động

    như tìm kiếm cơ hội kinh doanh cho bên giao đại diện, thay mặt bên giao đại diện

    để thực hiện các hoạt động nghiên cứu thị trường, lựa chọn đối tác, đàm phán,

    giao kết hợp đồng với bên thứ 3…)

     Hình thức pháp lí: thông qua hợp đồng

    đại diện cho thương nhân (phải được lập thành văn bản hoặc các hình thức có giá

    trị tương đương)

    So sánh đại

    diện cho thương nhân với đại diện theo ủy quyền theo quy định của B

    luật dân sự 2005

     

    Đại diện cho thương nhân theo quy định của LTM 2005

    Đại diện theo ủy quyền theo quy định của Bộ LDS 2005

    Chủ thể

    Bắt buộc phải

    là thương nhân

    Có thể là bất kỳ

    ai miễn là đáp ứng đủ điều kiện về năng lực chủ thể đc quy định trong Bộ LDS

    Mục đích hoạt động

    Nhằm mục đích lợi

    nhuận

    Không nhất thiết

    phải nhằm mục đích lợi nhuận

    Hình thức hợp đồng

    Văn bản hoặc

    hình thức khác có giá trị tương đương

    Các bên tự thỏa

    thuận hình thức chỉ phải

    lập thành văn bản

    khi pháp luật qui định

    Câu 11: Phân

    tích đặc điểm của hoạt động môi giới thương mại theo qui định của Luật Thương mại.

    Quyền và nghĩa vụ cơ bản của các bên trong hoạt

    động môi giới thương mại?

    Khái niệm: Môi

    giới thương mại là hoạt động thương mại, theo đó một thương nhân làm trung gian

    (gọi là bên môi giới) cho các bên mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ (gọi là bên

    được môi giới) trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ

    và được hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới. (Đ 150 -LTM2005)

    Đặc điểm

     Về chủ thể: bao gồm bên môi giới,

    bên được môi giới trong đó bên môi giới phải là thương nhân có đăng kí hoạt động

    môi giới bên được môi giới không nhất thiết phải là thương nhân.

    Khi sử dụng dịch vụ môi giới TM, bên

    môi giới nhân danh chính mình để quan hệ với các bên đc môi giới và làm nhiệm vụ

    giới thiệu các bên đc môi giới với nhau.

     Về nội dung: bao gồm tìm kiếm và

    cung cấp các thông tin cần thiết về đối tác cho bên được môi giới, tiến hành

    các hoạt động giới thiệu về hàng hóa, dịch vụ cần môi giới, thu xếp để các bên

    đc môi giới tiếp xúc với nhau, giúp đỡ các bên được môi giới soạn thảo văn bản

    hợp đồng khi họ yêu cầu.

     Về mục đích: mục đích của bên môi giới

    là tìm kiếm lợi nhuận, mục đích bên được môi giới là kí kết được hợp đồng.

     Về phạm vi: rất rộng bao gồm tất cả

    các hoạt động có thể kiếm lời như môi giới mua bán hàng hóa, môi giới chứng khoán,

    môi giới bảo hiểm, môi giới bất động sản…

     Quan hệ môi giới đc thực hiện trên

    cơ sở: hợp đồng môi giới

    – HĐ đc giao kết giữa bên môi giới

    và bên đc môi giới.

    – Đối tượng của HĐ là công việc môi

    giới nhằm chắp nối qhe giữa các bên đc môi giới với nhau.

    – Hình thưc HĐ ko đc LTM 2005 quy định.

    – Nội dung: pháp luật ko quy định,

    các bên có thể thỏa thuận về những điều khoản về nội dung cụ thể của việc môi

    giới, mức thù lao, thời hạn thực hiện HĐ, quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của

    các bên, giải quyết tranh chấp phát sinh.

    * bên môi giới được kí hợp đồng với

    bên thứ 3 trừ trường hợp nó là đại diện.

    Quyền và

    nghĩa vụ cơ bản của

    các bên trong hoạt động môi giới thương mại

    Bên môi giới

     Bảo quản các mẫu hàng hoá, tài liệu

    được giao để thực hiện việc môi giới và phải hoàn trả cho bên được môi giới sau

    khi hoàn thành việc môi giới;

     Không được tiết lộ, cung cấp thông

    tin làm phương hại đến lợi ích của bên được môi giới;

     Chịu trách nhiệm về tư cách pháp lý

    của các bên được môi giới, nhưng không chịu trách nhiệm về khả năng thanh toán

    của họ;

     Không được tham gia thực hiện hợp đồng

    giữa các bên được môi giới, trừ trường hợp có uỷ quyền của bên được môi giới.

    (Điều 151 – LTM 2005)

     Được cung cấp các thông tin, tài liệu,

     Được trả thù lao môi giới và các chi

    phí hợp lý khác nếu các bên không có thỏa thuận thì quyền hưởng thù lao môi giới

    được phát sinh từ khi các bên được môi giới kí được hợp đồng với nhau, thù lao

    được xác định theo giá dịch vụ (qui định tại điều 86 Luật Thương mại)

    Bên được môi

    giới (Đ 152-LTM2005)

     Cung cấp các thông tin, tài liệu,

     Trả thù lao môi giới và các chi phí

    hợp lý khác cho bên môi giới.

    Quyền: – yêu cầu bên môi giới bảo quản

    các mẫu tài liệu, hàng hóa đã đc giao để thực hiện việc môi giới và phải hoàn

    trả cho bên đc môi giới sau khi hoàn thành công việc.

                    –

    yêu cầu bên môi giới ko đc tiết lộ, cung cấp thông tin làm phương hại đến lợi

    ích của mình.

    Câu 12: Phân tích quyền và nghĩa vụ của bên đại diện,

    bên giao đại diện với nhau và đối với bên thứ 3

    Quyền và

    nghĩa vụ của bên đại diện với bên

    giao đại diện

    Nghĩa vụ:

    Bên

    đại diện

    Bên

    giao đại diện

    – Thực hiện hoạt động thương mại với danh nghĩa và

    vì lợi ích của bên giao đại diện, thực hiện các hoạt động chỉ trong phạm vi đại

    diện và không được thực hiện các hoạt động đó với danh nghĩa của mình hoặc của

    một bên khác (đặc biệt quan trọng trong trường hợp có xung đột lợi ích giữa

    bên đại diện và bên giao đại diệ: trường hợp gây thiệt hại do vượt quá phạm

    vi đại diện, trường hợp có xung đột lợi ích kinh tế…)

    – Thông báo cho bên đại diện về cơ hội

    và kết quả thực hiện các hoạt động thương mại đã ủy quyền (đây là những thông

    tin đã biết hay phải biết, nó sẽ giúp bên giao đại diện hoạch định kế hoạch

    kinh doanh và đưa ra những chỉ dẫn cho bên đại diện tiếp tục thực hiện công

    việc đại diện)

    – Thực hiện những

    chỉ dẫn của bên giao đại diện nếu nó không vi phạm qui định của pháp luật (có

    thể từ chối nếu nó vi phạm pháp luật hoặc trao đổi lại nếu thấy chỉ dẫn đó nếu

    được thực hiện sẽ gây thiệt hại cho bên giao đại diện)

    – Không được thực

    hiện hoạt động thương mại với danh nghĩa của mình hoặc người thứ 3 trong phạm

    vi đại diện

    – Bảo quản các

    tài liệu được giao để thực hiện hoạt động đại diện

    – Ko tiết lộ hoặc

    – Thông báo về

    việc giao kết, việc thực hiện các hợp đồng mà bên đại diện đã giao kết (bên đại

    diện cần phải biết bên giao đại diện có chấp nhận hay không việc đó, về khả

    năng có giao kết hợp đồng và thực hiện hợp đồng được không, thông báo này cần

    phải kịp thời)

    – Cung cấp tài sản tài liệu cần thiết

    để bên đại diện thực hiện hoạt động đại diện

    – Trả

    thù lao và các chi phí hợp lí khác

    Quyền:

    Bên

    đại diện

    Bên

    giao đại diện

    – Hưởng thù lao

    – Yêu cầu thanh toán chi phí

    – Nắm giữ các tài sản được giao

    (đương nhiên)

    – Không chấp nhận những hợp đồng bên

    đại diện đã kí không đúng thẩm quyền (nếu có thiệt hại được bồi thường)

    – Yêu cầu bên đại diện cung cấp những

    – Đưa ra những chỉ dẫn và yêu cầu bên đại diện tuân thủ những

    chỉ dẫn đó

     

    Nghĩa vụ với bên th

    ba:

    – Của bên đại diện: báo cho bên thứ

    3 về thời hạn, phạm vi đại diện, về việc sửa đổi bổ sung phạm vi đại diện (584

    Bộ luật Dân sự)

    – Của bên giao đại diện: báo bằng

    văn bản cho bên thứ 3 về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng đại diện, nếu không

    báo thì hợp đồng mà bên đại diện kí với bên thứ 3 vẫn có hiệu lực trừ trường hợp

    bên thứ 3 biết hoặc buộc phải biết về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng này

    (588 Bộ luật Dân sự )

    Câu 13: Phân tích đặc điểm của hoạt động ủy thác

    mua bán hàng hóa và đại lý thương mại.

    1. Hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa

    Uỷ thác mua bán hàng hoá là hoạt động

    thương mại, theo đó bên nhận uỷ thác thực hiện việc mua bán hàng hoá với danh

    nghĩa của mình theo những điều kiện đã thoả thuận với bên uỷ thác và được nhận

    thù lao uỷ thác (155 Luật Thương mại)

    Đặc điểm

    Về chủ thể: quan hệ ủy thác mua bán

    hàng hóa được xác lập giữa bên ủy thác và bên nhận ủy thác. Bên được ủy thác phải

    là thương nhân kinh doanh mặt hàng phù hợp với hàng hóa được ủy thác, bên ủy

    thác không nhất thiết phải có tư cách thương nhân. Bên nhận ủy thác tiến hành

    hoạt động với danh nghĩa của chính mình và các hành vi của bên nhận ủy thác sẽ

    mang lại hậu quả cho chính họ. hoạt động ủy thác đôi khi còn được gọi là hoạt động

    “kí gửi”.

    Về nội dung: gồm việc giao kết và thực

    hiện ủy thác. Nội dung của ủy thác hẹp hơn so vơi đại diện.

    Về hình thức: hợp đồng ủy thác (phải

    được lập thành văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị tương đương). HĐ ủy

    thác mua bán hàng hóa là 1 loại HĐ dịch vụ, đó đối tượng của hợp đồng ủy thác

    là công việc mua bán hàng hóa do bên nhận ủy thác tiến hành theo sự ủy quyền của

    bên ủy thác.

    2. Hoạt động đại lí thương mại

    Đại lý thương mại là hoạt động

    thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý

    nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ

    của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao(166 Luật Thương mại)

    Đặc điểm

     Về chủ thể: quan hệ phát sinh giữa

    bên đại lí và bên giao đại lí, cả 2 bên đều phải là thương nhân. Bên đại lí nhận

    hàng hóa để bán hoặc nhận tiền để mua hoặc nhận ủy quyền để cung ứng dịch vụ

    cho bên giao đại lí.

     Về nội dung: bao gồm việc giao kết

    và thực hiện hợp đồng đại lí, bên đại lí nhân danh chính mình để thực hiện các

    hợp đồng với bên thứ 3 (trong quan hệ đại lí mua bán hàng hóa, hàng hóa vẫn thuộc

    sở hữu của bên

    giao đại lí cho tới khi nó được bán)

     Về hình thức: phát sinh qua hợp đồng

    đại lí (văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị tương đương). Là HĐ dịch vụ,

    có đối tượng là công việc mua bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ.

    Câu 14: Phân tích đặc điểm của hoạt động ủy thác

    mua bán hàng hóa. So sánh ủy thác mua bán hàng hóa với đại lí thương mại.

    Hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa

    Uỷ thác mua bán hàng hoá là hoạt động

    thương mại, theo đó bên nhận uỷ thác thực hiện việc mua bán hàng hoá với danh

    nghĩa của mình theo những điều kiện đã thoả thuận với bên uỷ thác và được nhận

    thù lao uỷ thác (155 Luật Thương mại)

    Đặc điểm

    Về chủ thể: quan hệ ủy thác mua bán

    hàng hóa được xác lập giữa bên ủy thác và bên nhận ủy thác. Bên được ủy thác phải

    là thương nhân kinh doanh mặt hàng phù hợp với hàng hóa được ủy thác, bên ủy

    thác không nhất thiết phải có tư cách thương nhân. Bên nhận ủy thác tiến hành

    hoạt động với danh nghĩa của chính mình và các hành vi của bên nhận ủy thác sẽ

    mang lại hậu quả cho chính họ. hoạt động ủy thác đôi khi còn được gọi là hoạt động

    “kí gửi”.

    Về nội dung: gồm việc giao kết và thực

    hiện ủy thác. Nội dung của ủy thác hẹp hơn so vơi đại diện.

    Về hình thức: hợp đồng ủy thác (phải

    được lập thành văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị tương đương)

    So sánh: ủy thác mua bán hàng hóa Đại lí thương mại

    Điểm

    giống

     thực hiện thông

    qua các thương nhân trung gian

     bên trung gian bằng

    danh nghĩa của chính mình thực hiện việc mua bán hàng hóa cho người khác

     mục đích của bên

    trung gian là hưởng thù lao

    Khác

    nhau:

     

    Ủy thác mua bán hàng hóa

     Đại lý TM

    Chủ thể

    Qhe ủy thác đc

    thiết lập giữa thương nhân với thương nhân, giữa thương nhân với các bên liên

    quan

    Quan hệ đại lý

    chỉ có thể thiết lập giữa các thương nhân

    Phạm vi

    Hẹp hơn đại lý

    TM. Chỉ đc thực hiện trong lĩnh vực mua bán hàng hóa

    Rộng hơn. Có thể

    thực hiện trong nhiều lĩnh vực của hoạt động thương mại

    Quyền của bên

    thực hiện DV

    Ko đc tự do lựa

    chọn bên thứ 3. Bên thứ 3 do bên ủy thác thỏa thuận (chỉ định)

    Đc tự do hơn

    trong việc lựa chọn bên thứ 3 để giao kết HĐ và thực hiện hợp đồng

    Tính chất của

    QH

    Mang tính vụ việc,

    đơn lẻ

    Là quá trình hợp

    tác lâu dài giữa bên đại lý và bên giao đại lý. Trong Qh đại lý, bên đại lý

    có sự gắn bó, phụ thuộc vào bên giao đại lý đồng thời bên giao đại lý có sự

    ktra, giám sát chặt chẽ đối với hoạt động của bên đại lý

    Câu 15: Phân

    tích đặc điểm của hoạt động đại lí thương mại. So sánh đại lí thương mại với ủy

    thác mua bán hàng hóa

    Hoạt động đại lí thương mại

    Đại lý thương mại là hoạt động

    thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý

    nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ

    của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao (166 Luật Thương mại)

    Đặc điểm

     Về chủ thể: quan hệ phát sinh giữa

    bên đại lí và bên giao đại lí, cả 2 bên đều phải là thương nhân. Bên đại lí nhận

    hàng hóa để bán hoặc nhận tiền để mua hoặc nhận ủy quyền để cung ứng dịch vụ

    cho bên giao đại lí.

     Về nội dung: bao gồm việc giao kết

    và thực hiện hợp đồng đại lí, bên đại lí nhân danh chính mình để thực hiện các

    hợp đồng với bên thứ 3 (trong quan hệ đại lí mua bán hàng hóa, hàng hóa vẫn thuộc

    sở hữu của bên

    giao đại lí cho tới khi nó được bán)

     Về hình thức: phát sinh qua hợp đồng

    đại lí (văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị tương đương)

    So sánh: ủy thác mua bán hàng hóa Đại lí thương mại

    Điểm

    giống

     thực hiện thông

    qua các thương nhân trung gian

     bên trung gian bằng

    danh nghĩa của chính mình thực hiện việc mua bán hàng hóa cho người khác

     mục đích của bên

    trung gian là hưởng thù lao

    Khác

    nhau:

     

    Ủy thác mua bán hàng hóa

     Đại lý TM

    Chủ thể

    Qhe ủy thác đc

    thiết lập giữa thương nhân với thương nhân, giữa thương nhân với các bên liên

    quan

    Quan hệ đại lý

    chỉ có thể thiết lập giữa các thương nhân

    Phạm vi

    Hẹp hơn đại lý

    TM. Chỉ đc thực hiện trong lĩnh vực mua bán hàng hóa

    Rộng hơn. Có thể

    thực hiện trong nhiều lĩnh vực của hoạt động thương mại

    Quyền của bên

    thực hiện DV

    Ko đc tự do lựa

    chọn bên thứ 3. Bên thứ 3 do bên ủy thác thỏa thuận (chỉ định)

    Đc tự do hơn

    trong việc lựa chọn bên thứ 3 để giao kết HĐ và thực hiện hợp đồng

    Tính chất của

    QH

    Mang tính vụ việc,

    đơn lẻ

    Là quá trình hợp

    tác lâu dài giữa bên đại lý và bên giao đại lý. Trong Qh đại lý, bên đại lý

    có sự gắn bó, phụ thuộc vào bên giao đại lý đồng thời bên giao đại lý có sự

    ktra, giám sát chặt chẽ đối với hoạt động của bên đại lý

    Câu 16: Phân tích đặc điểm của các hình thức đại lí theo qui định

    của Luật Thương mại

    Đại lý thương mại là hoạt động

    thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý

    nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ

    của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao (166 Luật Thương mại)

    1. Đại lý bao tiêu là hình thức đại

    lý mà bên đại lý thực hiện việc mua, bán trọn vẹn một khối lượng hàng hoá hoặc

    cung ứng đầy đủ một dịch vụ cho bên giao đại lý.

    Bên giao đại lí ấn định giá giao,

    bên đại lí ấn định giá bán, bên đại lí hưởng giá chênh lệch, ngoài ra vẫn được

    hưởng thù lao đại lí.

    2. Đại lý độc quyền là hình thức đại

    lý mà tại một khu vực địa lý nhất định bên giao đại lý chỉ giao cho một đại lý

    mua, bán một hoặc một số mặt hàng hoặc cung ứng một hoặc một số loại dịch vụ nhất

    định, nó được hưởng thù lao đại lí.

    3. Tổng đại lý mua bán hàng hoá,

    cung ứng dịch vụ là hình thức đại lý mà bên đại lý tổ chức một hệ thống đại lý

    trực thuộc để thực hiện việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ cho bên giao đại

    lý, hình thức này tạo ưu thế trong việc phân phối sản phẩm, nó được hưởng thù

    lao đại lí.

    4. Các hình thức khác mà các bên thỏa

    thuận: đại lí hoa hồng, đại lí bảo đảm thanh toán…

    Câu 17: Phân tích đặc điểm của khuyến mại. Phân tích và cho ví dụ về các hình thức khuyến mại theo luật

    thương mại năm 2005

    Khuyến mại là hoạt động xúc tiến

    thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ

    bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định. (Đ 88- LTM2005).

    Đặc điểm:

     Chủ thể thực hiện hoạt động khuyến mại

    là thương nhân, thương nhân tự thực hiện việc khuyến mại cho mình hoặc làm dịch

    vụ cho thương nhân khác để kinh doanh (việc này hình thành trên cơ sở hợp đồng

    dịch vụ khuyến mại)

     Cách thức xúc tiến thương mại: dành

    cho khách hàng những lợi ích nhất định (vật chất hoặc phi vật chất). Khách hàng

    được khuyến mại là người tiêu dùng hoặc là các trung gian phân phối.

     Mục đích của việc khuyến mại là xúc

    tiến việc bán hàng và cung ứng dịch vụ để tăng thị phần của doanh nghiệp trên

    thị trường hàng hóa dịch vụ chủ yếu thông qua việc lôi kéo khách hàng thực hiện

    hành vi mua sắm, sử dụng dịch vụ, giới thiệu sản phẩm mới, kích thích trung

    gian phân phối chú ý hơn nữa tới hàng hóa của doanh nghiệp, tăng lượng hàng đặt

    mua

    Các hình thức khuyến mại theo Luật Thương mại

     Đưa hàng hoá mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu

    để khách hàng dùng thử không phải trả tiền: thông thường hình thức này được áp

    dụng khi thương nhân muốn giới thiệu một sản phẩm mới hoặc một sản phẩm cải tiến,

    hàng giới thiệu thường là hàng đang hoặc sẽ bán trên thị trường.

     Tặng hàng hoá cho khách hàng, cung ứng

    dịch vụ không thu tiền: quà tặng có thể là hàng hóa dịch vụ thương nhân đang

    kinh doanh hoặc hàng hóa dịch vụ của thương nhân khác, thương nhân có thể liên

    kết xúc tiến thương mại.

     Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá

    thấp hơn giá bán hàng, giá cung ứng dịch vụ trước đó, được áp dụng trong thời

    gian khuyến mại đã đăng ký hoặc thông báo. Trường hợp hàng hóa, dịch vụ thuộc

    diện Nhà nước quản lý giá thì việc khuyến mại theo hình thức này được thực hiện

    theo quy định của Chính phủ. Pháp luật cũng qui định mức độ giảm giá với các

    đơn vị hàng hóa dịch vụ để bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh.

     Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm

    theo phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ để khách hàng được hưởng một hay một

    số lợi ích nhất định.

     Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm

    phiếu dự thi cho khách hàng để chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng

    đã công bố.

     Bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo

    việc tham dự các chương trình mang tính may rủi mà việc tham gia chương trình gắn

    liền với việc mua hàng hóa, dịch vụ và việc trúng thưởng dựa trên sự may mắn của

    người tham gia theo thể lệ và giải thưởng đã công bố.

     Tổ chức chương trình khách hàng thường

    xuyên, theo đó việc tặng thưởng cho khách hàng căn cứ trên số lượng hoặc trị

    giá mua hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng thực hiện được thể hiện dưới hình thức

    thẻ khách hàng, phiếu ghi nhận sự mua hàng hoá, dịch vụ hoặc các hình thức

    khác.

     Tổ chức cho khách hàng tham gia các

    chương trình văn hóa, nghệ thuật, giải trí và các sự kiện khác vì mục đích khuyến

    mại, việc này có thể áp dụng với người đã hay chưa mua hàng hóa sử dụng dịch vụ.

     Ngoài ra cũng có thể khuyến mại bằng

    các hình thức khác nhưng trước khi tiến hành phải được cơ quan nhà nước chấp

    thuận.

    mại và nêu rõ

    các hoạt

    xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động

    kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của mình (Đ 102 -LTM 2005)

    Đặc điểm

     Chủ thể là thương nhân có thể quảng

     Về tổ chức thực hiện: thương nhân tiến

     Về cách thức: thương nhân sử dụng sản

    hình thức xúc tiến thương mại khác như hội trợ triển lãm…)

     Mục đích là giới thiệu về hàng hóa,

    dịch vụ nhằm tạo sự nhận biết và kiến thức của khách hàng về sản phẩm, thu hút

    khách hàng để đáp ứng nhu cầu cạnh tranh và mục tiêu lợi nhuận của thương nhân.

    phương hại đến độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.

    phong mỹ tục Việt Nam và trái với quy định của pháp luật.

    30 độ trở lên và các sản phẩm, hàng hoá chưa được phép lưu thông, dịch vụ chưa

    thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, tổ chức, cá nhân.

    pháp so sánh trực tiếp hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của

    mình với hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ cùng loại của thương

    nhân khác.

    các nội dung số lượng, chất lượng, giá, công dụng, kiểu dáng, xuất xứ hàng hóa,

    chủng loại, bao bì, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành của hàng hoá, dịch vụ.

    đó đồng ý. Đây là qui định hoàn toàn mới so với luật thương mại năm 1997 và

    tuệ, quyền của cá nhân với hình ảnh.

    mạnh theo quy định của pháp luật. Theo qui định của luật cạnh tranh những hành

    Câu 19: Trình bày các hình thức khuyến mại theo Luật

    Thương mại năm 2005 và hạn mức về giá trị khuyến

    mại, thời gian khuyến mại áp dụng cho các hình thức khuyến mại đó.

    Các hình thức khuyến mại: như dùng thử hàng mẫu miễn phí,

    giảm giá, tặng quà, tặng phiếu mua hàng, các chương trình may rủi, tổ chức

    chương trình khách hàng thường xuyên…. (Điều 92)

    1. Hàng

      mẫu: đưa hàng mẫu, cung ứng dịch vụ để khách hàng dùng thử không fải

      trả tiền.

    2. Sử

      dụng khi thương nhân cần giới thiệu một sản fẩm mới.

    3. Hàng

      mẫu fải là hàng hóa kinh doanh hợp fáp mà thương nhân đang hoặc sẽ bán trên thị

      trường.

    4. Khi

      nhận hàng mẫu: khách hàng ko fải thực hiện bất kì nghĩa vụ thanh toán nào.

    5. Tặng

      quà: tặng hàng hóa dịch vụ cho khách hàng không thu tiền.

    6. Thúc

      hoá làm quà tặng có thể là hàng hóa mà thương nhân đang kinh doanh hoặc hàng

      hoá của thương nhân khác.

    7. Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá

      thấp hơn giá bán hàng hoá cung ứng dịch vụ trc đó.

    8. Mức

      giảm giá tối đa đối với hàng hoá dịch vụ đc khuyến mại không đc vượt quá 50%

      giá hàng hoá dịch vụ đó ngay trc thời gian khuyến mại.

    9. Không

      đc giảm giá bán hàng hoá dịch vụ trong tr hợp giá bán hàng hoá, cung ứng dịch

      vụ (CƯDV) đã đc nhà nước quy định giá cụ thể.

    10. Không

      giảm giá bán HH, CƯDV xuống thấp hơn mức giá tối thiểu trong trường hợp NN quy

      định khung giá hoặc quy định giá tối thiểu.

    11. Tổng

      thời gian thực hiện chương trình khuyến mại bằng cách giảm giá đối với 1 loại

      nhãn hiệu hang hoá, dvụ không đc vượt quá 90 ngày/năm; 1 đợt khuyến mại  ko quá 45ngày.

    12. Nghiêm

      cấm lợi dụng hình thức khuyến mại để bán fá giá.

    13. Bán hàng, CƯDV có kèm fiếu mua

      hàng, fiếu sử dụng dịch vụ.

    14. phiếu

      mua hàng, fiếu sử dụng DV kèm theo là fiếu để mua hàng, nhận CƯDV của chính

      thương nhân đó hoặc để mua hàng nhận CƯDVcủa thương nhân khác.

    15. Nội

      dung fiếu mua hàng, fiếu sử dụng dịch vụ: Đ97 LTM.

    16. Bán hàng, CƯDV có kèm fiếu dự thi

      cho khách hàng để chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố.

    17. Nội

      dung fiếu dự thi: đ97 LTM

    18. Nội

      dung chương trình không đc trái với truyền thống lịch sử văn hoá, đạo đức thuần

      fong mĩ tục VN.

    19. Bán hàng, CƯDV kèm theo việc tham

      gia chương trình mang tính may rủi.

    20. Chương

      trình fải đc tổ chức côg khai. Trường hợp giá trị giải thưởng từ 100 triệu đồng

      trở lên fải thông báo cho cơ quan quản lí NN về TM có thẩm quyền.

    21. Tổng

      thời gian thực hiện khuyến mại không vượt quá 180 ngày/năm; 1 chương trình

      không vượt quá 90 ngày.

    22. Thời

      hạn 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn trao giải thưởng mà không có ng trúng

      thưởng thì fải đc trích nộp 50% giá trị công bố vào NSách NN.

    23. Tổ

      chức các chương trình khách hàng thường xuyên: theo đó,

      việc tặng thưởng cho khách hàng căn cứ trên số lượng hoặc trị giá mua hàng hóa

      dịch vụ mà khách hàng thực hiện.

    24. Tổ

      chức cho khách hàng tham gia các chương trình văn hoá nghệ thuật, các sự kiện

      khác vì mục đích khuyến mại. Chính là lợi ích fi vật chất mà

      thương nhân dành cho khách hàng.

    25. Các hình thức khuyến mại khác mà đc

      cơ quan quản lí NN về thương mại chấp thuận.

    Các hạn mức khuyến mại:

    • Giá

      trị vật chất dùng để khuyến mại cho một đơn vị hàng hoá dịchvụ không đc vượt

      quá 50% giá của đơn vị HH, DV đc khuyến mại trc thời gian khuyến mại đối với

      t/hợp: giảm giá và bán hàng kèm theo phiếu mua hàng, fiếu sử dụng dịch vụ.

    • Tổng

      giá trị dùng để khuyến mại mà thương nhân thực hiện trong một chương trình

      khuyến mại ko được vượt quá 50% tổng giá trị của HH, DV đc khuyến mại, trừ

      trường hợp hàng mẫu.

    – Tặng quà Tổng

    giá trị dịch vụ hàng hóa dùng để khuyến mại không được vượt quá 50% tổng giá trị

    hàng hóa dùng để khuyến mại

    – Giảm giá 50%

    giá trị sản phẩm trước thời gian khuyến mại/đơn vị sản phẩm hàng hóa

    Câu 20 So sánh quảng cáo thương mại và khuyến mại nêu một số ảnh hưởng tiêu cực của hoạt động này với người tiêu dùng

    • Giống:
      • Đều

        là hoạt động xúc tiến thương mại của các thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán

        hàng, CƯDV.

      • trên hợp đồng.

    • Khác:

    Tiêu chí

    Khuyến mại

    Khái niệm

    Là hoạt động xúc tiến thương

    mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ

    bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định (VD: giảm giá, tặng

    hàng hoá cho khách hàng mà không thu tiền…). Điều 88

    xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động

    kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của mình (Điều 102).

    Chủ thể

    Thường có nhiều chủ thể tham gia:

    Chủ thể thường

    không đa dạng bằng thường chỉ là thương nhân có sản phẩm khuyến mại và thương

    nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại.

     

    Cách thức xúc tiến TM

    – Dành cho khách hàng những lợi ích nhất định: có thể là lợi ích

    vật chất hoặc fi vật chất. Tuỳ thuộc mục tiêu của đợt khuyến mại. Khách hàng

    đc khuyến mại có thể là ng tiêu dùng hoặc trung gian fân fối.

    – Bao gồm: hàng mẫu, giảm giá…

    về HH, DV đến khách hàng: hình ảnh, tiếng nói… được truyền tải tới côg

    chúng qua truyền hình, truyền thanh, ấn fẩm…

    Mục đích

    Xúc tiến bán hàng, CƯDV thông qua các đợt khuyến mại lôi kéo

    trên thị trường.

    Giới thiệu hàng hoá, DV để xúc tiến thương mại, đáp ứng nhu cầu

    cạnh tranh và mục tiêu lợi nhuận cuả thương nhân thông qua nhấn mạnh đặc

    điểm, lợi ích của HHoá hoặc so sánh tính ưu việt với sphẩm cùng loại.

    Thủ tục

    Ko phải đăng ký

    Phải đăng ký

    Ảnh hưởng tiêu cực

    của hoạt động này tời người tiêu dùng:

                    – Về kinh tế: Tăng

    sự lãng phí, tiêu thụ ko cần thiết (giá rẻ – mua nhiều hơn mức cần thiết).

    Ngoài ra khách hàng cần thời gian tìm kiếm, so sánh các chương trình KM, QC của

    sản phẩm (nhằm tìm ra chương trình tốt nhất) hay thậm chí ko mua hàng khi có

    nhu cầu thực sự mà cố đợi đến đợt KM.

                    – Về thông tin lên

    nhận thức:

                                    +

    Giá cả: Khách hàng dần có xu hướng cho rằng giá trị thực tế của hàng hóa, dịch

    vụ chính là giá KM nên đối với họ mức giá thông thường của hàng hóa, Dv khi

    chưa có khuyến mại là cao, ko chấp nhận đc.

                                    +

    Chất lượng: Đối với KM, khách hàng cho rằng hàng hóa, DV cùng loại của nhà sản

    xuất khác, thậm chí là thấp hơn hàng hóa, DV đó khi chưa có KM.

                    – Về tác động cảm

    hóa, DV tạo cảm giác thất vọng cho khách hàng khi chất lượng, giá cả trên thực

    tế ko như những gì mà DN hứa hẹn.

    Câu 21: Trình bày các đặc điểm của khuyến mại và nêu rõ các hoạt động khuyến mại bị cấm thực hiện

    Khái niệm: Là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân

    nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách

    hàng những lợi ích nhất định (VD: giảm giá, tặng hàng hoá cho khách hàng mà

    không thu tiền…). Điều 88

    Đặc điểm:

     Chủ thể thực hiện hoạt động khuyến mại

    là thương nhân, thương nhân tự thực hiện việc khuyến mại cho mình hoặc làm dịch

    vụ cho thương nhân khác để kinh doanh (việc này hình thành trên cơ sở hợp đồng

    dịch vụ khuyến mại)

     Cách thức xúc tiến thương mại: dành

    cho khách hàng những lợi ích nhất định (vật chất hoặc phi vật chất). Khách hàng

    được khuyến mại là người tiêu dùng hoặc là các trung gian phân phối.

     Mục đích của việc khuyến mại là xúc

    tiến việc bán hàng và cung ứng dịch vụ để tăng thị phần của doanh nghiệp trên

    thị trường hàng hóa dịch vụ chủ yếu thông qua việc lôi kéo khách hàng thực hiện

    hành vi mua sắm, sử dụng dịch vụ, giới thiệu sản phẩm mới, kích thích trung

    gian phân phối chú ý hơn nữa tới hàng hóa của doanh nghiệp, tăng lượng hàng đặt

    mua

    Các hoạt động khuyến mại bị cấm thực hiện: (Điều 100)

     Khuyến mại cho hàng hóa dịch vụ bị cấm

    kinh doanh, hạn chế kinh doanh, hàng hóa chưa được phép lưu thông trên thị trường,

    dịch vụ chưa được phép cung ứng

     Hàng hóa dịch vụ sử dụng để khuyến mại

    là hàng hóa dịch vụ bị cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh, hàng hóa chưa được

    phép lưu thông trên thị trường, dịch vụ chưa được phép cung ứng.

     Khuyến mại hoặc sử dụng rượu bia để

    khuyến mại cho người dưới 18 tuổi

     Khuyến mại hoặc sử dụng thuốc lá, rượu

    có độ cồn từ 300 trở lên để khuyến mại dưới bất kì hình thức nào

     Khuyến mại thiếu trung thực hoặc gây

    hiểu lầm về sản phẩm để lừa dối khách hàng.

     Khuyến mại để tiêu thụ hàng hóa kém

    chất lượng, làm phương hại đến môi trường, sức khỏe con người và các lợi ích

    công cộng khác

     Khuyến mại tại bệnh viện trường học,

    trụ sở các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội đơn vị vũ trang nhân

    dân

     Hứa tặng, thưởng nhưng không thực hiện

    hoặc thực hiện ko đúng.

     KM Nhằm cạnh tranh không lành mạnh

     Thực hiện KM mà giá trị hàng

    hóa, DV dùng để KM vượt quá hạn mức tối đa hoặc giảm giá hàng hóa, DV đc KM quá

    mức tối đa theo quy định tại K4- Đ94

    Câu 22: Trình bày các đặc điểm pháp lí của xúc tiến thương mại và nêu rõ các hoạt động xúc tiến

    thương mại bị cấm thực hiện.

    Xúc tiến thương mại là hoạt động

    thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ, bao gồm hoạt động

    chợ, triển lãm thương mại (khoản 10 Điều 3 Luật Thương mại).

    Đặc điểm

    pháp lí:

     Về tính chất: nó là hoạt động thương

    mại nhưng khác với các hoạt động thương mại khác ở chỗ nó có ý nghĩa thúc đẩy hỗ

    trợ hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ hay các hoạt động TM có mục

    đích sinh lời khác,…

     Về chủ thể: chủ thể chủ yếu là

    thương nhân, phải có tư cách pháp lý độc lập. Pháp luật không cho phép văn

    phòng đại diện của thương nhân tiến hành hoạt động xúc tiến thương mại, chỉ có

    chi nhánh của thương nhân mới được tham gia một số hoạt động xúc tiến thương mại.

     Về mục đích: hỗ trợ thúc đẩy cơ hội

    mua bán hàng hóa cung ứng dịch vụ nhằm kiếm lợi nhuận (ko bao gồm xúc tiến đầu

    tư).

     Về cách thức: thương nhân tự tiến

    triển lãm, trưng bày, giới thiệu

    Các hoạt động xúc tiến thương mại bị cấm thực hiện

     Xúc tiến thương mại với các sản phẩm

    bị cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh, hàng hóa cấm lưu thông, hạn chế lưu

    thông, dịch vụ chưa được phép cung ứng

     Xúc tiến thương mại làm phương hại đến

    an ninh quốc gia, đến thuần phong mĩ tục, truyền thống văn hóa, môi trường…nói

    chung là các lợi ích của cộng đồng

     Xúc tiến thương mại một cách gian dối

     Xúc tiến thương mại tạo sự cạnh

    tranh không lành mạnh

     Các trường hợp khác bị pháp luật cấm

    (cụ thể với từng hoạt động đều có điều luật qui định cụ thể)

    xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động

    kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của mình (Điều 102).

    Đặc điểm

     Chủ thể là thương nhân có thể quảng

     Về tổ chức thực hiện: thương nhân tiến

     Về cách thức: thương nhân sử dụng sản

    hình thức xúc tiến thương mại khác như hội trợ triển lãm…)

     Mục đích là giới thiệu về hàng hóa,

    dịch vụ nhằm tạo sự nhận biết và kiến thức của khách hàng về sản phẩm, thu hút

    khách hàng để đáp ứng nhu cầu cạnh tranh và mục tiêu lợi nhuận của thương nhân.

    mại

    • Giống:
      • Đều

        là hoạt động xúc tiến thương mại của các thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán

        hàng, CƯDV.

      • trên hợp đồng.

    • Khác:

    Tiêu chí

    Khuyến mại

    Khái niệm

    Là hoạt động xúc tiến thương

    mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ

    bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định (VD: giảm giá, tặng

    hàng hoá cho khách hàng mà không thu tiền…). Điều 88

    xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động

    kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của mình (Điều 102).

    Chủ thể

    Thường có nhiều chủ thể tham gia:

    Chủ thể thường

    không đa dạng bằng thường chỉ là thương nhân có sản phẩm khuyến mại và thương

    nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại.

     

    Cách thức xúc tiến TM

    – Dành cho khách hàng những lợi ích nhất định: có thể là lợi ích

    vật chất hoặc fi vật chất. Tuỳ thuộc mục tiêu của đợt khuyến mại. Khách hàng

    đc khuyến mại có thể là ng tiêu dùng hoặc trung gian fân fối.

    – Bao gồm: hàng mẫu, giảm giá…

    về HH, DV đến khách hàng: hình ảnh, tiếng nói… được truyền tải tới côg

    chúng qua truyền hình, truyền thanh, ấn fẩm…

    Mục đích

    Xúc tiến bán hàng, CƯDV thông qua các đợt khuyến mại lôi kéo

    trên thị trường.

    Giới thiệu hàng hoá, DV để xúc tiến thương mại, đáp ứng nhu cầu

    cạnh tranh và mục tiêu lợi nhuận cuả thương nhân thông qua nhấn mạnh đặc

    điểm, lợi ích của HHoá hoặc so sánh tính ưu việt với sphẩm cùng loại.

    Thủ tục

    Ko phải đăng ký

    Phải đăng ký

    trưng bày giới thiệu hàng hóa.

    xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động

    kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của mình (Điều 102).

    Đặc điểm

     Chủ thể là thương nhân có thể quảng

     Về tổ chức thực hiện: thương nhân tiến

     Về cách thức: thương nhân sử dụng sản

    hình thức xúc tiến thương mại khác như hội trợ triển lãm…)

     Mục đích là giới thiệu về hàng hóa,

    dịch vụ nhằm tạo sự nhận biết và kiến thức của khách hàng về sản phẩm, thu hút

    khách hàng để đáp ứng nhu cầu cạnh tranh và mục tiêu lợi nhuận của thương nhân.

    * Giống;

    – Đều là hoạt động XTTM.

    – Đều do thương nhân tự thực hiện hoặc

    thuê thương nhân khác thực hiện XTTM.

    – Đều nhằm mục đích giới thiệu sản

    phẩm, kích thích tiêu dùng.

    – Xét về bản chất, trưng bày  giới thiệu sản phẩm cũng là cách thức đặc biệt

    * Khác:

    Tiêu chí

    Trưng bày giới thiệu sản fẩm

    Khái niệm

    xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động

    kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của mình (Điều 102).

    Là hoạt động XTTM của thương nhân dùng hàng hóa, DV và tài liệu

    về hàng hóa, DV để giới thiệu với khách hàng về hàng hóa, DV đó (Đ 117)

    Đối tượng

    Hàng hóa, dịch vụ

    Chỉ là hàng hóa

    Chủ thể

    Thường có nhiều chủ thể tham gia:

    Chủ thể thường không đa dạng bằng

    thường chỉ là thương nhân có hàng hóa cần trưng bày giới thiệu và và thương

    nhân kinh doanh dịch vụ trưng bày giới thiệu hàng hóa

    Phương tiện

    truyền hình, ấn fẩm, băng, biển,báo chí,chương trình hội chọ triểnlãm…

    Sử dụng HH, DV và các tài liệu kèm theo.

    – HH, DV chính là công cụ để giới thiệu thông tin về sản fẩm,kiểu

    dáng, chất lượng, giá cả…

    – tổ chức hội nghị hội thảo có trưng bày HH

    – trưng bày HH ,DV trên internet…

    Hình thức

    -Hình thức: thể hiện bằng tiếng nói,chữ viết, biểu tượng…thông

    qua các fuơng tiện.

     

    – mở fòg trưng bày

    – giới thiệu HH, Dv tại các trung tâm TM, hội chợ triển lãm.

    Câu 25: Trình bày điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm của người kinh

    doanh dịch vụ logistics theo pháp luật Việt Nam

    Dịch vụ logistics là hoạt động

    thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao

    gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục

    giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc

    thù lao (Điều 233).

    Điều kiện

    kinh doanh dịch vụ logistics

    Để đáp ứng điều kiện kinh doanh dịch

    vụ logistics các doanh nghiệp phải đáp ứng các điều kiện sau:

     Là doanh nghiệp có đăng kí kinh

    doanh hợp pháp theo pháp luật Việt Nam

     Đáp ứng các điều kiện với từng loại

    dịch vụ logistics cụ thể:

    1. ĐK KD đối với thương nhân KD các DV log chủ yếu:
    2. Là doanh nghiệp có

      đăng ký kinh doanh hợp pháp theo

      PL VN.

    3. Có đủ phương tiện,

      thiết bị, công cụ đảm bảo tiêu chuẩn an toàn, kỹ thuật và có đội ngũ nhân viên

      đáp ứng yêu cầu.

    4. Nếu đó là thương

      nhân nước ngoài thì còn phải đáp ứng đc cacs điều kiện:

      1. Kinh doanh dịch vụ bốc dỡ hàng hóa: chỉ đc thành lập cty

        liên doanh với tỷ lệ vốn góp ko quá 50%.

      1. Kinh doanh dịch vụ kho bãi: đc thành lập cty liên doanh với

        tỷ lệ vốn góp ko quá 51% (hạn chế này chấm dứt năm 2014).

      1. Kinh doanh dịch vụ đại lý vận tải: đc thành lập cty liên

        doanh với tỷ lệ vốn góp ko quá 51% (ko hạn chế tỷ lệ vốn góp kể từ năm 2014).

      1. Kinh doanh dịch vụ bổ trợ khác: đc thành lập công ty liên

        doanh với tỷ lệ vốn góp ko quá 49% (51% vào năm 2010; chấm dứt hạn chế năm

        tải:

      2. Là doanh nghiệp có

        ĐKKD hợp pháp;

      3. Tuân thủ các điều

        kiện về kinh doanh vận tải theo quy định của PL VN;

      4. Nếu đó là thương

        nhân nước ngoài thì phải đáp ứng thêm các điều kiện:

        1. Kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hải: chỉ đc thành lập cty liên

          doanh vận hành đội tàu từ 2009 với tỷ lệ vốn góp ko quá 49%; đc thành lâp liên

          doanh cung cấp dịch vụ vận tải biển quốc tế với tỷ lệ vốn góp ko quá 51% (hạn

          chế này chấm dứt năm 2012);

        1. Kinh doanh dịch vụ vận tải thủy nội địa: chỉ đc thành lập cty liên

          doanh với tỷ lệ vốn góp ko quá 49%;

        1. Kinh doanh dịch vụ vận tải hàng không thì thực hiện theo quy định

          của Luật hàng không dân dụng VN;

        1. Kinh doanh dịch vụ vận tải đường sắt: chỉ đc thành lập cty liên

          doanh với tỷ lệ vốn góp ko quá 49% (ko quá 51% kể từ 2010);

        1. Kinh doanh dịch vụ vận tải đường bộ: đc thành lập cty liên doanh

          với tỷ lệ vốn góp ko quá 49% (ko quá 51% kể từ 2010);

        1. Ko đc thực hiện dịch vụ vận tải đường ống (trừ trường hợp VN tham

          ĐKKD theo PL

          VN;

        2. Nếu là thương nhân

          nước ngoài thì còn phải tuân theo các đk:

          1. KD dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật: (lằng nhằng lắm ở điểm

            mại bán lẻ thực hiện theo quy định riêng của CP;

          1. Ko đc thực hiện các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác (trừ khi VN tham

            gia các ĐƯQT).

        Giới hạn trách

        nhiệm của

        người kinh doanh dịch vụ logistics

        • Đối với thương

          nhân kinh doanh dịch vụ log không thuộc phạm vi trên:

          • Các bên có thể thỏa thuận về giới hạn trách nhiệm BTTH.
          • Nếu các bên ko thỏa thuận về giới hạn trách nhiệm BTTH: toàn bộ

            trách nhiệm của thương nhân kinh doanh DV log ko vượt quá giới hạn trách nhiệm và

            tổn thất hàng hóa (Đ238 LTM). Cụ thể:

            • Khách hàng ko có thông báo trc về giá trị của HH thì giới hạn

              trách nhiệm tối đa là 500tr đối với mỗi yêu cầu bồi thường;

            • Khách hàng đã thông báo trc về giá trị của HH và đc thương nhân KD

              DV log xác nhận thì giới hạn trách nhiệm là toàn bộ giá trị của HH đó.

        • Đối với thương

          nhân kinh doanh dịch vụ log tổ chức thực hiện nhiều công đoạn có quy định giới

          hạn trách nhiệm khác nhau: giới hạn trách nhiệm đc tính là giới hạn trách nhiệm

          của công đoạn có giới hạn trách nhiệm cao nhất.

        * Giới hạn trách nhiệm của

        người làm dịch vụ Logistic (Đ238 LTM)

        – Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, toàn bộ trách

        nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics không vượt quá giới hạn

        trách nhiệm đối với tổn thất toàn bộ hàng hóa.

        – Người làm dịch vụ Logistic không được hưởng quyền

        giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nếu người có quyền và nghĩa vụ liên

        quan chứng minh được sự mất mát, hư hỏng hoặc sự giao hàng chậm trễ là do

        thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics cố ý hành động hoặc không hành động để

        gây ra mất mát, hư hỏng.

        Câu 26: Phân tích khái niệm đặc điểm của dịch vụ

        logistics và điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics theo

        pháp luật Việt Nam

        Dịch vụ logistics là hoạt động

        thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao

        gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục

        giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc

        thù lao (Điều 233).

        Đặc điểm:

         Chủ thể gồm 2 bên: người làm dịch vụ

        logistic và khách hàng, người làm dịch vụ phải là thương nhân có đăng kí kinh

        doanh và đáp ứng được các điều kiện kinh doanh cụ thể. Khách hàng có thể không

        phải là thương nhân, là thương nhân thậm chí cũng là thương nhân kinh doanh dịch

        vụ logistics, có thể là chủ sở hữu hay không phải là chủ sở hữu hàng hóa.

         Nội dung của dịch vụ logistics rất

        đa dạng có thể bao gồm các công việc sau:

         Nhận hàng từ người

        gửi để tổ chức vận chuyển: đóng gói bao bì, ghi mã hiệu; chuyển hàng từ kho của

        người gửi đến địa điểm giao hàng hoặc địa điểm khác theo thỏa thuận.

         Làm các thủ tục

        giấy tờ cần thiết để gửi hoặc nhận hàng hóa được chuyển đến

         Giao hàng cho người

        vận chuyển, xếp hàng hóa lên phương tiện vận chuyển theo qui định, nhận hàng

        hóa được vận chuyển đến.

         Tổ chức nhận

        hàng, lưu kho lưu bãi, bảo quản hàng hóa hoặc tổ chức việc giao hàng hóa được vận

        chuyển đến cho người có quyền nhận hàng

         Dịch vụ logistics là một dịch vụ thương

        mại, thương nhân kinh doanh dịch vụ được khách hàng trả tiền công và chi phí hợp

        lí khác.

        Điều kiện

        kinh doanh dịch vụ logistics

        Để đáp ứng điều kiện kinh doanh dịch

        vụ logistics các doanh nghiệp phải đáp ứng các điều kiện sau:

         Là doanh nghiệp có đăng kí kinh

        doanh hợp pháp theo pháp luật Việt Nam

         Đáp ứng các điều kiện với từng loại

        dịch vụ logistics cụ thể:

        • ĐK KD đối với thương nhân KD các DV log chủ yếu:
        • Là doanh nghiệp có

          đăng ký kinh doanh hợp pháp theo

          PL VN.

        • Có đủ phương tiện,

          thiết bị, công cụ đảm bảo tiêu chuẩn an toàn, kỹ thuật và có đội ngũ nhân viên

          đáp ứng yêu cầu.

        • Nếu đó là thương

          nhân nước ngoài thì còn phải đáp ứng đc cacs điều kiện:

          • Kinh doanh dịch vụ bốc dỡ hàng hóa: chỉ đc thành lập cty

            liên doanh với tỷ lệ vốn góp ko quá 50%.

          • Kinh doanh dịch vụ kho bãi: đc thành lập cty liên doanh với

            tỷ lệ vốn góp ko quá 51% (hạn chế này chấm dứt năm 2014).

          • Kinh doanh dịch vụ đại lý vận tải: đc thành lập cty liên

            doanh với tỷ lệ vốn góp ko quá 51% (ko hạn chế tỷ lệ vốn góp kể từ năm 2014).

          • Kinh doanh dịch vụ bổ trợ khác: đc thành lập công ty liên

            doanh với tỷ lệ vốn góp ko quá 49% (51% vào năm 2010; chấm dứt hạn chế năm

            tải:

          • Là doanh nghiệp có

            ĐKKD hợp pháp;

          • Tuân thủ các điều

            kiện về kinh doanh vận tải theo quy định của PL VN;

          • Nếu đó là thương

            nhân nước ngoài thì phải đáp ứng thêm các điều kiện:

            • Kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hải: chỉ đc thành lập cty liên

              doanh vận hành đội tàu từ 2009 với tỷ lệ vốn góp ko quá 49%; đc thành lâp liên

              doanh cung cấp dịch vụ vận tải biển quốc tế với tỷ lệ vốn góp ko quá 51% (hạn

              chế này chấm dứt năm 2012);

            • Kinh doanh dịch vụ vận tải thủy nội địa: chỉ đc thành lập cty liên

              doanh với tỷ lệ vốn góp ko quá 49%;

            • Kinh doanh dịch vụ vận tải hàng không thì thực hiện theo quy định

              của Luật hàng không dân dụng VN;

            • Kinh doanh dịch vụ vận tải đường sắt: chỉ đc thành lập cty liên

              doanh với tỷ lệ vốn góp ko quá 49% (ko quá 51% kể từ 2010);

            • Kinh doanh dịch vụ vận tải đường bộ: đc thành lập cty liên doanh

              với tỷ lệ vốn góp ko quá 49% (ko quá 51% kể từ 2010);

            • Ko đc thực hiện dịch vụ vận tải đường ống (trừ trường hợp VN tham

              ĐKKD theo PL

              VN;

            • Nếu là thương nhân

              nước ngoài thì còn phải tuân theo các đk:

              • KD dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật: (lằng nhằng lắm ở điểm

                mại bán lẻ thực hiện theo quy định riêng của CP;

              • Ko đc thực hiện các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác (trừ khi VN tham

                gia các ĐƯQT).

            Câu 27: Trình bày khái niệm đặc điểm của dịch vụ

            logistics và liệt kê chuỗi dịch vụ logistics

            Khái niệm

            Dịch vụ logistics là hoạt động

            thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao

            gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục

            giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc

            thù lao (Điều 233).

            Đặc điểm:

             Chủ thể gồm 2 bên: người làm dịch vụ

            logistic và khách hàng, người làm dịch vụ phải là thương nhân có đăng kí kinh

            doanh và đáp ứng được các điều kiện kinh doanh cụ thể. Khách hàng có thể không

            phải là thương nhân, là thương nhân thậm chí cũng là thương nhân kinh doanh dịch

            vụ logistics, có thể là chủ sở hữu hay không phải là chủ sở hữu hàng hóa.

             Nội dung của dịch vụ logistics rất

            đa dạng có thể bao gồm các công việc sau:

             Nhận hàng từ người

            gửi để tổ chức vận chuyển: đóng gói bao bì, ghi mã hiệu; chuyển hàng từ kho của

            người gửi đến địa điểm giao hàng hoặc địa điểm khác theo thỏa thuận.

             Làm các thủ tục

            giấy tờ cần thiết để gửi hoặc nhận hàng hóa được chuyển đến

             Giao hàng cho người

            vận chuyển, xếp hàng hóa lên phương tiện vận chuyển theo qui định, nhận hàng

            hóa được vận chuyển đến.

             Tổ chức nhận

            hàng, lưu kho lưu bãi, bảo quản hàng hóa hoặc tổ chức việc giao hàng hóa được vận

            chuyển đến cho người có quyền nhận hàng

             Dịch vụ logistics là một dịch vụ

            thương mại, thương nhân kinh doanh dịch vụ được khách hàng trả tiền công và chi

            phí hợp lí khác.

            Chuỗi dịch vụ logistics:

            gồm các công vc đc chia theo 3 nhóm:

            1. Các dịch vụ log chủ yếu:Dịch vụ bốc xếp hàng hóa (bao gồm cả bốc xếp công-ten-nơ);DV kho bãi và lưu giữ hàng hóa (bao gồm cả kinh doanh kho bãi

              công-ten-nơ và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị);DV đại lý vận tải (bao gồm cả đại lý làm thủ tục hải quan và lập

              đến vận chuyển và lưu kho hàng hóa trong suốt cả chuỗi lô-gi-stíc; xử lý lại

              hàng hóa bị khách hàng trả lại, hàng hóa tồn kho, hàng hóa quá hạn, lỗi mốt và

              kho, thu gom, tập hợp, phân loại hàng hóa, phân phối lại và giao hàng;

    Các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác.

    Câu 28: Trình bày khái nim đặc điểm của đấu giá hàng hóa. Phân biệt các phương thức đấu

    giá hàng hóa theo qui định của pháp luật hiện hành.

    Khái

    niệm (K1- Đ185)

    Đấu giá hàng hóa là họat động thương mại, theo đó

    người bán hàng tự mình hoặc thuê người tổ chức đấu giá thực hiện bán hàng hóa

    công khai để chọn người mua trả giá cao nhất.

    Đặc điểm:

    hoạt động

    thương mại (có tất cả các đặc điểm của hoạt động thương mại)

    Đặc điểm

    đặc thù

    là:

     Là quan hệ bán hàng, nó có thể diễn ra qua trung gian hoặc không.

    Người bán đấu giá có thể là thương nhân hoặc không.

     Hầu hết các hàng hóa có đặc thù về giá trị mới được đem đấu giá. Người

    bán đưa ra một mức khởi điểm cho người mua tham khảo còn giá bán thực tế có thể thấp hơn.

     Hình thức pháp lí của quan hệ bán đấu giá có thể được thiết lập dưới hợp

    đồng ủy quyền bán đấu giá hoặc văn bản bán đấu giá

    Phân biệt các phương thức đấu giá hàng hóa theo qui định của

    pháp luật hiện hành

     

    PT trả giá lên

    PT đặt giá xuống

    1. KN

    Là phương thức bán đấu giá, theo đó ng trả giá cao nhất so với

    giá khởi điểm là ng có quyền mua hàng.

    Là phương thức bán đấu giá, theo đó ng đầu tiên chấp nhận ngay

    mức giá khởi điểm hoặc mức giá đc hạ thấp hơn mức giá khởi điểm là ng có

    quyền mua hàng.

    2. Cách thức tiến hành

    Nhân viên điều hành bán ĐG nêu lên giá khởi điểm thấp nhất của lô

    hàng hay TS bán ĐG. Những ng mua sẽ trả giá nâng dần lên theo từng mức mặc cả

    nhất định.

    Nhân viên điều hành nêu lên mức giá khởi điểm cao nhất, rồi sau

    đó hạ dần từng nấc một để ng mua đặt giá.

    3. Ng có quyền mua

    Ng trả giá cao nhất sẽ đc quyền mua lô hàng hoặc TS đó.

    HH đc bán khi có ng chấp nhận mua.

    4. Phạm vi áp dụng

    Đc áp dụng phổ biến vì nó có lợi cho cả 2 bên mua và bên bán.

    Chỉ áp dụng đối với 1 số loại hàng hóa (như hàng thanh lý) và ko

    hấp dẫn với cả ng mua và ng bán hàng.

    Câu 29: Nêu các chủ thể tham gia quan hệ đấu giá hàng hóa và phân tích quyền và nghĩa vụ của người tổ chức

    đấu giá hàng hóa.

    Các chủ thể tham gia quan hệ đấu giá hàng hóa

    a.

    Người bán hàng hóa:

    Ng­ười

    bán hàng là chủ sở hữu hàng hoá, ng­ười đ­ược chủ sở hữu hàng hoá uỷ quyền bán

    hoặc ng­ười có quyền bán hàng hoá của ng­ười khác theo quy định của pháp luật.

    b. Người tổ chức bán đấu giá:

    – Là thương nhân, có đăng ký kinh doanh dịch vụ đấu

    giá hoặc là người bán hàng trong trường hợp người bán hàng tự tổ chức bán đấu

    giá.

    c.

    Người điều hành đấu giá:

     Người điều

    hành cuộc bán đấu giá tài sản là đấu giá viên

    đ. Người tham gia đấu giá:

    Người mua hàng hóa:là người tham gia đấu giá hàng

    hóa, bao gồm tổ chức, cá nhân đăng ký tham gia đấu giá

     người

    mua hàng hóa.

    Quyền và nghĩa vụ của người tổ chức

    đấu giá (Điều 189, 190).

    * Quyền (Đ189 LTM): Trừ trường hợp có thỏa

    thuận khác, người tổ chức đấu giá có các quyền sau đây:

    – Yêu cầu người bán hàng cung cấp đầy đủ, chính xác,

    cho người tổ chức đấu giá và người tham gia đấu giá kiểm tra hàng hóa đấu giá

    và giao hàng hóa được bán đấu giá cho người mua hàng.

    – Tổ chức cuộc đấu giá;

    – Yêu cầu người mua hàng thực hiện việc thanh toán;

    – Nhận thù lao dịch vụ đấu giá do người bán hàng

    trả.

    * Nghĩa vụ (Đ190 LTM)

    – Tổ chức bán đấu giá hàng hóa theo đúng nguyên tắc,

    thủ tục do pháp luật quy định và theo phương thức thỏa thuận với người bán

    hàng;

    – Thông báo, niêm yết công khai, đầy đủ, chính xác

    – Bảo quản hàng hóa đấu giá khi được người bán giao

    giữ;

    – Trình bày hàng hóa, mẫu hàng hóa hoặc tài liệu

    giới thiệu về hàng hóa cho người tham gia đấu giá xem xét;

    – Lập văn bản đấu giá và gửi đến người bán hàng,

    – Giao hàng hóa đấu giá cho người mua phù hợp với

    hợp đồng tổ chức dịch vụ đấu giá hàng hóa.

    – Làm thủ tục chuyển quyền sở hữu đối với hàng hóa

    bán đấu giá phải đăng ký quyền sở hữu cho người mua theo quy định của pháp

    luật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác với người bán hàng.

    – Thanh toán cho người bán hàng tiền hàng đã bán, kể

    cả khoản tiền chênh lệch thu được từ người rút lại giá đã trả, hoặc trả lại

    hàng hóa không bán được cho người bán hàng theo thỏa thuận.

    Câu 30: Phân tích đặc điểm của đấu giá hàng hóa. Nêu khái quát thủ tục và trình tự đấu giá hàng hóa

    Đấu giá

    hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó người bán hàng tự mình hoặc thuê người

    tổ chức đấu giá thực hiện việc bán hàng hoá công khai để chọn người mua trả giá

    cao nhất. (K1- Đ185).

    Đặc điểm:

    hoạt động

    thương mại (có tất cả các đặc điểm của hoạt động thương mại)

    Đặc điểm

    đặc thù

    là:

     Là quan hệ bán hàng, nó có thể diễn ra qua trung gian hoặc

    không. Người bán đấu giá có thể là thương nhân hoặc không.

     Hầu hết các hàng hóa có đặc thù về giá trị mới được đem đấu giá.

    Người bán đưa ra một mức khởi điểm cho người mua tham khảo còn giá bán thực tế có thể thấp hơn.

     Hình thức pháp lí của quan hệ bán đấu giá có thể được thiết lập dưới hợp

    đồng ủy quyền bán đấu giá hoặc văn bản bán đấu giá

    Thủ tục và trình tự bán đấu giá

    Thủ tục

    1. Lập hợp đồng DV tổ chức ĐG HH: bằng VB hoặc hình thức khác có giá

      trị tương đương.

    2. Xác định giá khởi điểm: ng bán HH phải xác định giá khởi điểm.
    3. Chuẩn bị bán ĐG HH: niêm yết, thông báo công khai về vc bán ĐG;

      đăng ký tham gia ĐG và nộp tiền đặt cọc; trưng bày, xem HH ĐG…

    4. Tiến hành đấu giá: (phần trình tự)
    5. Hoàn thành văn bản ĐG: là VB xác nhận vc mua bán; phải đc gửi đến

      ng tổ chức ĐG (trừ trường hợp có thỏa thuận khác).

    6. Trình tự:
      1. Người điều hành ĐG điểm danh người đã đăng ký tham gia ĐG HH;
      1. Người điều hành ĐG giới thiệu từng HH bán ĐG, nhắc lại giá khởi

        điểm, trả lời các câu hỏi của người tham gia ĐG và yêu cầu trả giá;

      1. Đối với phương thức trả giá lên, người điều hành phải nhắc lại giá đã trả sau cùng cao hơn giá

        người trước đã trả ít nhất 3 lần, mỗi lần cách nhau ít nhất 30s; chỉ được công

        bố người mua, nếu sau 3 lần nhắc lại giá người đó đã trả mà không có người nào

        trả giá cao hơn;

      1. Đối với phương thức đặt giá xuống, người điều hành phải nhắc lại từng mức giá được hạ xuống thấp

        hơn giá khởi điểm ít nhất là 3 lần, mỗi lần cách nhau ít nhất 30s; công bố ngay

        người đầu tiên chấp nhận mức giá

        khởi điểm hoặc mức giá hạ thấp hơn mức giá khởi điểm là người có quyền mua hàng

        hóa đấu giá;

      1. Nếu có nhiều người đồng thời trả mức giá cuối cùng đối với phương

        phải tổ chức rút thăm giữa những người đó và công bố người rút trúng thăm được

        mua là người mua hàng hoá bán đấu giá;

      1. Lập văn bản bán ĐG HH ngay tại cuộc ĐG, kể cả trường hợp ĐG không

        thành. Văn bản bán đấu giá phải ghi

        rõ kết quả đấu giá, có chữ ký của người điều hành đấu giá, người mua hàng và

        hai người chứng kiến trong số những người tham gia đấu giá; đối với hàng hoá

        bán đấu giá phải có công chứng nhà nước theo quy định của pháp luật thì văn bản

        bán đấu giá cũng phải được công chứng.

    Câu 31: Phân tích đặc điểm của đấu giá hàng hóa và các nguyên tắc cơ bản trong đấu

    giá hàng hóa

    Đấu giá

    hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó người bán hàng tự mình hoặc thuê người

    tổ chức đấu giá thực hiện việc bán hàng hoá công khai để chọn người mua trả giá

    cao nhất. (K1- Đ185).

    Đặc điểm:

    hoạt động

    thương mại (có tất cả các đặc điểm của hoạt động thương mại)

    Đặc điểm

    đặc thù

    là:

     Là quan hệ bán hàng, nó có thể diễn ra qua trung gian hoặc

    không. Người bán đấu giá có thể là thương nhân hoặc không.

     Hầu hết các hàng hóa có đặc thù về giá trị mới được đem đấu giá.

    Người bán đưa ra một mức khởi điểm cho người mua tham khảo còn giá bán thực tế có thể thấp hơn.

     Hình thức pháp lí của quan hệ bán đấu giá có thể được thiết lập dưới hợp

    đồng ủy quyền bán đấu giá hoặc văn bản bán đấu giá

    Các nguyên tắc cơ bản trong đấu giá hàng hóa (188 Luật Thương mại)

    Điều 188: “Việc đấu giá hàng

    hoá trong thương mại phải được thực hiện theo nguyên tắc công khai, trung thực, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên

    tham gia”.

    a. Ng/tắc công khai:

    • Mọi v/đề lquan đến

      cuộc đấu giá & những thông tin về hh phải đc công khai cho tất cả những ai

      muốn mua

    • Hình thức: niêm

      yết, thông báo, trưng bày, g/thiệu về t/sản,…

    • 1 số nd bắt buộc

      phải công khai:

    • tgian, địa điểm tiến hành bán đấu giá;
    • tên loại hh bán đấu giá;
    • số lượng, chất lượng, giá khởi điểm;                                                                              
    • địa điểm trưng bày g/thiệu hh, các h/sơ t/liệu lquan đến hh;
    • họ tên người bán hàng, tên t/chức bán đấu giá & những người

      đăng kí mua hh(nếu theo qđ pl, người mua hh phải đăng kí)…

    • Tại phiên đấu giá,

      người điều hành bán đấu giá phải công khai các mức giá đc trả & họ tên

      người mua trả giá cao nhất of mỗi lần trả giá.

    b. Ng/tắc trung thực:

    • những nd sau phải

      thật rõ ràng, chính xác, đầy đủ để kô tạo sự nhầm lẫn hay lừa dối đ/với các bên

      làm cuộc đấu giá bị vô hiệu:

    • các thông báo về cuộc đấu giá & thông tin về hh;
    • các giấy tờ lquan đến hh;
    • những đặc điểm khuyết tật kô nhìn thấy (nhất là những hh là t/sản

      có g/trị về l/sử, nghệ thuật);

    • các giấy tờ x/định tư cách người tgia đấu giá.
    • người bán phải

      trung thực khi x/định giá khởi điểm of hh, kô nên đưa mức khởi điểm quá cao so

      với giá trị thực tế of hh làm người mua bị thiệt.

    • nếu chất lượng hh

      giá & yêu cầu bồi thường t/hại.

    • t/chức bán đấu giá

      kô phải chịu tr/nhiệm về giá trị, chất lượng of hh bán đấu giá trừ trường hợp

      kô thông tin đầy đủ cho người mua.

    • những người có

      thân phận pháp lý hay h/cảnh đặc biệt mà sự tgia of họ có ả/hưởng đến sự trung

      c. Ng/tắc b/vệ quyền & lợi ích hợp pháp of các bên tgia: Quyền và lợi ích of các bên trong q/hệ đấu giá hh phải đc coi

      trọng & đ/bảo đầy đủ.

      • người bán hàng có

        quyền x/định giá khởi điểm of hh, quyền yêu cầu t/chức bán đấu giá thanh toán

        đầy đủ tiền bán hh ngay sau khi cuộc đấu giá k/thúc, đc bồi thường t/hại nếu

        t/chức bán đấu giá or bên mua có hvi x/hại đến lợi ích of mình.

      • người mua hàng có quyền đc xem hh, yêu cầu cung cấp đầy đủ thông tin về

        hh, đc tự đặt giá, đc x/lập quyền sở hữu đ/với hh sau khi hoàn thành v/bản đấu

        giá & họ đã thực hiện xong ng/vụ thanh toán.

      t/chức bán đấu giá đc thu of người bán hàng

      lệ phí & các khoản chi phí cần thiết cho việc t/chức bán đấu giá theo qđ of

      pl

      Câu 32: Phân tích khái niệm, đặc điểm của đấu

      thầu hàg hóa, dịch vụ theo quy định của

      Luật Thương mại và trình bày hai phương thức đấu thầu hàg hóa dịch vụ

      Đấu thầu

      hàng hoá, dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên mua hàng hoá, dịch vụ

      thông qua mời thầu (gọi là bên mời thầu) nhằm lựa chọn trong số các thương nhân

      tham gia đấu thầu (gọi là bên dự thầu) thương nhân đáp ứng tốt nhất các yêu cầu

      do bên mời thầu đặt ra và được lựa chọn để ký kết và thực hiện hợp đồng (gọi là

      bên trúng thầu). (K1-Đ214)

      Đặc điểm:

       Các đặc điểm của hoạt động thương mại

       Luôn gắn liền với mua bán hàng hóa và cung ứng dịch

      vụ. Đấu thầu chỉ được tổ chức khi thương nhân có nhu cầu mua sắm hàng hóa hoặc

      sử dụng dịch vụ với mục đích lựa chọn người cung cấp hàng hóa, dịch vụ tốt nhất.

      Đấu thầu

      là giai đoạn tiền hợp đồng cung cấp hàng hóa, dịch vụ giữa các bên trong hoạt động

      thương mại, không có tính độc lập.

       Các bên trong quan hệ đấu thầu hàng hóa, dịch vụ

      cũng chính là các bên mua và bán hàng hóa, dịch vụ. Bên mời thầu có nhu cầu mua

      sắm, bên dự thầu có năng lực cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho gói thầu. Trong

      quan hệ này không xuất hiện thương nhân chuyên kinh doanh dịch vụ đấu thầu hàng

      hóa dịch vụ (mặc dù có sự tham gia của một số trung tâm và các giai đoạn của quy

      trình tổ chức đầu thầu như các côg ty tư vấn giúp lập hồ sơ mời thầu, tổ chuyên

      gia đánh giá hồ sơ dự thầu..)

       Quan hệ đấu thầu hàng hóa, dịch vụ luôn được xác lập

      giữa một bên mời thầu và nhiều nhà thầu. Vì đầu thầu là phương thức để giúp người

      mua lựa chọn người bán do đó trong mỗi gói thầu phải tạo ra sự cạnh tranh càng lớn

      càg tốt giữa những người có năng lực bán hàng. Về nguyên tắc, số lượng nhà thầu

      tham dự một gói thầu phải nhiều hơn 1.

       Hình thức pháp lý của quan hệ đầu thầu hàng hóa dịch

      vụ là hồ sơ mời thầu và hồ sơ dự thầu, đó là các cơ sở pháp lý cho việc xác lập,

      thay đổi, chấm dứt quyền v à nghĩa vụ của các bên trong quan hệ đấu thầu hàng

      hóa, dịch vụ.

      Phương thức đấu thầu hàg hóa, dịch vụ

       Đấu thầu một túi: bên dự thầu nộp hồ sơ dự thầu gồm

      đề xuất về kỹ thuật, đề xuất về tài chính trong một túi hồ sơ theo yêu cầu của

      hồ sơ mời thầu để nhà mời thầu xem xét và đánh giá chung và việc mở thầu được

      tiến hành một lần.

       Đấu thầu hai túi: (thường áp dụng khi hàng hóa dịch

      vụ có yêu cầu đặc biệt về chỉ tiêu khĩ thuật)bên dự thầu nộp hồ sơ dự thầu gồm

      đề xuất về kỹ thuật, đề xuất về tài chính trong từng túi hồ sơ riêng biệt được

      nộp trong cùng một thời điểm và việc mở thầu được tiến hành hai lần. Hồ sơ đề

      xuất về kỹ thuật sẽ được mở trước, những nhà thầu nào đạt điểm số về kĩ thuật

      nhất định theo tiêu chuẩn mới được mở tiếp túi hồ sơ đề xuất để so sánh giá

      Câu 33: trình bày về các phương thức đấu thầu hàng hóa dịch vụ và thủ tục, trình tự đấu thầu hàg hóa, dịch vụ

      Phương thức

      đấu thầu hàg

      hóa, dịch vụ

       Đấu thầu một túi: bên dự thầu nộp hồ sơ dự thầu gồm

      đề xuất về kỹ thuật, đề xuất về tài chính trong một túi hồ sơ theo yêu cầu của

      hồ sơ mời thầu để nhà mời thầu xem xét và đánh giá chung và việc mở thầu được

      tiến hành một lần.

       Đấu thầu hai túi: (thường áp dụng khi hàng hóa dịch

      vụ có yêu cầu đặc biệt về chỉ tiêu khĩ thuật)bên dự thầu nộp hồ sơ dự thầu gồm

      đề xuất về kỹ thuật, đề xuất về tài chính trong từng túi hồ sơ riêng biệt được

      nộp trong cùng một thời điểm và việc mở thầu được tiến hành hai lần. Hồ sơ đề

      xuất về kỹ thuật sẽ được mở trước, những nhà thầu nào đạt điểm số về kĩ thuật

      nhất định theo tiêu chuẩn mới được mở tiếp túi hồ sơ đề xuất để so sánh giá

      Trình tự thủ tục:

       Mời thầu: bên mua sản phẩm đưa ra lời đề nghị mua

      hàng, dịch vụ kèm theo những điều kiện cụ thể của việc cung cấp sản phẩm. Cần

      tiến hành các bước

       Sơ tuyển nhà thầu: Bên mời thầu

      có thể tổ chức sơ tuyển các bên dự thầu nhằm lựa chọn những bên dự thầu có khả

      năng đáp ứng các điều kiện mà bên mời thầu đưa ra. Thường áp dụng với những gói

      thầu lớn hoặc hàng hóa dịch vụ có yêu cầu phức tạp về công nghệ, hoặc trường hợp

      mà chi phí làm hồ sơ dự thầu cao khiến cho các nhà thầu ngần ngại tham dự hoặc

      chi phí cho việc đánh giá tất cả các hồ sơ dự thầu quá lớn. Lúc đó bên mời thầu

      sẽ gửi thư mời sơ tuyển, các

       Chuẩn bị hồ sơ mời thầu: là một

      trong những yếu tố căn bản quyết định chất lượng và hiệu quả gói thầu, bên mời

      thầu cần chuẩn bị những hồ sơ cần thiết để bên dự thầu chuẩn bị hồ sơ dự thầu

      đến hàng hóa, dịch vụ được đấu thầu; Phương pháp đánh giá, so sánh, xếp hạng và

      bên mời thầu sửa đổi một số nội dung trong hồ sơ mời thầu thì phải gửi thông

      báo bằng văn bản cho tất cả các bên dự thầu trước ít nhất là 10 ngày để các bên

      dự thầu hoàn chỉnh hồ sơ của mình. Việc thu lệ phí phát hành hồ sơ do bên mời

      thầu tự qui định (đôi khi lệ phí thu cũng bị pháp luật giời hạn)

       Thông báo mời thầu: Tất cả các

      gói thầu khi tổ chức đấu thầu đều phải thông báo rộng rãi, thông báo nhằm đưa đến

      các thông tin sau đây: Tên, địa chỉ của bên mời thầu; Tóm tắt nội dung đấu thầu;

      Thời hạn, địa điểm và thủ tục nhận hồ sơ mời thầu; Thời hạn, địa điểm, thủ tục

      nộp hồ sơ dự thầu; Những chỉ dẫn để tìm hiểu hồ sơ mời thầu. Hình thức của

      thông báo mời thầu cũng phải phù hợp hình thức đấu thầu.

       Dự thầu: Các nhà thầu phải là thương nhân và cần có

      những tiêu chuẩn nhất định, hồ sơ dự thầu bao gồm các tài liệu lập theo yêu cầu

      của hồ sơ mời thầu. hồ sơ phải được niêm phong, trên túi hồ sơ ghi rõ tên gói

      thầu, tên dự án tên địa chỉ nhà thầu kèm theo dòng chữ “không được mở ra trước ngày…giờ…”.

      Hồ sơ mời thầu phải được nộp trước thời điểm đóng thầu. Hồ sơ dự thầu phải được

      bảo mật theo qui định của luật. các nhà thầu phải nộp 1 khoản tiền đảm bảo dự

      thầu (khoản này sẽ được trả lại cho nhà thầu nếu không trúng thầu, nhà thầu sẽ

      không được hoàn lại trong các trường hợp: trúng thầu mà không kí hợp đồng hoặc

      từ chối thực hiện hợp đồng; rút hồ sơ dự thầu sau thời điểm đóng thầu; có sự vi

      phạm qui chế đấu thầu).

       Mở thầu: là việc tổ chức mở hồ sơ dự thầu tại thời

      điểm đã được ấn định hoặc trong trường hợp không có thời điểm được ấn định trước

      thì thời điểm mở thầu là ngay sau khi đóng thầu. Sau khi mở thầu các bên không

      được sửa đổi hồ sơ dự thầu tuy nhiên trong quá trình đánh giá có thể yêu cầu

      theo các bước: thông báo thành phần tham dự, thông báo số lượng và tên nhà thầu

      đã nộp hồ sơ đấu thầu, kiểm tra niêm phong các hồ sơ dự thầu, ghi bên bản mở

      thầu, tổ

      chuyên gia hoặc bên mời thầu kí xác nhận vào từng trang chính các tài liệu để

      làm cơ sở cho việc đánh giá, thông qua biên bản mở thầu.

       Đánh giá và so sánh hồ sơ dự thầu: Hồ sơ dự thầu được

      đánh giá và so sánh theo từng tiêu chuẩn làm căn cứ để đánh giá toàn diện. ác

      tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu do bên mời thầu quy định. Có thể đánh giá

      theo thang điểm hoặc theo những các phương pháp khác đã được ấn định trước khi

      mở thầu. Việc đánh giá tiến hành theo 2 bước: đánh giá về mặt kĩ thuật của hồ

      sơ dự thầu và đánh giá về tài chính thương mại

       Xếp hạng và lựa chọn nhà thầu Căn cứ vào kết quả

      đánh giá hồ sơ dự thầu, bên mời thầu phải xếp hạng và lựa chọn các bên dự thầu

      theo phương pháp đã được ấn định. Trong trường hợp có nhiều bên tham gia dự thầu

      có số điểm, tiêu chuẩn trúng thầu ngang nhau thì bên mời thầu có quyền chọn nhà

      thầu.

       Thông báo kết quả thầu và kí hợp đồng: Ngay sau khi

      có kết quả đấu thầu, bên mời thầu có trách nhiệm thông báo kết quả đấu thầu cho

      bên dự thầu. Bên mời thầu tiến hành hoàn thiện và ký kết hợp đồng với bên trúng

      thầu trên cơ sở: Kết quả đấu thầu; Các yêu cầu nêu trong hồ sơ mời thầu; Nội

      dung nêu trong hồ sơ dự thầu.

      Câu 34: Phân tích đặc điểm của đấu thầu hàng hóa dịch vụ. Phân biệt với đấu

      giá hàng hóa

      theo qui

      định của Luật Thương mại 2005.

      Đấu thầu

      hàng hoá, dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên mua hàng hoá, dịch vụ

      thông qua mời thầu (gọi là bên mời thầu) nhằm lựa chọn trong số các thương nhân

      tham gia đấu thầu (gọi là bên dự thầu) thương nhân đáp ứng tốt nhất các yêu cầu

      do bên mời thầu đặt ra và được lựa chọn để ký kết và thực hiện hợp đồng (gọi là

      bên trúng thầu). (K1-Đ214)

      Đặc điểm:

       Các đặc điểm của hoạt động thương mại

       Luôn gắn liền với mua bán hàng hóa và cung ứng dịch

      vụ. Đấu thầu chỉ được tổ chức khi thương nhân có nhu cầu mua sắm hàng hóa hoặc

      sử dụng dịch vụ với mục đích lựa chọn người cung cấp hàng hóa, dịch vụ tốt nhất.

      Đấu thầu

      là giai đoạn tiền hợp đồng cung cấp hàng hóa, dịch vụ giữa các bên trong hoạt động

      thương mại, không có tính độc lập.

       Các bên trong quan hệ đấu thầu hàng hóa, dịch vụ

      cũng chính là các bên mua và bán hàng hóa, dịch vụ. Bên mời thầu có nhu cầu mua

      sắm, bên dự thầu có năng lực cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho gói thầu. Trong

      quan hệ này không xuất hiện thương nhân chuyên kinh doanh dịch vụ đấu thầu hàng

      hóa dịch vụ (mặc dù có sự tham gia của một số trung tâm và các giai đoạn của

      quy trình tổ chức đầu thầu như các côg ty tư vấn giúp lập hồ sơ mời thầu, tổ

      chuyên gia đánh giá hồ sơ dự thầu..)

       Quan hệ đấu thầu hàng hóa, dịch vụ luôn được xác lập

      giữa một bên mời thầu và nhiều nhà thầu. Vì đầu thầu là phương thức để giúp người

      mua lựa chọn người bán do đó trong mỗi gói thầu phải tạo ra sự cạnh tranh càng

      lớn càg tốt giữa những người có năng lực bán hàng. Về nguyên tắc, số lượng nhà

      thầu tham dự một gói thầu phải nhiều hơn 1.

       Hình thức pháp lý của quan hệ đầu thầu hàng hóa dịch

      vụ là hồ sơ mời thầu và hồ sơ dự thầu, đó là các cơ sở pháp lý cho việc xác lập,

      thay đổi, chấm dứt quyền v à nghĩa vụ của các bên trong quan hệ đấu thầu hàng

      hóa, dịch vụ.

      Phân biệt với đầu giá hàng hóa:

      Tiêu chí

      Đầu thầu hàng hóa dịch vụ

      Đấu giá hàng hóa

      Khái niệm

       

      Là hoạt động thương mại, theo đó một bên mua hàng hoá, dịch vụ thông

      qua mời thầu nhằm lựa chọn trong số các thương nhân tham gia đấu thầu thương

      nhân đáp ứng tốt nhất các yêu cầu do bên mời thầu đặt ra và được lựa chọn để

      ký kết và thực hiện hợp đồng

      Là hoạt động thương mại, theo đó người bán hàng tự mình hoặc thuê người

      tổ chức đấu giá thực hiện việc bán hàng hoá công khai để chọn người mua trả

      giá cao nhất

       

      Chủ thể

       

      Tất cả đều là thương nhân

      Trong đó có nhiều chủ thể cung cấp sản phẩm

      Không có thương nhân hoặc chỉ bên bán là thương nhâncó nhiều

      chủ thể mua sản phẩm

      Đối tượng

       

      Hàng hóa và dịch vụ

      Hàng hóa

       

      Hình thức p.lí

       

      Hồ sơ mời thầu và hồ sơ dự thầu

       

      Hợp đồng ủy quyền bán đấu giá và văn bản bán đấu giá

      Tiêu chí lựa chọn

      Nhiều tiêu chí khác nhau

      Giá cao nhất

       

      Câu 35: Trình bày về: Khái niệm gia công hàng hóa trong thương mại, hình thức và nội dung cơ bản của hợp

      đồng gia công

      Đ178: “Gia công trong thương mại là  hoạt động thương mại, theo đó bên nhận gia

      công  sử dụng một phần hoặc toàn bộ

      nguyên liệu, vật liệu của bên đặt gia công 

      để thực hiện một hoặc nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất  theo yêu cầu của bên đặt gia công  để hưởng thù lao”.

      Hình thức:

      văn bản hoặc tương đương (179 Luật Thương mại )

      Nội dung

      cơ bản của hợp đồng gia công: các điều khoản: hàng gia công (bắt buộc phải có đối

      tượng: hàng hóa được xác định trước theo mẫu theo tiêu chuẩn mà các bên thỏa

      thuận hoặc pháp luật qui định), thù lao gia công, thời hạn…

      Câu 36: Trình bày về: Khái niệm gia công hàng hóa trong thương mại, quyền và những nghĩa vụ cơ bản của

      mỗi bên trong

      quan h

      gia công hàng hóa.

      Khái niệm:

      Gia công trong thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận gia công sử

      dụng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu của bên đặt gia công để thực

      hiện một hoặc nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất theo yêu cầu của bên đặt

      gia công để hưởng thù lao. (178 Luật Thương mại)

      Bên nhận gia công

       Cung ứng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu

      để gia công theo thỏa thuận với bên đặt gia công về số lượng, chất lượng, tiêu

      chuẩn kỹ thuật và giá.

       Nhận thù lao gia công và các chi phí hợp lý khác.

      (thù lao gia công có thể bằng tiền và máy móc gia công)

       Trường hợp nhận gia công cho tổ chức, cá nhân nước

      ngoài, bên nhận gia công được xuất khẩu tại chỗ sản phẩm gia công, máy móc, thiết

      bị thuê hoặc mượn, nguyên liệu, phụ liệu, vật tư dư thừa, phế phẩm, phế liệu

      theo uỷ quyền của bên đặt gia công.

       Trường hợp nhận gia công cho tổ chức, cá nhân nước

      ngoài, bên nhận gia công được miễn thuế nhập khẩu đối với máy móc, thiết bị,

      nguyên liệu, phụ liệu, vật tư tạm nhập khẩu theo định mức để thực hiện hợp đồng

      gia công theo quy định của pháp luật về thuế.

       Chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của hoạt động gia

      công hàng hoá trong trường hợp hàng hoá gia công thuộc diện cấm kinh doanh, cấm

      xuất khẩu, cấm nhập khẩu.

      Bên đặt gia

      công

       Giao một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu

      gia công theo đúng hợp đồng gia công hoặc giao tiền để mua vật liệu theo số lượng,

      chất lượng và mức giá thoả thuận.

       Nhận lại toàn bộ sản phẩm gia công, máy móc, thiết

      bị cho thuê hoặc cho mượn, nguyên liệu, phụ liệu, vật tư, phế liệu sau khi

      thanh lý hợp đồng gia công, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

       Bán, tiêu huỷ, tặng biếu tại chỗ sản phẩm gia công,

      máy móc, thiết bị cho thuê hoặc cho mượn, nguyên liệu, phụ liệu, vật tư dư thừa,

      phế phẩm, phế liệu theo thoả thuận và phù hợp với quy định của pháp luật.

       Cử người đại diện để kiểm tra, giám sát việc gia

      công tại nơi nhận gia công, cử chuyên gia để hướng dẫn kỹ thuật sản xuất và kiểm

      tra chất lượng sản phẩm gia công theo thoả thuận trong hợp đồng gia công.

       Chịu trách nhiệm đối với tính hợp pháp về quyền sở

      hữu trí tuệ của hàng hoá gia công, nguyên liệu, vật liệu, máy móc, thiết bị

      dùng để gia công chuyển cho bên nhận gia công.

      Câu 37: Trình bày về khái niệm cho thuê hàng hóa, hình thức và những nội dung cơ bản của

      hợp đồng cho thuê hàng hóa

      Cho thuê

      hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó một bên chuyển quyền chiếm hữu và sử

      dụng hàng hoá (gọi là bên cho thuê) cho bên khác (gọi là bên thuê) trong một thời

      hạn nhất định để nhận tiền cho thuê.

      Hình thức:

      theo hình thức chung của hợp đồng

      Nội dung:

      hàng hóa cho thuê, thời hạn, việc cho thuê lại, thù lao…

      Câu 38: Trình bày khái niệm

      dịch vụ giám định thương mại và giá tr

      pháp lí của chứng thư giám định

      Khái niệm:

      Dịch vụ

      giám định là hoạt động thương mại, theo đó một thương nhân thực hiện những công

      việc cần thiết để xác định tình trạng thực tế của hàng hoá, kết quả cung ứng dịch

      vụ và những nội dung khác theo yêu cầu của khách hàng. (Điều 254)

      Giá trị pháp lí của chứng thư giám định

      Chứng thư

      giám định là văn bản xác định tình trạng thực tế của hàng hóa, dịch vụ theo các

      nội dung giám định được khách hàng yêu cầu

      Giá trị

      pháp lí:

      Điều kiện:

      phải có chữ ký của người đại diện có thẩm quyền của thương nhân kinh doanh dịch

      vụ giám định, chữ ký, họ tên của giám định viên và phải được đóng dấu nghiệp vụ

      được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền.

      Phạm vi:

      chỉ có giá trị đối với những nội dung được giám định.

      Không có

      giá trị pháp lí trong trường hợp: bên yêu cầu hoặc các bên trong hợp đồng chứng

      minh được kết quả giám định không khách quan, trung thực hoặc sai về kĩ thuật,

      nghiệp vụ giám định. Thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định phải chịu trách

      nhiệm về tính chính xác của kết quả và kết luận trong chứng thư giám định.

      Chứng thư

      giám định có giá trị pháp lí đối với bên yêu cầu giám định, với các bên trong hợp

      đồng nếu các bên có thỏa thuận về việc sử dụng chứng thư giám định của một

      thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định. Nếu các bên trong hợp đồng không thỏa

      thuận về việc sử dụng dịch vụ giám định của 1 thương nhân kinh doanh dịch vụ

      giám định này thì chứng thư giám định chỉ có giá trị với một bên yêu cầu, bên

      kia có thể yêu cầu giám định lại, nếu kết quả giám định 2 lần khác nhau mà

      thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định lần 1 thừa nhận kết quả lần 2 thì theo

      kết quả lần 2, nếu thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định lần 1 không thừa nhận

      thì các bên trong hợp đồng phải thỏa thuận lại để chọn 1 thương nhân kinh doanh

      dịch vụ giám định thứ 3 và kết quả giám định này có giá trị với tất cả các bên

      trong hợp đồng.

      Câu 39: Phân tích các điều kiện kinh doanh dịch vụ

      giám định thương mại, quyền và nghĩa vụ của thương nhân kinh

      doanh dịch vụ giám định thương mại

      Dịch vụ

      giám định là hoạt động thương mại, theo đó một thương nhân thực hiện những công

      việc cần thiết để xác định tình trạng thực tế của hàng hoá, kết quả cung ứng dịch

      vụ và những nội dung khác theo yêu cầu của khách hàng.

      Điều kiện

      kinh doanh dịch vụ giám định thương mại:

      Thương

      nhân kinh doanh dịch vụ giám định thương mại phải có đủ điều kiện theo quy định

      tại Điều 257 LTM, bao gồm:

       Phải được tổ chức dưới hình thức doanh nghiệp. Các

      thương nhân khác không phải là doanh nghiệp (như: tổ hợp tác, hộ kinh doanh cá

      thể) sẽ không được kinh doanh dịch vụ giám định hàng hóa.

       Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng

      nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ giám định thương mại.

       Là doanh nghiệp hoạt động độc lập và chuyên kinh

      doanh dịch vụ giám định thương mại. Các doanh nghiệp này không được cung ứng dịch

      vụ thương mại và mua bán hàng hóa trừ các hàng hóa phục vụ cho việc kinh doanh

      dịch vụ giám định hàng hóa của doanh nghiệp. Mục đích của quy định này để đảm bảo

      tính độc lập, khách quan của của hoạt động giám định thương mại do thương nhân

      kinh doanh dịch vụ giám định tiến hành.

       Có giám định viên có trình độ chuyên môn; có quy

      trình, phương pháp giám định trong lĩnh vực hàng hóa, dịch vụ được yêu cầu giám

      định. Thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định có quyền ra quyết định công nhận

      giám định viên đối với người có đủ tiêu chuẩn theo quy định của của pháp luật và

      chịu trách nhiệm về việc giám định của giám định viên của mình.

       Các thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định thương

      mại còn phải tiến hành việc đăng ký đấu nghiệp vụ theo tiêu chuẩn tại khoản 2

      Điều 8 Nghị định 20/2006/NĐ-CP. Việc lập hồ sơ đăng kí theo quy định tại khoản

      1 Điều 10 Nghị định 20/2006/NĐ-CP và nộp tại Sở thương mại nơi thương nhân đó

      đăng ký kinh doanh (khoản 1 Điều 9 Nghị định 20/2006/NĐ-CP).

      Riêng các

      tổ chức giám định được cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Hải quan, Quản lý Thị

      trường, Toà án, Công an, Kiểm sát, Thanh tra…) trưng dụng thực hiện giám định

      sau đây:

       Tổ chức giám định đã hoạt động ít nhất 18 tháng kể

      từ ngày được cấp giấy đăng ký kinh doanh dịch vụ giám định.

       Có giám định viên đạt tiêu chuẩn quy định trong Nghị

      định 20/2006/NĐ-CP của Chính phủ.

       Có đủ phương tiện kỹ thuật, thử nghiệm được các chỉ

      tiêu quan trọng chủ yếu của hàng hoá đăng ký kiểm tra.

       Có quy trình nghiệp vụ kỹ thuật giám định phù hợp với

      hàng hoá cần được giám định theo trưng dụng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

       Được cấp một trong ba loại chứng chỉ (đang còn thời

      hạn hiệu lực) sau đây:

       Chứng chỉ công nhận tổ chức phù hợp

      Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN/ISO/IEC 17020:2001 do Văn phòng Công nhận Chất lượng thuộc

      Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng cấp đối với lĩnh vực hàng hoá đăng ký

      được kiểm tra.

       Chứng chỉ công nhận Phòng thử

      nghiệm phù hợp Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN/ISO/IEC 17025:2002 do Văn phòng Công nhận

      Chất lượng thuộc Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng cấp đối với phạm vi thử

      nghiệm các chỉ tiêu cơ bản của hàng hoá đăng ký được kiểm tra.

       Chứng chỉ chứng nhận hệ thống quản

      lý chất lượng đối với hoạt động giám định phù hợp Tiêu chuẩn Việt Nam ISO 9000

      do các Tổ chức chứng nhận cấp.

      Như vậy,

      kinh doanh dịch vụ giám định là loại hình kinh doanh có điều kiện,một thương

      nhân muốn hoạt động kinh doanh dịch vụ giám định phải được Sở Kế hoạch Đầu tư của

      các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp giấy phép. Thương nhân là người

      nước ngoài chỉ được thực hiện dịch vụ giám định hàng hoá tại Việt Nam hoặc được

      thành lập chi nhánh tại Việt Nam khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho

      phép, phù hợp với Luật Thương mại và Luật Đầu tư nước ngoài Các thương nhân có

      quyền cung cấp dịch vụ giám định cho khách hàng theo đúng quy định trong giấy

      chứng nhận đăng ký kinh doanh do cơ quan nhà nước có

      thẩm quyền

      cấp. Tuy nhiên, làm thế nào để biết được một thương nhân có đủ năng lực kỹ thuật

      và năng lực quản lý để cung cấp dịch vụ giám định thông qua các chứng thư giám

      định là có chất lượng và đáng tin cậy? Điều này chỉ có thể được giải quyết thông

      qua hoạt động công nhận năng lực giám định của một cơ quan độc lập, khách quan

      tiến hành.

      Quyền và nghĩa

      vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định thương mại

      Quyền

       Yêu cầu khách hàng cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp

      thời các tài liệu cần thiết để thực hiện dịch vụ giám định;

       Nhận thù lao dịch vụ giám định và các chi phí hợp

      lý khác,

       Được ủy quyền cho doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ

      giám định hàng hóa khác thực hiện việc giám định của mình.

      Nghĩa vụ

       Bảo đảm việc giám định hàng hóa phù hợp với nội

      dung kinh doanh đã đăng kí theo đúng yêu cầu của bên yêu cầu giám định;

       Thực hiện việc giám định hàng hóa một cách độc lập,

      trung lập, khách quan, khoa học, kịp thời và chính xác;

       Cấp chứng thư giám định phù hợp với yêu cầu giám định

      và phải chịu trách nhiệm trước các bên yêu cầu giám định và trước pháp luật về

      kết quả giám định;

       Chịu trách nhiệm tài sản đối với khách hàng do giám

      định sai (nếu sai do lỗi vô ý thì trả tiền phạt cho khách hàng, mức phạt các

      bên thỏa thuận nhưng không được quá 10 lần thù lao dịch vụ, nếu sai do lỗi cố ý

      thì phải bồi thường thiệt hại cho khách hàng)

      Câu 40: Trình bày khái niệm về gia công hàng

      hóa trong thương mại. Phân biệt hợp đồng gia công với hợp đồng hợp tác kinh

      doanh

      Khái niệm:

      Gia công trong thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận gia công sử

      dụng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu của bên đặt gia công để thực

      hiện một hoặc nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất theo yêu cầu của bên đặt

      gia công để hưởng thù lao. (178 Luật Thương mại )

      Phân biệt Gia công với Hợp tác trong kinh doanh

      Giống Đều cùng hợp

      tác để tạo nên sản phẩm

      Tiêu chí

      Hợp đồng gia công

      Hợp đồng hợp tác kinh doanh

      Mục đích lợi nhuận

      chỉ có ở bên nhận gia công

      ở cả 2 bên

      Đối tượng

      Bên nhận gia công là thương nhân, còn lại có thể không

      Cả 2 đều là thương nhân

       

      Phân chia lợi nhuận

      Bên nhận gia công được trả

      thù lao

      Chia % đối với lợi nhuận

       

      Câu 41: Phân tích các đặc điểm của chế tài thương mại

      theo qui định của Luật Thương mại và các căn cứ áp dụng đối với từng loại

      chế tài.

      Đặc điểm: Chế

      tài TM đc hiểu theo 2 nghĩa:

      – Nghĩa rộng: Là chế tài áp dụng đối với những tổ

      chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại (đối với

      tổ chức, cá nhân quy định tại Điều 320 -LTM – Đối với cả những hành vi vi phạm

      hợp đồng trong thương mại).

       Áp dụng với hành vi vi phạm hợp đồng đã có hiệu lực.

       Nội dung gắn liền với việc thực hiện nghĩa vụ theo

      hợp đồng và trách nhiệm về tài sản.

       Do cơ quan có thẩm quyền áp dụng hoặc do bên bị vi

      phạm áp dụng

      Câu 42: Phân tích nội dung và ý nghĩa của chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

      Câu 43: Phân tích nội dung và ý nghĩa của chế tài phạt vi phạm. So sánh chế tài bồi thường thiệt hại với

      chế tài phạt vi phạm.

      Câu 44: Phân tích nội dung và ý nghĩa của chế tài bồi thường thiệt hại.

      So sánh chế tài bồi thường thiệt hại với

      chế tài phạt vi phạm.

      Câu 45: Phân tích căn cứ áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp

      đồng và nội dung của chế tài buộc thực hiện đúng hợp

      đồng.

      Câu 46: Phân tích căn cứ áp dụng chế tài phạt vi phạm và nội dung qui định pháp luật về chế tài phạt vi phạm.

      Câu 47: Phân tích căn cứ áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại và nội dung qui định pháp

      luật về chế tài bồi thường thiệt hại trong thương mạil

      Câu 48: Phân tích khái niệm chế tài tạm ngừng, đình chỉ, hủy bỏ hợp đồng và

      nêu căn cứ áp dụng các chế tài đó.

      Câu 49: phân tích các trường hợp miễn áp dụng chế tài thương mại và chonví dụ với từng trường hợp.

      Câu 50: Phân tích đặc điểm của tranh chấp thương mại

      và nêu

      khái quát 4 hình thức giải quyết tranh chấp thương mại

      Tranh chấp

      thương mại là những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa

      các bên trong quá trình thực hiện hoạt động thương mại.

      Đặc điểm:

      Tranh chấp

      thương mại phải hội tụ đủ các yếu tố:

       Là những mâu thuẫn bất đồng về

      quan điểm của các bên trong mối quan hệ cụ thể.

       Phát sinh từ hoạt động thương mại

       Phát sinh chủ yếu giữa các thương

      nhân

      4 hình thức giải quyết tranh chấp thương mại

       Thương lượng: Là phương thức giải quyết tranh chấp

      thương mại thông qua việc các bên cùng nhau bàn bạc, tự dàn xếp, tháo gỡ những

      bất đồng phát sinh để loại bỏ tranh chấp mà không cần có sự trợ giúp hay phán quyết

      của bất kì bên thứ 3 nào.

      Hòa giải: Là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại với sự tham

      gia của bên thứ 3 làm trung gian hòa giải để hỗ trợ, thuyết phục các bên tranh

      chấp tìm kiếm các giải pháp nhằm loại trừ tranh chấp đã phát sinh.

      Trọng tài thương mại: Là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh

      trong hoạt động thương mại được các bên thỏa thuận và được tiến hành theo trình

      tự, thủ tục tố tụng do Pháp lệnh Trọng tài thương mại quy định.

       Tòa án: Là phương thức giải quyết tranh chấp thương

      mại tại cơ quan xét xử nhân danh quyền lực Nhà nước, được tiến hành theo trình

      tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ và bản án hay quyết định của Tòa án về vụ

      tranh chấp nếu không có sự tự nguyện tuân thủ sẽ được bảo đảm thi hành bằng sức

      mạnh cưỡng

      chế của Nhà nước.

      Câu 51: Phân tích khái niệm của trọng tài

      thương mại và phân biệt hai hình thức trọng tài thương mại

      Khái niệm: Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết

      tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại được các bên thỏa thuận và được

      tiến hành theo trình tự, thủ tục tố tụng do Pháp lệnh Trọng tài thương mại quy

      định.

      Là một

      phương thức giải quyết tranh chấp thương mại.

      Do các

      bên thỏa thuận: linh hoạt, mềm dẻo trong thủ tục, bảo đảm tối đa quyền tự định

      đoạt của các bên và bảo đảm uy tin cho các bên, giữ gìn bí mật kinh doanh cho

      các bên.

      Không có

      cơ chế riêng cho việc bảo đảm thực thi phán quyết.

      Phân biệt hai hình thức trọng tài thương mại

      Tiêu chí

      Trọng tài vụ việc

      Trọng tài thường trực (quy chế)

      Khái

      niệm

      Là phương thức trọng tài do các bên tranh chấp thỏa thuận thành lập để

      giải quyết vụ việc giữa các bên và trọng sẽ chấm dứt sự tồn tại khi giải quyết

      xong vụ tranh chấp.

      Là trọng tài có tổ chức được thành lập để hoạt động một cách thường

      xuyên, có trụ sở và điều lệ và có quy tắc xét xử riêng.

       

      Tổ chức

       

      Không có tổ chức, không có bộ máy, không có trụ sở, không có qui chế

      riêng, không có nguyên tắc tố tụng

      Tổ chức thành trung tâm trọng tài, có tư cách pháp nhân, là tổ chức

      phi chính phủ, có qui chế riêng.

      Thành

      lập và giải thể

       

      Thành lập khi các bên phát sinh tranh chấp thỏa thuận lựa chọn

      Chấm dứt khi giải quyết xong vụ việc

      Thành lập và chấm dứt theo các qui định của pháp lệnh trọng đài

       

      Câu 52: Phân tích đặc điểm, ưu điểm, hạn chế của 2

      hình thức giải quyết tranh chấp thương mại: Thương

      lượng và hòa giải.

      Đặc điểm

       

      Thương lượng

      Hòa giải

      Cơ chế

      Các bên tranh chấp tự gặp nhau bàn bạc thỏa thuận

       

      Có sự hiện diện của bên thứ ba làm trung gian để trợ giúp các bên tìm

      kiếm giải pháp tối ưu nhằm loại trừ tranh chấp

      Quá trình

      Không chịu bất kì ràng buộc của nguyên tắc pháp lí hay qui định khuôn

      mẫu nào về giải quyết tranh chấp

      Kết quả

      Kết quả hoàn toàn phụ thuộc vào các bên và không được bảo đảm thi

      hành

      Ưu điểm

      Đơn giản, hiệu quả, nhanh chóng, thuận tiện, ít tốn kém

      Bảo vệ uy tín cho các bên tranh chấp, bảo vệ bí mật kinh doanh

       

       

      Cơ hội thành công cao hơn vì có người thứ

      ba

      Nhược điểm

      Không được đảm bảo bởi cơ chế bắt buộc

       

       

      Uy tín, bí mật kinh doanh vẫn bị ảnh hưởng;

      Tốn kém chi phí dịch vụ cho người thứ 3

      Câu 53: Phân tích đặc điểm của trọng tài thương mại

      thường trực. Phân biệt trọng tài thương mại thường trực và trọng tài kinh tế nhà nước trước đây

      Trọng tài

      thường trực là trọng tài có tổ chức được thành lập để hoạt động một cách thường

      xuyên, có trụ sở và điều lệ và có quy tắc xét xử riêng.

      Đặc điểm:

       Là tổ chức phi chính phủ, không nằm trong hệ thống

      các cơ quan nhà nước: được thành lập theo sáng kiến của trọng tài viên khi được

      cơ quan có thẩm quyền cho phép.

       Có tư cách pháp nhân và các trung tâm trọng tài tồn

      tại độc lập với nhau

       Tổ chức và quản lí đơn gian gọn nhẹ: gồm ban điều

      hành và các trọng tài viên của trung tâm, ban điều hành gồm có 1 chủ tịch và 1

      hoặc các phó chủ tịch.

       Mỗi trung tâm trọng tài tự quyết định về lĩnh vực

      hoạt động và có qui tắc tố tụng riêng.

      Phân biệt trọng tài thương mại thường trực và trọng

      tài kinh tế nhà nước trước đây

      Tiêu chí

      Trọng tài thường trực

      Trọng tài vụ việc

      Kn

      Đc tổ chức dưới dạng các t.tâm trọng tài, là tổ chức phi chính

      phủ, có tư cách pháp nhân, có con dâu riêng, có tài khoản riêng và trụ sở

      giao dịch ổn định

      Là p.thức do các bên tr/chấp thỏa thuận t.lập để g.quyết vụ

      tr.chấp giữa các bên & t.tài sẽ tự chấm dứt h.động khi g.quyết xong vụ

      tr.chấp

      Đặc điểm

      + là tổ chức phi chính phủ (tổ chức xã hội- nghề nghiệp), ko nằm

      trong hệ thống cơ quan nhà nước. t.lập theo sáng kiến of t.tài viên, h.động

      theo n.tắc tự trang trải kinh phí

      + mỗi t.tâm t.tài tự q.định lĩnh vực h.động & có q.tắc tt

      riêng.( các t.tâm tt tồn tại độc lập nhau)

      + có tư cách pháp nhân, tồn tại độc lập với nhau.

      + t.chức ở các t.tâm tt rất đơn giản gọn nhẹ (gồm ban điều hành

      và các ttv)

      +h.động xx of các t.tâm tt đc tiến hành bởi các t.tài viên of

      t.tâm

      +Chỉ đc t.lập khi phát sinh tr.chấp & tự chấm dứt hoạt động

      +ko có trụ sở thường trực, ko có bộ máy điều hành & ko có

      danh sách t.tài viên riêng.

      + ko có quy tắc TT rành riêng cho mình (do các bên thỏa thuận

      nào

      Câu 54: Khái niệm, đặc điểm của trung tâm trọng tài thương mại thường

      trực. Hãy làm rõ bản chất phi chính phủ của tổ chức trọng

      tài thường trực

      Khái niệm:

      Là một tổ

      chức phi chính phủ, hoạt động với tư cách là 1 tổ chức nghề nghiệp, do các trọng

      tài viên thành lập ra để giải quyết các tranh chấp thương mại

      Đặc điểm:

       Là tổ chức phi chính phủ, không nằm trong hệ thống

      các cơ quan nhà nước: được thành lập theo sáng kiến của trọng tài viên khi được

      cơ quan có thẩm quyền cho phép.

       Có tư cách pháp nhân và các trung tâm trọng tài tồn

      tại độc lập với nhau

       Tổ chức và quản lí đơn gian gọn nhẹ: gồm ban điều

      hành và các trọng tài viên của trung tâm, ban điều hành gồm có 1 chủ tịch và 1

      hoặc các phó chủ tịch.

       Mỗi trung tâm trọng tài tự quyết định về lĩnh vực

      hoạt động và có qui tắc tố tụng riêng.

      Bản chất phi chính phủ được thể hiện ở những điểm sau:

       Việc thành lập là do sáng kiến của trọng tài viên

      (ít nhất là 5 người, những người đủ tiêu chuẩn trọng tài viên) được hội luật

      gia Việt Nam

      giới thiệu, bộ tư pháp chỉ xem xét quyết định cấp giấy phép thành lập (chứ

      không ra

      quyết định thành lập)

       Kinh phí hoạt động không từ ngân sách nhà nước.

       Nhân danh 1 bên thứ ba ra phán quyết

       Không mang tính quyền lực nhà nước

      Câu 55: Nêu và phân tích 2 căn cứ xác định thẩm quyền

      của trọng tài thương mại (cụ thể là qui định của pháp luật về thẩm

      quyền của trọng tài thương mại và thỏa thuận trọng tài).

      Một tranh

      chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài thương mại nếu như có cả hai căn

      cứ sau:

      Tranh chấp

      phải là tranh chấp thương mại: một tranh chấp có thể được giải quyết bằng trọng

      tài thương mại phải là tranh chấp thương mại theo qui định của pháp luật, nếu

      không phải là tranh chấp thương mại theo qui định của pháp luật thì các bên

      không thể giải quyết bằng trọng tài thương mại. Ngay cả khi có thỏa thuận trọng

      tài mà tranh chấp không thuộc lĩnh vực thương mại thì thỏa thuận trọng tài cũng

      vô hiệu và trọng tài không thể có thẩm quyền giải quyết Giữa các bên tranh chấp

      phải có thỏa thuận trọng tài: thỏa thuận trọng tài phải chỉ rõ đối tượng tranh

      chấp, tổ chức trọng tài nào có thẩm quyền giải quyết. Nếu không có thỏa thuận

      trọng tài thì trọng tài không có thẩm quyền giải quyết vì thẩm quyền của trọng

      tài là thẩm quyền về vụ việc không giống với thẩm quyền của tòa án.

      Thỏa thuận

      trọng tài cũng phải không vô hiệu thì trọng tài mới có thẩm quyền giải quyết.

      Câu 56: Nêu và phân tích 5 nguyên tắc giải quyết tranh chấp

      thương mại bằng trọng tài thương mại. So sánh với các nguyên tắc giải quyết tranh chấp

      thương mại của tòa án.

      Nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài

       Thỏa thuận trọng tài: Khác với giải quyết tranh chấp

      tại tòa án, các bên phải cùng đồng ý về việc giải quyết tranh chấp tại trọng

      tài, nguyên tắc chung là không có thỏa thuận trọng tài, không có tố tụng trọng

      tài. Thỏa thuận trọng tài có thể là thỏa thuận riêng hoặc thỏa thuận trong hợp

      đồng, có thể trước hoặc sau khi có tranh chấp. Nhưng tóm lại là nếu không có thỏa

      thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu thì thẩm quyền giải quyết

      không thuộc về trọng tài.

       Trọng tài viên độc lập, vô tư, khách quan: Đây là vấn

      đề được đặc biệt quan tâm. Trọng tài viên phải đáp ứng những điều kiện nhất định

      để chứng tỏ rằng họ vô tư, khách quan, độc lập, và trọng tài viên sẽ không được

      giải quyết các tranh chấp trong trường hợp, họ đồng thời là người thân thích của

      một bên hoặc đại diện của bên đó; có lợi ích trong vụ tranh chấp; có căn cứ rõ ràng

      cho thấy Trọng tài viên không vô tư, khách quan trong khi làm nhiệm vụ.

      Từ khi được

      chọn hoặc được chỉ định và trong quá trình tố tụng trọng tài, Trọng tài viên phải

      thông báo công khai và kịp thời những việc có thể gây nghi ngờ về tính khách

      quan, vô tư của mình. Trọng tài viên không bị chi phối bởi bất kỳ tổ chức, cá

      nhân nào. Quyết định của trọng tài viên phải đúng với sự thật khách quan. Nếu

      trọng tài viên ko vô tư, ko khách quan trong việc giải quyết tranh chấp vi phạm

      nghĩa vụ của trọng tài viên thì quyết định của hội đồng trọng tài có trọng tài

      viên đó (hoặc của trọng tài viên duy nhất giải quyết tranh chấp) sẽ bị hủy.

       Trọng tài viên phải căn cứ vào pháp luật: Để giải

      quyết công bằng và hợp lí, bảo vệ quyền và lợi ích của các bên thì cần phải

      tuân theo các qui định của pháp luật. (Về nguyên tắc áp dụng pháp luật để giải

      quyết tranh chấp đã được ghi tại Điều 7)

      Trọng tài viên phải tôn trọng sự thỏa thuận của các bên: Một trong những

      ưu điểm của việc giải quyết tranh chấp thương mại theo thủ tục trọng tài là các

      bên có tranh chấp được đảm bảo thỏa tối đa quyền tự do định đoạt trên nhiều

      phương diện trong quá trình giải quyết. các bên có thể thỏa thuận về thủ tục giải

      quyết và các trọng tài viên phải tôn trọng điều này, nếu không quyết định trọng

      tài sẽ bị hủy theo yêu cầu của các bên.

       Giải quyết một lần: Quyết định của trọg tài có giá

      trị chung thẩm, không bị kháng cáo, kháng nghị. Nếu quyết định trọng tài ko bị

      tòa hủy bỏ theo đơn yêu cầu của một trong các bên mà bên phải thi hành ko tự

      nguyện thi hành thì sau thời hạn 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn thi hành quyết

      định trọng tài, bên được thi hành có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án

      cấp tỉnh nơi có trụ sở, nơi cư trú hoặc nơi có tài sản của bên phải thi hành,

      thi hành quyết định trọng tài.

      So sánh với các nguyên tắc

      giải quyết tranh chấp thương mại của tòa án

      Giống nhau:

      Nguyên tắc các chủ thể giải quyết phải vô tư, khách quan, độc lập và chỉ căn cứ

      theo pháp luât.( pháp luật TTDS có nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến

      hành tố tụng).

      Nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận trong TT trọng tài giống nguyên tắc đảm bảo

      quyền tự định đoạt trong Tttòa án.

      Đều bảo đảm quyền bảo vệ của các bên tranh chấp (TTTTài các bên có quyền mời

      luật sư giống trong TTTA).

      Khác nhau:

                        Tố tụng trọng tài

           Tố

      tụng Tòa án

      chỉ có sự tham gia của trọng tài, các bên

      tranh chấp, có thể có luật sư, ko hội thẩm

      – giải

      quyết không công khai, quyết định của trọng tài ko đc công khai, đảm bảo uy

      tín của các bên

      – nguyên

      tắc chỉ giải quyết 1 lần, quyết định của trọng tài là quyết định chung thẩm,

      có hiệu lực pl ngay, ko bị kháng cáo, kháng nghị

      – nguyên

      tắc tự định đoạt của các đương sư:

          + các đương sự có quyền thỏa thuận trong

      mọi vấn đề, lựa chọn trọng tài viên giải quyết, lựa chọn thời gian, địa điểm

      giải quyết

      + chỉ khi

      có thỏa thuận thì mới có tố tụng trọng tài

      – không có

      nguyên tắc này: các bên tự hòa giải hoặc yêu cầu Ttài hòa giải chứ ko bắt

      buộc Trọng tài tổ chức hòa giải

      nguyên tắc xét xử có hội thẩm nhân dân tham

      gia

      – nguyên

      tắc xét xử công khai đảm bảo xxử minh mạch, đúng pháp luật

      – nguyên tắc thực hiện chế độ 2 cấp xét xử: bản án sơ thẩm có

      thể bị kcáo,knghị theo thủ tục phúc thẩm.bên cạnh đó còn ngtắc giám đốc việc xét

      xử

      + phạm vi thực hiện quyền hẹp hơn, phải

      tuân theo trình tự, thủ tục tố tụng nghiêm ngặt, ko đc lựa chọn người tiến

      hành tố tụng cũng như địa điểm, thời gian giải quyết tranh chấp

      + chỉ cần 1 trong hai bên khởi kiện ra tòa thì sẽ tiến hành tố

      tụng Tòa án

      – Nguyên

      tắc trách nhiệm hòa giải của Tòa án: trong tTDS hòa giải là một chế định bắt

      buộc, trc khi mở phiên tòa sơ thẩm, Tòa án phải tổ chức hòa giải, nếu ko

      thành công thì mới đưa ra xxử

      Câu 57: Phân tích khái quát trình tự, thủ tục tố tụng trọng

      tài thương mại (đối với trọng tài vụ việc). Nêu ít nhất 3 điểm khác biệt với

      trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại

      tại trọng tài thường trực

      Khái quát trình tự, thủ tục tố tụng trọng tài thương mại đối với trọng tài v

      việc

      Đơn kiện:

      Nguyên đơn phải làm đơn kiện gửi cho bị đơn, đơn kiện phải được gửi trong thời

      hiệu pháp luật qui định đối với từng loại tranh chấp

      Bản tự bảo

      vệ của bị đơn: nếu không có thỏa thuận gì khác, trong thời hạn 30 ngày kể từ

      ngày nhận được đơn kiện của nguyên đơn bị đơn phải làm bản tự bảo vệ gửi cho

      nguyên đơn và tên trọng tài viên mà mình lựa chọn, chứng cứ có thể gửi sau 30

      ngày nhưng phải trước ngày hội đồng trọng tài mở phiên họp.

      Thành lập

      hội đồng trọng tài: các bên thành lập hội đồng trọng tài với sự giúp đỡ của tòa

      án. Nếu bị đơn không chọn trọng tài viên thì nguyên đơn yêu cầu tòa án cấp tỉnh

      nơi bị đơn cư trú hoặc có trụ sở chỉ định trọng tài viên. Trong thời hạn 7 ngày

      kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu chánh án giao cho một thẩm phán chỉ định trọng

      tài viên cho bị đơn và thông báo cho các bên. Trong thời hạn 15 ngày 2 trọng tài

      viên được 2 bên chọn thống nhất chọn trọng tài viên thứ 3 làm chủ tịch, không được

      thì yêu cầu tòa án chỉ định Các thủ tục tiếp theo giống trọng tài thường trực

      Điểm khác biệt:

      Do tòa án

      giúp thành lập và do trung tâm trọng tài tự thành lập

      Trọng tài

      viên bất kì, trọng tài viên thuộc trung tâm

      Không lưu

      hồ sơ và lưa hồ sơ tại trung tâm

      Câu 58: Phân tích khái quát trình tự, thủ tục tố tụng trọng

      tài thương mại (đối với trọng tài thường trực). Nêu ít nhất 3 điểm khác biệt với

      trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp

      thương mại tại tòa án.

      Khái

      quát trình tự,

      thủ tục tố tụng trọng tài thương mại đối với trọng tài thường trực

      1. Đơn kiện và thụ lí đơn kiện

      Để giải quyết vụ tranh chấp tại trung tâm trọng tài, nguyên đơn phải làm đơn kiện gửi đến đúng

      trung tâm trọng tài mà các

      bên đã thỏa thuận lựa chọn. kèm theo là bản

      chính hoặc bản sao thỏa thuận trọng tài hoặc các

      bản sao tài liệu chứng cứ và nộp tạm ứng phí nếu không có thỏa thuận khác Thời hiệu theo pháp luật qui định hoặc là 2 năm nếu không qui định Nguyên

      đơn có thể sửa đổi, bổ sung, rút đơn kiện trước khi hội đồng trọng tài ra quyết định trọng tài.

      Tố tụng trọng tài tại trung tâm trọng tài bắt đầu

      từ khi trung tâm trọng tài nhận được

      đơn kiện.

      Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ khi nhận được đơn kiện, Trung tâm Trọng tài phải gửi cho bị đơn bản sao đơn kiện của nguyên đơn và những tài liệu kèm theo mà nguyên đơn cung cấp

      và danh sách trọng tài viên của trung tâm.

      2. Tự bảo vệ của bị đơn:

      Nếu các bên không có thoả thuận khác thì trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được đơn kiện và các tài liệu kèm theo của nguyên đơn do Trung tâm

      Trọng tài gửi đến, bị đơn phải gửi cho Trung tâm Trọng tài bản tự bảo vệ. trong đó có tên trọng tài viên mà mình lựa chọn. Thời hạn bị đơn phải gửi bản tự bảo vệ kèm theo chứng cứ có thể dài hơn ba mươi ngày, nhưng phải

      trước ngày Hội đồng Trọng tài mở phiên họp.

      3.

      Thành lập hội đồng trọng

      tài tại trung tâm trọng tài

      Trong trường hợp các bên không có thoả thuận

      khác thì trong thời hạn năm

      ngày làm việc, kể

      từ ngày nhận được đơn kiện, Trung

      tâm Trọng tài phải gửi cho bị đơn bản sao

      đơn kiện, tên Trọng tài viên mà nguyên

      đơn chọn và các tài liệu kèm theo cùng với danh sách Trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài. Nếu các bên không

      có thoả thuận khác thì trong thời hạn ba mươi

      ngày, kể từ ngày nhận được đơn kiện và các tài liệu kèm theo do Trung tâm Trọng tài gửi đến, bị đơn phải chọn Trọng tài viên có tên trong danh sách Trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài và báo cho Trung tâm Trọng tài biết hoặc yêu cầu Chủ

      tịch Trung tâm Trọng tài chỉ định

      Trọng tài viên cho mình. Hết

      thời hạn này, nếu bị đơn không chọn Trọng

      tài viên hoặc không yêu cầu Chủ tịch Trung tâm Trọng tài chỉ định

      Trọng tài viên thì trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể

      từ ngày hết hạn quy định tại khoản

      này, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài chỉ định Trọng tài viên có tên trong danh

      sách Trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài cho bị đơn.

      Trong trường hợp vụ tranh chấp có nhiều bị đơn thì các bị đơn phải thống nhất chọn một

      Trọng tài viên trong thời hạn

      ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được

      yêu cầu chọn Trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài. Hết thời hạn này, nếu các

      bị đơn không chọn được Trọng tài viên thì trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu, Chủ

      tịch Trung tâm Trọng tài chỉ định

      Trọng tài viên có tên trong danh sách

      Trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài cho các bị đơn.

      Trong thời hạn mười

      lăm ngày, kể từ ngày hai Trọng tài viên được các bên chọn hoặc được Chủ tịch Trung tâm Trọng tài chỉ định, các Trọng tài viên này phải chọn Trọng tài viên thứ ba có

      tên trong danh sách Trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài làm Chủ tịch Hội đồng Trọng tài. Hết thời hạn này, hai Trọng tài

      viên được

      chọn hoặc được chỉ định

      không chọn được Trọng tài viên thứ ba thì trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể

      từ ngày hết hạn, theo yêu cầu của một bên hoặc các

      bên, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài chỉ định

      Trọng tài viên thứ ba có tên trong danh sách Trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài làm Chủ tịch Hội đồng Trọng tài.

      Trong trường hợp các bên thoả thuận

      vụ tranh chấp do Trọng tài viên duy nhất của Trung tâm Trọng tài giải quyết, nhưng không chọn được Trọng tài viên thì theo yêu cầu của một bên, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài chỉ định

      Trọng tài viên duy nhất cho các bên trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu và thông báo cho các bên.

      Trọng tài viên duy nhất làm nhiệm vụ như một Hội đồng Trọng tài. Quyết định

      của Trọng tài viên duy nhất có hiệu lực thi hành

      như quyết định của Hội đồng Trọng tài.

      Sau khi đã chọn trọng

      tài viên, các bên mới phát

      hiện trọng tài viên do mình lựa chọn

      thuộc trường hợp cần phải thay đổi trọng tài viên thì việc thay đổi Trọng tài viên do các Trọng tài viên khác trong Hội đồng Trọng tài quyết định. Trong trường hợp không

      quyết định được hoặc nếu hai Trọng tài viên hay Trọng tài viên duy nhất từ chối giải quyết vụ tranh chấp thì chủ tịch trung tâm trọng tài quyết định.

      Trong quá trình tố tụng trọng tài, nếu trọng tài viên khôg thể tiếp

      tục tham gia thì việc thay đổi trọng tài viên cũng được giải quyết theo

      trình tự này.

      4. Chuẩn bị giải quyết

      Để tiến hành giải quyết tranh chấp mà trung tâm trọng tài

      đã nhận đơn, các trọng tài viên sau khi được chọn hoặc chỉ định phải tiến hành các công việc cần thiết cho việc giải quyết là: nghiên cứu hồ

      sơ, xác minh sự việc,

      thu thập chứng cứ.

      5. Hòa

      giải

      Hòa giải không phải là một nguyên tắc bắt buộc đối với tố tụng

      trọng tài Trong quá trình tố tụng

      trọng tài, các bên có thể tự hoà giải. Trong trường hợp hoà giải thành thì theo yêu cầu của các bên, Hội đồng Trọng tài sẽ đình chỉ tố tụng.

      Các bên có thể yêu cầu Hội đồng Trọng tài tiến hành hoà giải. Trong trương hợp hoà giải thành thì các bên có thể yêu cầu Hội đồng Trọng tài lập biên bản hoà giải thành và ra quyết định công nhận hoà giải thành. Biên bản hoà giải thành phải được các bên và các Trọng tài viên ký. Quyết định

      công nhận hoà giải thành của Hội đồng Trọng tài là chung thẩm và

      được thi hành

      5. Tổ chức phiên họp giải quyết tranh chấp và quyết định trọng tài

      Trong tố tụng trọg tài tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên nên các bên có thể thỏa thuận cả thời gian

      giải quyết tranh chấp tức là các bên quyết định khi nào tổ chức phiên họp giải quyết, hội đồng

      trọng tài phải tôn trọng quyết định

      đó và chỉ khi các bên không có thỏa thuận thì chủ tịch hội đồng trọng tài mới quyết định thời gian mở phiên họp

      Khi Chủ tịch Hội đồng Trọng tài quyết định thời gian mở phiên họp thì Giấy triệu tập các bên tham dự phiên họp giải

      quyết vụ tranh chấp phải gửi cho các bên chậm nhất ba mươi ngày trước

      ngày mở phiên họp, nếu các bên không có thoả thuận khác.

      Phiên họp giải quyết vụ tranh chấp không công khai. Trong

      trường hợp có sự đồng ý của các bên, Hội đồng

      Trọng tài có thể cho phép những người

      khác tham dự phiên họp.

      Các bên có thể trực

      tiếp hoặc uỷ quyền cho người đại diện tham dự phiên họp giải quyết vụ tranh chấp.

      Các bên có quyền mời nhân chứng, luật sư bảo vệ quyền và lợi ích

      hợp pháp của mình.

      Các bên hoặc người đại diện cho các

      bên phải tham dự phiên họp giải quyết vụ tranh chấp nếu

      khôg yêu cầu HĐTT giải quyết vắng mặt

      Nếu Nguyên đơn đã được triệu tập tham dự phiên họp giải

      quyết vụ tranh chấp mà không tham dự phiên họp không có lý do chính đáng hoặc bỏ phiên họp mà không được Hội đồng Trọng

      tài đồng ý thì được coi là đã rút đơn kiện. Trong trường hợp này, Hội đồng Trọng tài tiếp tục

      giải quyết vụ tranh chấp nếu bị đơn yêu cầu hoặc có đơn kiện lại Bị đơn đã được triệu tập tham dự phiên họp giải

      quyết vụ tranh chấp mà không tham dự phiên họp không có lý do chính đáng hoặc bỏ phiên họp mà không được Hội đồng Trọng tài đồng ý thì Hội đồng Trọng tài vẫn tiến

      hành giải quyết vụ tranh chấp căn cứ vào tài liệu và chứng cứ hiện có.

      Trong trường hợp các bên yêu cầu, Hội

      đồng Trọng tài có thể căn cứ vào hồ sơ để giải quyết vụ tranh chấp mà không cần các bên có mặt.

      Trường hợp có lý do chính đáng, các bên có thể yêu cầu Hội

      đồng Trọng tài hoãn phiên họp giải

      quyết vụ tranh chấp. Hội đồng Trọng tài phải hoãn phiên họp giải quyết vụ tranh chấp nếu xét thấy chưa đủ cơ sở để giải quyết vụ tranh chấp

      Toàn bộ diễn biến của phiên họp phải lập thành bb, kết thúc

      giải quyết tranh chấp hội

      đồng trọng tài phải đưa ra quyết định của hội đồng trọng tại (quyết định trọng tài của Hội đồng Trọng tài được lập theo nguyên tắc đa số, trừ trường hợp vụ tranh chấp do

      Trọng tài viên duy nhất giải

      quyết. Ý kiến của thiểu số được ghi vào biên bản phiên họp)

      Quyết định trọng tài có thể được công bố ngay tại phiên họp cuối cùng hoặc sau

      đó, nhưng chậm nhất là sáu mươi ngày, kể từ ngày kết thúc phiên họp cuối

      cùng.

      Toàn văn quyết định trọng tài phải được

      gửi cho các bên ngay sau ngày công bố.

      Theo yêu cầu của các bên, Trung tâm Trọng tài hoặc Hội đồng Trọng tài do các bên thành lập cấp

      cho bên có yêu cầu bản

      sao quyết định trọng tài. Trong thời hạn

      mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được

      quyết định trọng tài, một bên có thể yêu cầu Hội đồng

      Trọng tài sửa chữa những lỗi về tính

      toán, lỗi đánh máy, lỗi in hoặc

      những lỗi kỹ thuật khác. Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, Hội đồng Trọng tài tiến hành sửa chữa và phải thông

      báo cho bên kia. Quyết định

      sửa chữa là một phần của quyết định trọng tài và phải được

      Hội đồng Trọng tài ký.

      Điểm khác biệt

      Hòa giải: bắt buộc và không bắt buộc

      Xét xử công khai và giải quyết không công khai

      Được lựa chọn và không được lựa chọn người giải quyết

      Câu 59: Phân tích nội dung, thời điểm và hình thức

      của thỏa thuận trọng tài. Nêu và cho ví dụ về các trường hợp thỏa thuận trọng

      tài vô hiệu Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên cam kết giải quyết bằng trọng tài các vụ tranh chấp có thể phát sinh hoặc

      đã

      phát sinh trong hoạt động thương mại.

      Nội dung: cam kết của các bên về các

      việc sau: đối tượng tranh chấp, tổ chức trọng tài được giải quyết tranh chấp.

      Thời điểm: có thể lập trước hay sau khi có tranh chấp

      Hình thức: văn bản

      hoặc tương đương (telex, điện báo, thư, fax, email…), có thể là một thỏa thuận riêng hoặc 1 điều khoản trọng

      tài trong hợp đồng.

      Trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu

       Tranh chấp phát

      sinh không phải là tranh chấp

      thương mại

       Người ký thoả thuận trọng

      tài không có thẩm quyền

      ký kết theo quy định của pháp luật;

       Một bên ký kết thoả thuận trọng tài không có năng

      lực hành vi dân sự đầy đủ;

       Thoả thuận

      trọng tài không quy định hoặc quy định không rõ đối tượng tranh chấp, tổ chức trọng tài có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp mà sau đó các bên không có thoả thuận bổ sung;

       Thoả thuận

      trọng tài không đảm bảo về hình thức

       Bên ký kết thoả

      thuận trọng tài bị lừa dối, bị đe doạ và có yêu cầu tuyên bố thoả

      thuận trọng tài vô hiệu;__

      Share this:

      Like this:

      Số lượt thích

      Đang tải…

      --- Bài cũ hơn ---

    • Ngành Luật Thương Mại Quốc Tế Là Gì? Cơ Hội Việc Làm Của Sinh Viên Khi Ra Trường
    • Các Chương Trình Thạc Sĩ Luật (Llm) Về Luật Thương Mại Quốc Tế Tốt Nhất 2021
    • Xử Lý Trường Hợp Bên Bán Giao Hàng Hóa Kém Chất Lượng?
    • Khắc Phục Trường Hợp Giao Hàng Hóa Không Phù Hợp Với Hợp Đồng
    • Dịch Thuật Chuyên Ngành Luật Pháp Tiếng Nhật

    Hợp Đồng Dịch Vụ Logistics Theo Luật Thương Mại 2005

    --- Bài mới hơn ---

  • Qui Định Hiện Hành Về Dịch Vụ Logistics
  • Pháp Luật Việt Nam Về Dịch Vụ Logistics Trong Hoạt Động Thương Mại Điện Tử
  • Luật Thương Mại Việt Nam & Những Bất Cập Về Dịch Vụ Logistics (Phần 2)
  • Dịch Vụ Logistics Bao Gồm Chuỗi Các Dịch Vụ
  • Câu Hỏi Ôn Tập Luật Thương Mại 1, 2 (Có Đáp Án)
  • Dịch vụ Logistics là một ngành mới ở Việt Nam chúng ta hiện nay. Vậy việc ký kết hợp đồng dịch vụ Logistics được quy định ra sao theo Luật Thương mại hiện hành?

    – Luật Thương mại số 36/2005/QH11 ngày 14/06/2005

    – Nghị định 163/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 Quy định về kinh doanh dịch vụ Logistics

    Theo quy định tại Điều 233 Luật Thương mại

    2.2. Khái niệm Hợp đồng dịch vụ Logistics

    2.3. Đặc điểm hợp đồng dịch vụ logistics

    – Là hợp đồng song vụ, hợp đồng ưng thuận và mang tính chất đền bù

    – Chủ thể của hợp đồng bắt buộc 1 bên (bên làm dịch vụ) phải có tư cách thương nhân;

    bên còn lại (khách hàng) có thể là thương nhân hoặc không.

    – Đối tượng của hợp đồng là các dịch vụ gắn liền với hoạt động mua bán; vận chuyển hàng hoá như:

    Tổ chức việc vận chuyển hàng hoá

    Giao hàng hoá cho người vận chuyển

    Làm các thủ tục giấy tờ cần thiết để vận chuyển hàng hoá

    Nhận hàng từ người vận chuyển để giao cho người có quyền nhận hàng…

    – Hình thức của hợp đồng: hợp đồng không bắt buộc phải ký kết dưới hình thức văn bản.

    2.4. Nội dung hợp đồng dịch vụ logistics:

    – Nội dung công việc mà khách hàng ủy nhiệm cho bên làm dịch vụ giao nhận hàng hoá thực hiện.

    – Các yêu cầu cụ thể đối với dịch vụ

    – Thời gian và địa điểm thực hiện dịch vụ

    – Giới hạn trách nhiệm và các trường hợp miễn trách đối với người làm dịch vụ.

    Ngoài ra, tùy từng trường hợp cụ thể các bên có thể thỏa thuận và ghi trong hợp đồng những nội dung khác.

    2.5. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ dịch vụ logistics:

    a) Quyền và nghĩa vụ của Thương nhân thực hiện dịch vụ logistic

    Trừ trường hợp có thỏa thuận khác; thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

    a) Được hưởng thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác;

    b) Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có lý do chính đáng vì lợi ích của khách hàng thì thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có thể thực hiện khác với chỉ dẫn của khách hàng, nhưng phải thông báo ngay cho khách hàng;

    c) Khi xảy ra trường hợp có thể dẫn đến việc không thực hiện được một phần hoặc toàn bộ những chỉ dẫn của khách hàng thì phải thông báo ngay cho khách hàng để xin chỉ dẫn;

    d) Trường hợp không có thoả thuận về thời hạn cụ thể thực hiện nghĩa vụ với khách hàng thì phải thực hiện các nghĩa vụ của mình trong thời hạn hợp lý.

    2. Khi thực hiện việc vận chuyển hàng hóa, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phải tuân thủ các quy định của pháp luật và tập quán vận tải.

    Để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán tiền thù lao và các khoản chi phí hợp lý khác, thương nhân làm dịch vụ có quyền cầm giữ và định đoạt hàng hoá. Tuy nhiên việc này chỉ phát sinh khi có các điều kiện sau:

    + Khách hàng không thanh toán nợ đã đến hạn thanh toán cho thương nhân làm dịch vụ

    + Thương nhân làm dịch vụ logistics chỉ được quyền cầm giữ số lượng hàng hoá có giá trị tương đương với giá trị nợ mà khách hàng chưa thanh toán.

    + Thương nhân làm dịch vụ Logistics phải thông báo ngay bằng văn bản cho khách hàng biết về việc cầm giữ hàng hoá.

    Tại Điều 239 Luật Thương mại quy định:

    3. Trước khi định đoạt hàng hoá, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phải thông báo ngay cho khách hàng biết về việc định đoạt hàng hoá đó.

    4. Mọi chi phí cầm giữ, định đoạt hàng hoá do khách hàng chịu.

    b. Quyền và nghĩa vụ của khách hàng:

    Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, khách hàng có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

    1. Hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện hợp đồng;

    2. Cung cấp đầy đủ chỉ dẫn cho thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics;

    3. Thông tin chi tiết, đầy đủ, chính xác và kịp thời về hàng hoá cho thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics;

    4. Đóng gói, ghi ký mã hiệu hàng hoá theo hợp đồng mua bán hàng hoá, trừ trường hợp có thỏa thuận để thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics đảm nhận công việc này;

    5. Bồi thường thiệt hại, trả các chi phí hợp lý phát sinh cho thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics nếu người đó đã thực hiện đúng chỉ dẫn của mình hoặc trong trường hợp do lỗi của mình gây ra;

    6. Thanh toán cho thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics mọi khoản tiền đã đến hạn thanh toán.

    2.6. Trách nhiệm Hợp đồng dịch vụ logistics:

    Việc 1 bên không thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ hợp đồng sẽ phát sinh trách nhiệm hợp đồng. Trách nhiệm này có thể là trách nhiệm thực hiện đúng hợp đồng, hủy hợp đồng, bồi thường các thiệt hại phát sinh từ sự vi phạm hợp đồng hoặc phạt hợp đồng.

    Luật thương mại có 1 số quy định riêng về trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng dịch vụ logistics như sau:

    – Về giới hạn trách nhiệm:

    Điều 238 Luật Thương mại 2005 quy định:

    Trừ khi các bên có thỏa thuận khác; toàn bộ trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không vượt quá giới hạn trách nhiệm đối với tổn thất hàng hoá.

    Với quy định này thì giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại của thương nhân làm dịch vụ giao nhận hàng hoá là 1 ngoại lệ của chế tài bồi thường thiệt hại trong hoạt động thương mại nói chung.

    Điều 302 Luật Thương mại 2005 quy định:

    Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.

    Một nguyên tắc chung của trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà Bộ luật dân sự quy định là bên vi phạm hợp đồng gây thiệt hại bao nhiêu thì phải chịu trách nhiệm bồi thường bấy nhiêu.

    – Về các trường hợp miễn trách nhiệm:

    Thương nhân dịch vụ giao nhận hàng hoá được miễn trách nhiệm hợp đồng trong các trường hợp sau đây:

    + Thương nhân làm dịch vụ logistics không có lỗi trong việc vi phạm hợp đồng

    + Các lý do khách quan ngoài tầm kiểm soát của người làm dịch vụ như các trường hợp bất khả kháng, đình công hay do thay đổi chính sách pháp luật.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Định Của Pháp Luật Về Khuyến Mại Rượu
  • Các Hình Thức Khuyến Mại Phổ Biến, Độc Đáo Trong Thương Mại
  • Đặc Điểm Khuyến Mại Trong Luật Thương Mại
  • Luật Sư Gia Đình Trả Lời Phỏng Vấn Báo Chí
  • Luật Sư Gia Đình Trả Lời Báo Chí Vụ Viettel Ngang Nhiên Trừ Tiền Khuyến Mãi Khách Hàng
  • Dịch Vụ Giao Nhận Vận Tải Trong Luật Thương Mại

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Điểm Mới Của Luật Thương Mại Hiện Hành Đáng Lưu Ý
  • Nhận Định Môn Pháp Luật Thương Mại Hàng Hóa Và Dịch Vụ
  • Đề Thi Môn Thương Mại Hàng Hóa Và Dịch Vụ
  • Đề Thi Môn Pháp Luật Thương Mại Hàng Hóa Và Dịch Vụ Lớp Clc39D
  • Hợp Đồng Và Chữ Ký Điện Tử Trong Luật Thương Mại Hoa Kỳ
  • Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ tin học cho phép kết hợp các quá trình sản xuất, lưu kho hàng hoá, tiêu thụ với hoạt động vận tải có hiệu quả hơn, nhanh chóng hơn và đồng thời phức tạp hơn. Nó cũng cho phép người vận tải nâng cao chất lượng dịch vụ đối với người gửi hàng. Phát triển các dịch vụ truyền thống ở mức độ càng cao bao nhiêu, người vận tải càng có khả năng mở rộng thị trường bấy nhiêu.Trước đây, hàng hoá đi từ nước người bán đến nước người mua thường dưới hình thức hàng lẻ, phải qua tay người vận tải và nhiều phương thức vận tải khác nhau. Xác xuất rủi ro mất mát đối với hàng hoá do vậy rất lớn, người gửi hàng phải ký nhiều hợp đồng vận tải riêng biệt với từng người vận tải thực sự, trách nhiệm của mỗi người vận tải theo đó chỉ giới hạn trong chặng đường, hay dịch vụ do anh ta đảm nhiệm mà thôi. Cách mạng container hoá trong vận tải vào những năm 60, 70 của thế kỷ này đã đảm bảo an toàn và độ tin cậy trong di chuyển hàng hoá, là tiền đề cho sự ra đời của vận tải đa phương thức. Vì vậy, khách hàng rất cần một người tổ chức mọi công việc ở tất cả các công đoạn để tiết kiệm chi phí, tối thiểu hoá hao phí thời gian, từ đó nâng cao lợi nhuận. Những người làm nghề này không chỉ là làm giao nhận mà còn làm cả các công việc về lưu kho, dán nhãn hiệu, đóng gói bao bì, thuê phương tiện vận chuyển, làm thủ tục hải quan và có thể mua giúp bảo hiểm cho chủ hàng nữa, người này gọi là Logistics Service Provider (Người cung cấp dịch vụ tiếp vận).

    Các công ty giao nhận kho vận trên thế giới nói chung, và ở các nước ASEAN nói riêng, ngày càng nhận thấy rằng chi phí của các dịch vụ lập kế hoạch, sắp xếp và chuẩn bị mọi mặt cho hàng hoá để sẵn sàng chuyên chở (inventory costs) và chi phí vận tải đơn thuần (transport costs) có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại với nhau trên nhiều khía cạnh (perspective). Nếu biết tận dụng công nghệ tin học để tổ chức tốt và chặt chẽ các khâu này, thì giá thành của hàng hoá sẽ giảm đáng kể, do vậy năng lực cạnh tranh được nâng cao. Vì vậy, Logistics không phải là một dịch vụ đơn lẻ (do đó thuật ngữ này bao giờ cũng ở dạng số nhiều: LOGISTICS. Dù là danh từ, hay tính từ, không bao giờ người ta viết LOGISTIC). Logistics luôn luôn là một chuỗi các dịch vụ về giao nhận hàng hoá như: làm các thủ tục giấy tờ, tổ chức vận tải, bao bì đóng gói ghi nhãn hiệu, lưu kho lưu bãi, phân phát hàng hoá (nguyên liệu hoặc thành phẩm) tới các địa chỉ khác nhau, chuẩn bị cho hàng hoá luôn luôn sẵn sàng trong trạng thái có yêu cầu của khách hàng là đi ngay được (inventory level). Chính vì vậy, nói tới Logistics bao giờ người ta cũng nói tới một chuỗi hệ thống dịch vụ (logistics system chain). Với hệ thống chuỗi dịch vụ này, người cung cấp dịch vụ Logistics (Logistics service provider) sẽ giúp khách hàng có thể tiết kiệm được chi phí của đầu vào trong các khâu dịch chuyển, lưu kho, lưu bãi và phân phát hàng hoá (nguyên liệu, bán thành phẩm, hoặc thành phẩm), cũng như chi phí dịch vụ Logistics đã nói trên (trang 2 – 4 sách giáo khoa Logistics Management của ESCAP xuất bản năm 2000).

    Từ sự phân tích nói trên, chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng dịch vụ Logistics chính là sự phát triển ở giai đoạn cao của các khâu dịch vụ giao nhận kho vận, trên cơ sở tận dụng các ưu điểm của công nghệ tin học để điều phối hàng hoá từ khâu tiền sản xuất tới tận tay người tiêu dùng, cuối cùng qua các công đoạn: dịch chuyển, lưu kho và phân phát hàng hoá. Trong quá trình lưu chuyển hàng hoá, đồng thời cũng có sự lưu chuyển của các giòng thông tin về dịch vụ Logistis. Cũng vì vậy, ngày nay nhiều công ty giao nhận kho vận và nhiều hiệp hội giao nhận kho vận ở các nước đã đổi tên thành công ty cung cấp dịch vụ Logistics và Hiệp hội các nhà cung cấp dịch vụ Logistics. Cũng vì lẽ đó, ở những nước không nói tiếng Anh, thuật ngữ Logistics được để nguyên không dịch sang tiếng Việt để diễn đạt nội dung nghề nghiệp của thuật ngữ Logistics, trước mắt chúng tôi tạm dịch là dịch vụ tiếp vận. Cùng với thời gian trôi đi, chúng ta càng hội nhập, thì thuật ngữ này càng nhanh chóng phổ biến trong các doanh nghiệp Việt Nam như các thuật ngữ thương mại khác: vận đơn (B/L), thư tín dụng (L/C), thương mại điện tử (E-commerce), cảng cạn (ICD: Inland Clearance Depot), vận tải đa phương thức (MTO: Multimodal Transport Operation) v.v…

    Điều 163, 164 của Luật thương mại mới định nghĩa dịch vụ giao nhận theo nghĩa cũ, chưa phản ánh được xu thế phát triển của nghề này trong những năm gần đây. Các nước có trình độ kinh tế như Việt Nam (hoặc cao hơn như Thái Lan, Indonesia, Philippin, Malaysia, Trung Quốc) đều đưa định nghĩa mới (Logistics) thay cho định nghĩa cũ về dịch vụ giao nhận kho vận. Và các nước đều không cấm nước ngoài đầu tư dịch vụ Logistics, song chỉ cho phép nước ngoài chiếm tỷ lệ 49% (không đề cập gì tới dịch vụ Logistics). Như vậy, do cả Luật và Nghị định không định nghĩa Logictics, nên các thương nhân nước ngoài đã lợi dụng xin đăng ký kinh doanh Logistics bằng 100% vốn của họ mà không xin kinh doanh giao nhận kho vận. Vì thế, họ rất dễ dàng cạnh tranh và đánh bại các doanh nghiệp Việt Nam kinh doanh trong lĩnh vự này – Một lĩnh vực tỷ suất lợi nhuận cao (thường từ 25 – 30%) mà không cần vốn nhiều (chỉ cần khoảng trên dưới 100.000 USD).

    Từ đó, chúng tôi đề nghị bổ sung sửa đổi mục: “Dịch vụ giao nhận hàng hoá” như sau:

    Người làm dịch vụ tiếp vận

    Người làm dịch vụ tiếp vận là thương nhân có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ này.

    Hợp đồng dịch vụ tiếp vận Hợp đồng dịch vụ tiếp vận là hợp đồng được ký kết giữa người làm dịch vụ này với khách hàng để thực hiện dịch vụ tiếp vận như quy định tại điều 280 của Luật này.

    Quyền và nghĩa vụ của người làm dịch vụ tiếp vận Người làm dịch vụ tiếp vận có những quyền và nghĩa vụ sau đây:

    1. Được hưởng phí dịch vụ và các chi phí hợp lý khác.

    2. Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình theo hợp đồng;

    3. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có lý do chính đáng vì lợi ích khách hàng, thì có thể thực hiện khác với chỉ dẫn của khách hàng, nhưng phải thông báo ngay cho khách hàng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

    4. Sau khi ký kết hợp đồng, nếu xảy ra trường hợp có thể dẫn đến việc không thực hiện được toàn bộ, hoặc một phần chứng chỉ dẫn của khách hàng, thì phải thông báo ngay cho khách hàng biết để xin chỉ dẫn thêm.

    5. Trong trường hợp hợp đồng không có thoả thuận về thời hạn cụ thể thực hiện nghĩa vụ với khách hàng, thì phải thực hiện các nghĩa vụ của mình trong thời hạn hợp lý.

    6. Khi đảm nhiệm các công việc về vận chuyển hàng hoá, thì phải tuân thủ các quy định của pháp luật, tập quán chuyên ngành về vận tải.

    Quyền và nghĩa vụ của khách hàng

    Khách hàng có những quyền và nghĩa vụ sau đây:

    1. Hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện hợp đồng;

    2. Cung cấp đầy đủ chỉ dẫn cho người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá;

    3. Thông tin đầy đủ, chi tiết và chính xác về hàng hoá cho người làm dịch vụ tiếp vận;

    4. Đóng gói, ghi ký, mã hiệu hàng hoá theo hợp đồng mua bán hàng hoá, trừ trường hợp người làm dịch vụ tiếp vận đảm nhận công việc này;

    5. Bồi thường thiệt hại, trả các chi phí phát sinh cho người làm dịch vụ tiếp vận, nếu người đó đã thực hiện đúng chỉ dẫn của khách hàng, hoặc do lỗi của khách hàng gây ra;

    6. Trả cho người làm dịch vụ tiếp vận mọi khoản tiền đã đến hạn thanh toán.Các trường hợp miễn trách nhiệm1. Người làm dịch vụ tiếp vận không phải chịu trách nhiệm về những tổn thất đối với hàng hoá phát sinh trong những trường hợp sau đây:

    a. Tổn thất là do lỗi của khách hàng, hoặc của người được khách hàng uỷ quyền;

    b. Tổn thất phát sinh do người làm dịch vụ tiếp vận làm đúng theo những chỉ dẫn của khách hàng, hoặc của người được khách hàng uỷ quyền;

    c. Tổn thất là do khuyết tật của hàng hoá;

    d. Tổn thất là do các trường hợp bất khả kháng.

    e. Người làm dịch vụ tiếp vận không nhận được thông báo về khiếu nại trong thời hạn mười bốn ngày làm việc, kể từ ngày giao hàng.

    f. Người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá không nhận được thông báo bằng văn bản về việc bị kiện tại trong tài, hoặc toà án trong thời hạn chín tháng, kể từ ngày giao hàng.

    g. Tổn thất phát sinh do những quy định miễn trách nhiệm của pháp luật chuyên ngành về vận tải, khi người làm dịch vụ tiếp vận hành động với tư cách là người vận tải.

    2. Người làm dịch vụ tiếp vận không chịu trách nhiệm về việc mất khoản lợi đáng lẽ được hưởng của khách hàng, về sự chậm trễ, hoặc giao nhận hàng sai địa chỉ mà không phải do lỗi của mình.

    Giới hạn trách nhiệm

    1. Trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác, trách nhiệm của người làm dịch vụ tiếp vận trong mọi trường hợp không vượt quá giá trị hàng hoá.

    2. Giá trị hàng hoá được tính trên cơ sở giá ghi trên hoá đơn và các khoản tiền khác có chứng từ hợp lệ.

    3. Trong trường hợp khoản 2 Điều này không áp dụng được, thì giá trị hàng hoá được tính theo giá thông thường của hàng cùng loại và cùng chất lượng trên thị trường nơi giao hàng, tại thời điểm nơi giao hàng.

    Quyền cầm giữ và định đoạt hàng hoá

    (By Nguyen Thanh Hai)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Quát Về Dịch Vụ Giao Nhận Hàng Hoá Xuất Nhập Khẩu Chuyên Chở Bằng Đường Không
  • Mẫu Hợp Đồng Đại Lý Thương Mại Và Quy Định Pháp Luật Về Đại Lý Thương Mại Độc Quyền ?
  • Nghĩa Vụ Giao, Nhận Hàng Hóa Trong Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa
  • Điều Khoản Giao Nhận Hàng Hóa Trong Hợp Đồng Thương Mại
  • Ngành Luật Thương Mại Có Nên Học?
  • Đề Thi Môn Pháp Luật Thương Mại Hàng Hóa & Dịch Vụ

    --- Bài mới hơn ---

  • Nội Dung Pháp Luật Việt Nam Về Thương Mại Dịch Vụ
  • Dịch Vụ Thương Mại Là Gì? Đặc Trưng Của Dịch Vụ Thương Mại
  • Dịch Tài Liệu Tiếng Anh
  • Dịch Tiếng Anh Chuyên Ngành Luật
  • Từ Vựng Tiếng Anh Chuyên Ngành Luật Thương Mại Trong Hợp Đồng Quốc Tế (Phần 2)
  • 14867

    Câu 1: (5 điểm) Những nhận định sau đây đúng hay sai? Giải thích tại sao?

    Học viên được sử dụng văn bản quy phạm pháp luật

    Câu 2: (5 điểm)

    1. Theo quy định của luật thương mại, một bên không có quyền áp dụng chế tài trong thương mại trước khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng của bên kia.
    2. Trong thời gian quá cảnh lãnh thổ Việt Nam, thương nhân kinh doanh dịch vụ quá cảnh hàng hóa chịu trách nhiệm về việc mất khoản lợi đáng lẽ được hưởng của khách hàng trong mọi trường hợp mà việc mất khoản lợi này do việc giao trả hàng chậm của mình.
    3. Một cá nhân được thực hiện hoạt động giám định với tư cách giám định viên Nếu đáp ứng các tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 điều 259 luật thương mại.
    4. Trong thời hạn cho thuê hàng hóa bên cho thuê chỉ được bán hàng hóa đang cho thuê cho bên Thứ ba nếu được sự đồng ý của bên thuê.
    5. Thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistic có quyền giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại ở mức toàn bộ trách nhiệm của thương nhân này không vượt quá giới hạn trách nhiệm đối với tổn thất toàn bộ hàng hóa.

    Ngày 1/4/2018, Công ty A và Công ty B thỏa thuận Công ty A tiến hành giới thiệu sản phẩm của Công ty B cho AS Import Inc (Hoa Kỳ) và hỗ trợ thủ tục để sản phẩm của Công ty Bê đạt tiêu chuẩn xuất khẩu theo quy định. Thoả thuận của các bên không được xác định thời hạn thực hiện và giá cả, do vậy Công ty B đã gửi mail yêu cầu Công ty A xác định giá và thời hạn Nhưng công ty không có văn bản trả lời cho Công ty B. Sau đó, Công ty A đã thực hiện nhiều hành vi giới thiệu sản phẩm của Công ty B cho Công ty AS. Tuy nhiên, sống khác thỏa thuận và đàm phán Công ty B đã ký hợp đồng bán hàng cho AS Corporation ( công ty mẹ của AS Import Inc). Công ty A nhu cầu Công ty B trả thù lao nhưng không được chấp thuận với lý do; (i) thỏa thuận giữa các bên không xác định giá và thời hạn, dù Công ty B đã yêu cầu nhưng công ty không phản hồi, như vậy được hiểu là Công ty A đơn phương chấm dứt hợp đồng nên yêu cầu thanh toán thù lao là không có cơ sở;(ii) Công ty B ký hợp đồng bán hàng cho AS Corporation, chứ không phải AS Import Inc (đối tác mà công ty đã giới thiệu thiệu). Công ty A đã khởi kiện yêu cầu Công ty B trả thù lao và yêu cầu Công ty B chấm dứt hoạt động mua bán hàng hóa với AS Corporation, nếu tiếp tục mua bán thì phải trả phí theo như thỏa thuận.

    Yêu cầu: Căn cứ Quy định của pháp luật thương mại hiện hành Anh/chị hãy trình bày ý kiến về việc giải quyết tranh chấp trên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Chế Tài Thương Mại (Phần 2)
  • Một Số Quy Định Về Chế Tài Của Luật Thương Mại Năm 2005 Cần Được Hoàn Thiện
  • Chế Tài Trong Hoạt Động Thương Mại
  • Khóa Luận Tìm Hiểu Các Chế Tài Trong Thương Mại Theo Quy Định Luật Thương Mại 2005
  • Các Loại Chế Tài Trong Thương Mại
  • Nội Dung Pháp Luật Việt Nam Về Thương Mại Dịch Vụ

    --- Bài mới hơn ---

  • Dịch Vụ Thương Mại Là Gì? Đặc Trưng Của Dịch Vụ Thương Mại
  • Dịch Tài Liệu Tiếng Anh
  • Dịch Tiếng Anh Chuyên Ngành Luật
  • Từ Vựng Tiếng Anh Chuyên Ngành Luật Thương Mại Trong Hợp Đồng Quốc Tế (Phần 2)
  • Giáo Trình Luật Thương Mại Quốc Tế Pdf
  • Thương mại dịch vụ là một thuật ngữ còn khá mới, khái niệm này lần đầu tiên được sử dụng chính thức trong Hiệp định thương mại Việt Nam.

    Phạm vi áp dụng và các khái niệm

    Trong khi đó, khái niệm này chưa từng xuất hiện trong các dạo luật về thương mại ở Việt Nam. Luật Thương mại năm 1997 sử dụng khái niệm “cung ứng dịch vụ thương mại” đế chỉ các hoạt động cung ứng dịch vụ thuộc đôi tượng điều chinh của luật. H Thuật ngữ “dịch vụ thương mại” được định nghĩa bởi Luật thương mại năm 1997 có nội hàm rất hẹp, chỉ là những dịch vụ do thương nhân tiến hành trong hoạt động mua bán hàng hoá (khoản 4, Điều 5). Cách định nghĩa này phù hợp với quan niệm truyền thống về thương mại ở nước ta. nhung nó không bao hàm hết các loại dịch vụ được cung ứng trong nền kinh lế. Nó cũng không phản ánh dược khía cạnh thương mại như là thuộc tính vốn có trong các quá trình sản xuất và cung úng dịch vụ. Điều này có nhiều nguyên nhân, song có lẽ bắt nguồn từ sự lúng túng trong việc xác định ranh giới điểu chinh giữa Luât Dân sự và Luật Thương mại đối vói các hoại động cung ứng dịch vụ, dẫn đến việc Luật ‘rhương mại phải định danh rõ ràng về dịch vụ thương mại.

    Luật Thương mại năm 2005 không sử dụng khái niệm “cung ứng dịch vụ thương mại” mà thay bằng khái niệm “cung ứng dịch vụ”. Khái niệm này phản ánh tính “mở” của Luât Thương mại năm 2005 khí đã nói rộng nôi hàm cua khái niệm gần hơn với nội hàm của khái niệm. Nó cũng cho thấy chủ ý của nhà làm luật là không có sự tách bạch với việc cung ứng các dịch vụ khác để tránh sự tranh cãi không cần thiết về bản chất thương mại hay dân sự của các giao dịch cung ứng dịch vụ.

    Tuy nhiên, qua các quy định của Luật Thương mại nàm 2005 vản có thể tìm thây ranh giới giữa hoạt đống cung ứng dịch vụ trong thương mại so với các hoạt động cung ứng dịch vụ khác. Khoản 9, Điều 3, Luật Thương mại định nghĩa: “Cung ứng dịch vụ là hoại động thương mại, ỉheo đố một bên (sau dây gọi lả bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ chờ một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau dây gọi lả khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung iữig dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận.” Khoản ỉ, Điều 3, Luật Thương mại định nghĩa: “Hoại động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bárt hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đẩu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục dí ch sinh lợi khác. “

    Như vậy, qua các quy định trên đầy có thể thấy cung ứng dịch vụ trong thương mại là những hoạt đông được tiến hành nhằm mục đích sinh lợi. Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa cung ứng dịch vụ thương mại với các hoạt động cung ứng dịch vụ khác không có mục đích sinh lợi. Tuy nhiên ranh giới này ngày càng trở nên mờ nhại vì ngày nay hầu hết các hoạt động cung ứng dịch vụ trên thị trường đều nhàm mục đích sinh lợi.

    Bản thân khái niệm “dịch vụ” trong pháp luật hiện hành cũng chưa được quan niệm thống nhất và chưa phù hợp với thòng lộ quốc tế. Trong Bộ luật Dản sự năm 2005, khái niệm “dịch vụ” được hiểu là một công việc do một bcn thực hiện theo yêu cầu của phía bẻn kia (Điều 518). Cách hiểu như vậy mới chỉ phán ánh được một khâu trong quá trình tạo ra và cung cấp dịch vụ chứ chưa thấy được dịch vụ cũng là các sản phẩm hoàn chỉnh mang đặc tính giá trị và giá trị sứ dụng. ^ Luật Thương mại nãm 2005 không đưa ra định nghĩa về dịch vụ, cũng không liệt kê các nhóm ngành dịch vụ thuộc đối tượng điều chỉnh cùa luật như trong Hiệp định GATS. Đây có thế được coi như một điổm hạn chế của Luật Thương mại hiện hành. Tuy nhiên, trong các luật chuyên ngành (như Luật Hàng không, Luật Du lịch, Luật Các tổ chức tín dụng, Luặt Chứng khoán…) đôi khi có đưa ra định nghĩa về từng loại dịch vụ cụ thể. Chăng hạn, Điều 6. Pháp lệnh Bưu chính viễn thông định nghĩa: “Dịch vu viễn thủng là dịch vụ truyền kỷ hiệu, iin hiệu, so liệu, chữ viết, âm thanh, hình ánh hoặc các dạng cùa thông tin giữa các điêm kêI noi cùa mạng vien thõng.

    Các phương thức cung ứng dịch vụ trong thương mại

    Điểm mới của Luật Thương mại năm 2005 so với Luật Thương mại năm 1997 là quy định các -phương thức cung ứng dịch vụ trong thương mại. Nó cho thấy Luật Thương mại năm 2005 đã bước đầu tiếp cận với Hiêp định GATS. Tuy nhiên, Luật Thương mại không sử dụng tên gọi “phương thức cung ứng dịch vụ” mà luật tiếp cận dưới góc độ quyền cung ứng và sử dụng dịch vụ cua thương nhân.

    Theo quy định của Luật Thương mại, Ihương nhân có quyển cung ứng các dịch vụ sau: (1) Cung ứng dịch vụ cho người cư trú tại Việt Nam sử dụng trên lãnh thổ Việt Nam; (2) Cung ứng cho người không cư trú tại Việt Nam sứ dụng trên lãnh thổ Việt Nam; (3) Cung ứng dịch vụ cho người cư trú tại Việt Nam sử dụng trèn lãnh thổ nước ngoài; (4) Cung ứng dịch vụ cho người không cư trú tại Việt Nam sử dụng trên lãnh thổ nước ngoài.

    Một điểm đáng chú ý khác của Luật Thương mại năm 2005 là luật khổng chỉ quy dịnh quyén cung ứng địch vụ mà còn quy định cả quyền sử dụng dịch vụ cúa thương nhân. Cung ứng và sử dụng địch vụ là hai mặt không thể tách rời. Một thương nhân có thể vừa là người cung ứng dịch vụ vừa là người sử dụng dịch vụ. Bởi vậy, cách tiếp cận nhu Luật Thương mại nãm 2005 phản ánh sự sáng lạo và quan niệm thấu đáo của nhà làm luật về bản chất của quan hệ cung ứng dịch vụ. Theo Luật Thương mại nãm 2005, thương nhân có quyền sử dụng các dịch vụ sau: (1) Dịch vụ do người cư trú tại Việt Nam cung ứng trên lãnh ỉhổ Việi Nam; (2) Dịch vụ do nguời không cư trú tại Việt Nam cung ứng trên lãnh thổ Việt Nam; (3) Dịch vụ do người cư tru tại Việt Nam cung ứng trên lãnh thổ nước ngoài; (4) Dịch vụ do người không cu trú tại Việt nam cung ứng trên lãnh Ihổ nước ngoài.

    Mặc dù tèn gọi không hoàn toàn giống nhau nhung có rất nhiều phương Ihức cung úng dịch vụ quy định trong Luật Thương mại của Việt Nam tương tự các phương thức được quy định tại GATS. Luật Thương mại cũng quy định trường hợp các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của luật thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó (Điều 5). Như vậy, ngoài các phương thức cung ứng dịch vụ nêu trên, các thương nhân còn có thể lựa chọn các phương thức cung cấp dịch vụ khác được quy định tại GATS.

    Khái niệm thưong mại ớ nước ta theo nghĩa íruyÉn ỉhong có nội hàm rất hẹp, chi bao gôm mội số nhóm quan hệ phái sinh giữa các thương nhân Nêu sứ dụng khái niệm trong Luật Thương mại đong nghĩa Với việc sẽ phái mớ rộng phạm vi điều chính cùa Luật Thương mại và điều này là trái với íruyền thong pháp luật thương mại nưác ta. Do vậy, việc sư dung khái niệm này Ịà cỏ chu Ý và phán ánh sự thận trọng cùa cúc nhà làm luật Việt Nam.

    Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

    1. Bài viết trong lĩnh vực nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
    2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Thi Môn Pháp Luật Thương Mại Hàng Hóa & Dịch Vụ
  • Các Chế Tài Thương Mại (Phần 2)
  • Một Số Quy Định Về Chế Tài Của Luật Thương Mại Năm 2005 Cần Được Hoàn Thiện
  • Chế Tài Trong Hoạt Động Thương Mại
  • Khóa Luận Tìm Hiểu Các Chế Tài Trong Thương Mại Theo Quy Định Luật Thương Mại 2005
  • Nhận Định Môn Pháp Luật Thương Mại Hàng Hóa Và Dịch Vụ

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Thi Môn Thương Mại Hàng Hóa Và Dịch Vụ
  • Đề Thi Môn Pháp Luật Thương Mại Hàng Hóa Và Dịch Vụ Lớp Clc39D
  • Hợp Đồng Và Chữ Ký Điện Tử Trong Luật Thương Mại Hoa Kỳ
  • Chính Sách Thương Mại Của Hoa Kỳ Đối Với Việt Nam ?
  • Bồi Thường Thương Mại Tại Hoa Kỳ
  • 1 – Đối với hoạt động nhượng quyền thương mại từ Việt Nam ra nước ngoài hoặc từ nước ngoài vào Việt Nam, bên dự kiến nhượng quyền phải đăng ký với Bộ Công thương.

    2 – Bên vi phạm trong hợp đồng thương mại chỉ có quyền phạt vi phạm tối đa là 8% giá trị hợp đồng.

    3 – Theo pháp luật thương mại Việt Nam chỉ có quy định về đấu giá hàng hóa chứ không có quy định về đấu giá dịch vụ.

    4 – Các bên trong một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài nếu thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

    6 – Ủy thác mua bán hàng hóa là một ví dụ cụ thể về hoạt động đại diện cho thương nhân.

    7 – Rủi ro đối với hàng hóa được chuyển từ bên bán sang bên mua khi quyền sở hữu hàng hóa được chuyển từ bên bán sang bên mua.

    8 – Bên đại lý có toàn quyền quyết định đối với giá bán đối với hàng hóa mà mình làm đại lý.

    9 – Trong hình thức đại lý độc quyền, bên đại lý không được làm đại lý đối với hàng hóa cùng loại của thương nhân khác.

    10 – Đến hạn thực hiện hợp đồng đối với hợp đồng kỳ hạn trên sở giao dịch hàng hóa, bên không có hàng để giao có quyền thực hiện hợp đồng bằng cách thanh toán khoản chênh lệch giữa giá thỏa thuận trong hợp đồng và giá niêm yết trên sở giao dịch hàng hóa tại thời điểm thực hiện hợp đồng.

    11 – Các bên trong một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài nếu pháp luật nước ngoài đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

    12 – Trong mọi trường hợp, bên bị vi phạm trong hợp đồng thương mại chỉ có quyền phạt vi phạm tối đa là 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm.

    13 – Bên đại lý có quyền quyết định giá bán đối với hàng hóa mà mình làm đại lý.

    14 – Giảm giá bán 50% khi mua hai sản phẩm chính là hình thức khuyến mại mua 1 tặng 1.

    15 – Hợp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng cung ứng dịch vụ trong hoạt động thương mại chưa được xác lập, nếu các bên chưa thỏa thuận xong về giá cả.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Điểm Mới Của Luật Thương Mại Hiện Hành Đáng Lưu Ý
  • Dịch Vụ Giao Nhận Vận Tải Trong Luật Thương Mại
  • Khái Quát Về Dịch Vụ Giao Nhận Hàng Hoá Xuất Nhập Khẩu Chuyên Chở Bằng Đường Không
  • Mẫu Hợp Đồng Đại Lý Thương Mại Và Quy Định Pháp Luật Về Đại Lý Thương Mại Độc Quyền ?
  • Nghĩa Vụ Giao, Nhận Hàng Hóa Trong Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa
  • Đề Thi Môn Thương Mại Hàng Hóa Và Dịch Vụ

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Thi Môn Pháp Luật Thương Mại Hàng Hóa Và Dịch Vụ Lớp Clc39D
  • Hợp Đồng Và Chữ Ký Điện Tử Trong Luật Thương Mại Hoa Kỳ
  • Chính Sách Thương Mại Của Hoa Kỳ Đối Với Việt Nam ?
  • Bồi Thường Thương Mại Tại Hoa Kỳ
  • Tiếng Anh & Luật Thương Mại Dành Cho Luật Sư
  • 1. Đề thi môn Pháp luật Thương mại hàng hóa và dịch vụ lớp CLC35

    Cập nhật ngày 09/06/2013.

    Thương nhân sản xuất hàng hóa là Bên giao đại lý bán trong quan hệ đại lý thương mại hay là Nhà cung cấp trong quan hệ hợp đồng phân phối đều có cùng mục đích là tạo lập được một mạng lưới tiêu thụ hàng hóa do mình sản xuất ra. Như vậy, hợp đồng đại lý bán hay hợp đồng phân phối chỉ là các hình thức và phương tiện khác nhau mà Thương nhân sản xuất hàng hóa sử dụng để đạt được cùng mục đích.

    Vậy theo anh chị thì Thương nhân sản xuất hàng hóa sẽ cần cân nhắc những yếu tố pháp lý nào để lựa chọn hình thức hợp đồng đại lý bán hay hình thức hợp đồng phân phối.

    Lý thuyết

    Anh chị hãy trình bày về các điều kiện pháp lý, thời gian và thủ tục hành chính đối với việc thực hiện hình thức khuyến mại bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng, giá cung ứng dịch vụ trước đó theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thương mại 2005.

    Bài tập

    Ngày 08.06.2013 bên B giao trước 300 tấm banner. Do không đúng quy cách, chất liệu, nên hai bên thỏa thuận bên B bồi thường thêm 200 tấm banner và bên A đồng ý nhận tiếp số banner còn lại. Ngày 14.06.2013 bên B giao tiếp 700 tấm banner còn lại. Ngày 16.06.2013 giao 200 tấm banner bồi thường, nhưng số banner này cũng không đạt chất lượng. Ngày 22.06.2013 bên B lại giao tiếp 200 banner nữa.

    Do bên A không thanh toán số tiền còn lại sau nhiều lần yêu cầu, nên ngày 31.08.2013 bên B đã khởi kiện bên A ra Tòa án có thẩm quyền, yêu cầu bên A thanh toán số tiền hàng còn lại và tiền lãi do chậm thanh toán theo quy định của pháp luật. Bên A cho rằng bên B đã vi phạm hợp đồng nhưng thay vì phạt vi phạm, bên A đã tạo điều kiện cho bên B sản xuất banner bồi thường, điều này thể hiện rõ thiện chí, đạo đức trong kinh doanh của bên A, nên đã đề nghị với bên B được thanh toán 50% giá trị hợp đồng nhưng bên B không đồng ý. Bên B yêu cầu tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

    Tại phiên tòa, bên B trình bày 200 tấm banner giao ngày 22.06.2013 là để bồi thường lần 2 theo thỏa thuận của 2 bên. Ngược lại, bên A cho rằng không có thỏa thuận bồi thường lần 2 mà là do bên B tự ý đem đến giao hàng tại kho của bên A. Nhưng bên A cũng thừa nhận là số banner giao sau cùng là đạt yêu cầu và bên A có sử dụng một số tấm banner này.

    Câu hỏi:

    Căn cứ vào quy định pháp luật và các tình tiết vụ án, anh chị hãy xem xét yêu cầu của bên B có cơ sở để chấp nhận không?./.

    2. Đề thi môn Pháp luật Thương mại hàng hóa và dịch vụ

    Cập nhật ngày 19/12/2013.

    • Trường ĐH Luật Hà Nội
    • Thời gian làm bài: 90 phút
    • (Sinh viên chỉ được sử dụng VBQPPL)

    Lý thuyết

    Nêu sự khác biệt theo quy định của pháp luật thương mại hiện hành khi bên mua thực hiện quyền tạm ngừng thanh toán tiền hàng theo quy định tại Điều 51 Luật thương mại và áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng theo quy định tại Điều 308 Luật Thương mại trong trường hợp bên bán giao hàng không phù hợp với hợp đồng?

    Nhận định

    Những nhận định sau đây đúng hay sai? Tại sao?

    1 – Các bên trong một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài nếu pháp luật nước ngoài đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

    2 – Thương nhân cung ứng dịch vụ quá cảnh có quyền cầm giữ và định đoạt hàng hóa quá cảnh để thanh toán thù lao quá cảnh.

    3 – Theo quy định của pháp luật thương mại hiện hành, chỉ có chủ sở hữu của hàng hóa mới được quyền định đoạt hàng hóa.

    4 – Bên thuê có quyền trả lại hàng vào bất kỳ thời điểm nào nếu phát hiện hàng hóa cho thuê không phù hợp với hợp đồng.

    Bài tập

    Cty A mua nguyên liệu (vải tơ tằm) của Cty B để sản xuất hàng quần áo bán cho Cty C. Vải tơ tằm được giao là nguyên liệu được dệt, nhuộm và xử lý theo yêu cầu cụ thể của Cty A. Cty B giao nguyên liệu chậm dẫn đến Cty A giao hàng chậm cho Cty C. Hợp đồng giữa A và C có thỏa thuận phạt vi phạm do giao hàng chậm và C đã yêu cầu A trả tiền phạt vi phạm. Mặt khác, do B chậm giao nguyên liệu nên A phải tạm ngưng hoạt động của dây chuyền may trong khoảng thời gian chậm giao.

    Câu hỏi:

    1 – Cty A yêu cầu Cty B bồi thường thiệt hại. Hãy xác định phạm vi bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật thương mại hiện hành.

    2 – Giả sử để thực hiện hợp đồng với Cty A, Cty B đã ký kết hợp đồng mua nguyên liệu từ Cty K. Tuy nhiên, Cty K đã không giao hàng cho Cty B do sự khan hiếm của vùng nguyên liệu. Cty B có phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho Cty A không? Giải thích? (Biết rằng: Hàng hóa mà các bên mua bán không có hàng cùng loại có thể thay thế trên thị trường vào thời điểm giao hàng).

    3. Đề thi môn Pháp luật Thương mại hàng hóa và dịch vụ lớp AUF 36

    Cập nhật ngày 23/12/2013.

    Nhận định

    Những nhận định sau đây đúng hay sai? Vì sao?

    1 – Luật Thương mại hiện hành chỉ áp dụng đối với các hoạt động thương mại được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam.

    2 – Hợp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng cung ứng dịch vụ trong hoạt động thương mại chưa được xác lập, nếu các bên chưa thỏa thuận xong về giá cả.

    3- Thương nhân được phép quyết định thời hạn thực hiện chương trình khuyến mại theo hình thức giảm giá.

    4 – Mua bán hàng hóa quốc tế là hoạt động mua bán hàng hóa mà hàng hóa phải dịch chuyển qua biên giới lãnh thổ Việt Nam.

    Lý thuyết

    Anh chị hãy so sánh điều kiện và cách thức áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại và chế tài phạt vi phạm theo quy định của Luật thương mại năm 2005

    Bài tập

    Cty TNHH Thương mại dịch vụ (Bên A) là một doanh nghiệp kinh doanh và sản xuất thức ăn nuôi tôm. DNTN B (Bên B) có trụ sở tại TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Ngày 01.01.2012 bên A và bên B có ký một hợp đồng đại lý độc quyền cho loại thức ăn dành cho tôm sú hiệu Strawbass, theo đó bên A là bên giao đại lý và bên B là bên đại lý. Trong hợp đồng có quy định rõ bên B không được nhận cung cấp phân phối sản phẩm thức ăn nuôi tôm sú cho các doanh nghiệp khác. Ngày 30.04.2013 bên A đã gửi thông báo chấm dứt hợp đồng hợp đồng đại lý cho bên B và hợp đồng trên chấm dứt vào ngày 30.06.2013.

    Câu hỏi:

    1 – Việc ký hợp đồng có nội dung nêu trên có phù hợp với quy định của Luật Thương mại hiện hành không? Giải thích?

    2 – Biết rằng tổng số tiền thù lao mà bên đại lý (bên B) nhận được trong suốt thời gian làm đại lý (từ 01.01.2012 đến 30.06.2013) từ bên A là 168.000.000 đ (trong đó số tiền thù lao bên B nhận được cho thời gian làm đại lý từ 01.01.2012 đến 31.12.2012 là 120.000.000đ). Căn cứ vào quy định của luật thương mại hãy xác định số tiền mà bên A phải bồi thường cho bên B khi chấm dứt hợp đồng đại lý.

    3 – Việc bồi thường cho bên đại lý khi chấm dứt hợp đồng theo thông báo của bên giao đại lý có phải là việc áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật Thương mại hiện hành hay không? Giải thích.

    4. Đề thi môn Pháp luật Thương mại hàng hóa và dịch vụ lớp DS36A

    Cập nhật ngày 23/12/2013.

    Lý thuyết

    1 – Nguyên tắc tự do thỏa thuận được thể hiện trong Luật Thương mại 2005 như thế nào?

    2 – Anh chị hãy so sánh điều kiện áp dụng và hậu quả pháp lý của việc áp dụng chế tài tạm ngưng thực hiện hợp đồng và chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng.

    Bài tập

    Ngày 24.09.2008 DNTN Như Phát có trụ sở tại quận Thủ Đức TPHCM (Bên A) ký hợp đồng số 09/2008/HĐKT với Cty TNHH Việt Gỗ (Bên B) có trụ sở tại Quận Bình Thạnh TPHCM, theo đó Bên A nhận cung cấp cho Bên B một số lượng gỗ cao su trị giá 180 triệu đồng. Thực hiện hợp đồng, bên A đã cung cấp đầy đủ hàng cho Bên B vào ngày 6.10.2008.

    Theo cam kết hợp đồng, Bên B có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ tiền hàng vào ngày 05.12.2008. Nhưng do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên B chưa thanh toán tiền hàng cho Bên A mà vào ngày 29.12.2008 gửi công văn cho Bên A đề nghị được trả hết số nợ này theo phương thức trả góp thành 04 đợt như sau: Đợt 1: ngày 05.5.2009 sẽ trả 25% số nợ; Đợt 2: ngày 05.6.2009 sẽ trả 25% số nợ; Đợt 3: ngày 05.7.2009 sẽ trả 25% số nợ; Đợt 4: ngày 05.8.2009 sẽ trả 25% số nợ.

    Bên A không đồng ý và khởi kiện bên B vào ngày 16.01.2009, yêu cầu bên B thanh toán một lần toàn bộ tiền hàng là 180 triệu và tiền lãi do chậm thanh toán với lãi suất 1%/tháng tính từ ngày 06/12/2008 đến ngày Tòa án mở phiên xét xử sơ thẩm.

    Tại phiên xét xử sơ thẩm ngày 25.05.2009, bên A yêu cầu Tòa án buộc bên B thanh toán một lần toàn bộ tiền hàng và tiền lãi do chậm thanh toán bằng 1%/tháng trong thời hạn 5 tháng tính từ ngày 06.12.2008 đến ngày 6.5.2009. Bên B xin được trả số nợ vốn làm 4 lần: 15.06.2009 trả 25%, 15.07.2009 trả 25%, 15.08.2009 trả 25%, 15.09.2009 trả 25%, đồng ý trả tiền lãi do chậm thanh toán theo mức do Tòa án quyết định nhưng chỉ tính từ 06.12.2008 đến ngày bên A nộp đơn khởi kiện tại tòa là 16.01.2009.

    Câu hỏi:

    Anh chị hãy phân tích tình trạng pháp lý của sự việc trên. Cho biết: lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường vào thời điểm Tòa án mở phiên xét xử sơ thẩm là 22%/năm./.

    5. Đề thi môn Pháp luật Thương mại hàng hóa và dịch vụ lớp QTL 36

    Cập nhật ngày 29/12/2013.

    Nhận định

    Những nhận định sau đây đúng hay sai? Vì sao?

    1 – Luật Thương mại hiện hành chỉ áp dụng đối với các hoạt động thương mại được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam.

    2 – Hợp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng cung ứng dịch vụ trong hoạt động thương mại chưa được xác lập, nếu các bên chưa thỏa thuận xong về giá cả.

    3- Thương nhân được phép quyết định thời hạn thực hiện chương trình khuyến mại theo hình thức giảm giá.

    4 – Mua bán hàng hóa quốc tế là hoạt động mua bán hàng hóa mà hàng hóa phải dịch chuyển qua biên giới lãnh thổ Việt Nam.

    Lý thuyết

    Anh chị hãy so sánh điều kiện và cách thức áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại và chế tài phạt vi phạm theo quy định của Luật thương mại năm 2005.

    Bài tập

    Cty A là chủ sở hữu của một trang trại nuôi gia súc. Trong đợt dịch lở mồm long móng, mặc dù gia súc trong trang trại này không bị dịch nhưng do không giải quyết được việc tiêu thụ nên Cty A đã quyết định cho CTCP B thuê toàn bộ trang trại nói trên để khai thác vì Cty B có cơ sở chế biến gia súc và kho chứa hàng đông lạnh có trữ lượng lớn. Qua đợt dịch, Cty A quyết định không kinh doanh trang trại này nữa mà bán toàn bộ trang trại cho Cty C. Sau khi hợp đồng mua bán được ký kết, công ty C đến tiếp quản đàn gia súc. Do hợp đồng thuê trang trại vẫn còn hiệu lực nên Cty B không đồng ý giao trang trại và đàn gia súc cho Cty C.

    Câu hỏi:

    1 – Việc làm trên của Cty B có đúng theo quy định của Luật thương mại hiện hành không? Tại sao?

    2 – Biết rằng kể từ khi trang trại được công ty B thuê cho đến khi trang trại được bán cho Cty C, đàn heo được nuôi trong trang trại được bán cho Cty C, đàn heo được nuôi trong trang trại đã phát triển từ 22.000 con lên đến 25.000 con. Hỏi ái sẽ là chủ sở hữu đối với 3.000 con heo mới được sinh ra nói trên./.

    6. Đề thi môn Pháp luật Thương mại hàng hóa và dịch vụ lớp DS37

    Cập nhật ngày 19/06/2014.

    Nhận định

    Những nhận định sau đây đúng hay sai? Vì sao?

    1 – Thương nhân kinh doanh dịch vụ quá cảnh hàng hóa không được hưởng quyền giới hạn trách nhiệm như thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics.

    2 – Sở giao dịch hàng hóa là nơi giao dịch của tất cả các hàng hóa được phép lưu thông.

    3 – Đại lý bán hàng là bên chịu rủi ro đối với hàng hóa do bên giao đại lý giao trong thời gian hàng hóa chịu sự quản lý của mình.

    4 – Mọi thương nhân đều được phép kinh doanh dịch vụ giám định thương mại.

    Lý thuyết

    Hãy phân tích những quy định của Luật Thương mại hiện hành có mục đích bảo vệ quyền lợi của bên thuê hàng hóa.

    Bài tập

    Cty X ký hợp đồng mua của Cty Y 50.000.000 lít dầu DO, hàng được vận chuyển từ cảng Australia về đến cảng TPHCM. Trong hợp đồng có thỏa thuận “để xác định chất lượng hàng hóa có phù hợp với hợp đồng hay không dựa vào chứng thư giám định của một thương nhân giám định tại cảng đến do bên mua thuê”.

    Khi hàng đến cảng TPHCM, Cty X thuê một thương nhân giám định tại TPHCM tiến hành giám định thì kết quả giám định cho thấy dầu DO có chất lượng không phù hợp với hợp đồng vì bị lẫn nhiều tạp chất trong đó có nước. Tuy nhiên, theo chứng thư giám định của thương nhân tại cảng đi thì lô hàng này có chất lượng đúng như thỏa thuận trong hợp đồng.

    Hỏi:

    1 – Hai chứng thư giám định nói trên có giá trị pháp lý đối với Cty X và Cty Y không? Tại sao?

    2 – Trường hợp cả hai chứng thư giám định của thương nhân giám định tại cảng đi và chứng thư giám định của thương nhân giám định tại cảng đến đều có giá trị pháp lý đối với Cty X và Cty Y và hai kết quả giám định này đều phản ánh đúng tình trạng thực tế của hàng hóa trước khi xếp lên tàu cũng như khi bốc xuống tàu thì ai là người chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa này? Giải thích./.

    7. Đề thi môn Pháp luật Thương mại hàng hóa và dịch vụ lớp DS37

    Cập nhật ngày 19/06/2014.

    Nhận định

    Những nhận định sau đây đúng hay sai? Vì sao?

    1 – Bên bán không chịu trách nhiệm về khiếm khuyết của hàng hóa phát sinh sau khi đã giao hàng cho bên mua tại một địa điểm giao hàng được xác định theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng.

    2 – Bên cung cấp dịch vụ quá cảnh không có quyền định đoạt hàng hóa quá cảnh ngay cả trong trường hợp bên thuê dịch vụ vi phạm nghĩa vụ thanh toán.

    3 – Bên mua phải thanh toán số hàng thừa theo giá thỏa thuận trong hợp đồng nếu nhận số hàng thừa đó.

    4 – Chế tài phạt vi phạm chỉ được áp dụng nếu trong hợp đồng có thỏa thuận.

    Lý thuyết

    Khuyến mại dưới hình thức “Mua một tặng một” là hình thức khuyến mại nào trong số các hình thức khuyến mại quy định tại Điều 92 Luật thương mại? Thương nhân phải tuân theo những quy định gì và phải thực hiện những thủ tục pháp lý nào nếu muốn thực hiện khuyến mại theo hình thức này?

    Bài tập

    Ngày 15.03.2013, thương nhân A và thương nhân B(đều có trụ sở tại TPHCM) đã giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, trong đó các bên thỏa thuận A phải giao hàng vào ngày 31.03.2013, B phải thanh toán tiền hàng chậm nhất vào ngày 07.04.2013. Đến ngày giao hàng A không thực hiện được việc giao hàng do không nhận được hàng từ thương nhân C. B đã chuẩn bị kho bãi và các điều kiện để tiếp nhận hàng hóa nhưng không được hàng nên vào ngày 06.04.2013 đã gửi công văn cho A thông báo ngừng thanh toán tiền hàng. Tiếp đó, ngày 07.04.2013, B có công văn gửi A yêu cầu giao hàng chậm nhất đến 15.04.2013. Ngày 08.04.2013 A có công văn gửi B hứa sẽ cố gắng giao hàng chậm nhất vào ngày 29.04.2013. B không trả lời công văn này. Do nhu cầu về sản xuất, ngày 20/04/2013 B đã mua hàng hóa tương tự từ thương nhân D. Vào ngày 26.04.2013 C giao hàng cho A. Vào ngày 28.04.2013 A thực hiện giao số hàng đó cho B nhưng B không nhận.

    Ngày 01.07.2013 A khởi kiện B yêu cầu bồi thường thiệt hại bằng mức chênh lệch giữa giá thỏa thuận với B và giá bán thực tế mà A đã bán số hàng hóa đó cho thương nhân E do B không nhận hàng.

    B phản tố yêu cầu A bồi thường thiệt hại do phải mua hàng từ thương nhân D với giá cao hơn giá hợp đồng với A.

    Anh chị hãy căn cứ vào quy định của Luật Thương mại 2005 để giải quyết sự việc trên.

    8. Đề thi môn Pháp luật Thương mại hàng hóa và dịch vụ lớp HS37

    Cập nhật ngày 20/06/2014.

    Nhận định

    Những nhận định sau đây đúng hay sai? Vì sao?

    1 – Hợp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng dịch vụ trong hoạt động thương mại được xem là chưa được giao kết, nếu các bên chưa thỏa thuận được về chất lượng hàng hóa, dịch vụ.

    2 – Trường hợp không có thỏa thuận về thời hạn đại diện, nếu bên đại diện thương nhân đơn phương chấm dứt hợp đồng đại diện thì bên đó sẽ mất quyền hưởng thù lao đối với các giao dịch mà đáng lẽ mình được hưởng.

    3 – Tất cả các hợp đồng mua bán hàng hóa đều có thể giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.

    4 – Bên nhận ủy thác có nghĩa vụ thực hiện các chỉ dẫn của bên ủy thác nếu chỉ dẫn đó không vi phạm quy định của pháp luật.

    Lý thuyết

    Anh chị hãy so sánh hoạt động đại lý mua bán hàng hóa và hoạt động nhượng quyền thương mại theo quy định của Luật Thương mại 2005.

    Bài tập

    Ngày 12.03.2008, hộ kinh doanh T ký hợp đồng mua bán vật tư với CTCP Xây dựng H, theo đó bên mua thanh toán chậm nhất là 20 ngày kể từ ngày nhận hàng. Các bên thỏa thuận “bên mua chịu phạt 3%/tháng trên tổng giá trị thanh toán chậm”. Thực hiện hợp đồng, hộ kinh doanh T đã giao hàng và cung cấp đầy đủ các hóa đơn chứng từ cho bên mua nhưng bên mua không thanh toán theo thỏa thuận. Căn cứ theo quy định của pháp luật thương mại hiện hành, anh chị hãy xác định trách nhiệm của bên mua trong hợp đồng, biết rằng tính đến thời điểm bên bán yêu cầu thanh toán nợ, bên mua đã chậm thanh toán tiền hàng cho bên bán 6 tháng, kể từ ngày bên mua phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

    9. Đề thi môn Pháp luật Thương mại hàng hóa và dịch vụ lớp QT37

    Cập nhật ngày 23/06/2014.

    Nhận định

    Những nhận định sau đây đúng hay sai? Vì sao?

    1 – Bên thuê có quyền từ chối nhận hàng nếu hàng hóa cho thuê không phù hợp với hợp đồng.

    2 – Trong hình thức đại lý độc quyền, bên đại lý không được làm đại lý đối với hàng hóa cùng loại của thương nhân khác.

    3 – Văn phòng đại diện thương nhân nước ngoài được phép trực tiếp thực hiện việc trưng bày, giới thiệu hàng hóa cho thương nhân nước ngoài ở Việt Nam.

    Lý thuyết

    Anh chị hãy trình bày các khác biệt cơ bản của hợp đồng cung ứng dịch vụ và hợp đồng mua bán hàng hóa và cho biết ý nghĩa của việc xác định một quan hệ hợp đồng là hợp đồng cung ứng dịch vụ hay hợp đồng mua bán hàng hóa.

    Bài tập

    Ngày 15.03.2014 thương nhân T và thương nhân H giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong đó các bên thỏa thuận ngày 30.03.2014, T phải giao hàng và ngày 01.04.2014, H phải thanh toán tiền hàng. Đến hạn giao hàng, do sự kiện bất khả kháng nên T không thực hiện việc giao hàng. H đã chuẩn bị kho bãi và các điều kiện để tiếp nhận hàng hóa nhưng không được nhận hàng nên đã thông báo ngừng thanh toán tiền hàng. Ngày 01.05.2014, H đề nghị T giao hàng nhưng T không thực hiện được và trả lời sẽ cố gắng giao hàng vào ngày 01.06.2014. Do nhu cầu sản xuất, ngày 25.05.2014, H đã mua hàng của một thương nhân khác. Ngày 01.06.2014, T giao hàng và yêu cầu H thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

    Căn cứ vào quy định của pháp luật thương mại hiện hành, xác định yêu cầu của thương nhân T đối với thương nhân H có phù hợp với quy định của pháp luật không? Giải thích.

    10. Đề thi môn Pháp luật Thương mại hàng hóa và dịch vụ lớp QTL 37

    Cập nhật ngày 29/06/2014.

    Nhận định

    Những nhận định sau đây đúng hay sai? Vì sao?

    1 – Bên đại lý có toàn quyền quyết định đối với giá bán đối với hàng hóa mà mình làm đại lý.

    2 – Bên vi phạm trong hợp đồng thương mại chỉ có quyền phạt vi phạm tối đa là 8% giá trị hợp đồng.

    3 – Trong hợp đồng quyền chọn, bên mua quyền có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng trong thời hạn có hiệu lực của hợp đồng quyền chọn.

    4 – Hợp đồng vay vốn giữa cty A với ngân hàng thương mại B tại Việt Nam là hợp đồng thương mại chịu sự điều chỉnh của Luật thương mại hiện hành.

    Lý thuyết

    Hãy phân tích các điểm khác biệt giữa dịch vụ logistics và dịch vụ quá cảnh hàng hóa theo quy định của Luật thương mại hiện hành.

    Bài tập

    Hãy nhận xét và đưa ra hướng giải quyết đối với các tình huống sau đây căn cứ vào các quy định của Luật Thương mại hiện hành:

    1 – Để thăm dò thị trường Việt Nam, Cty A (Quốc tịch Hàn Quốc) đã ủy quyền cho văn phòng đại diện của mình tại TPHCM thực hiện một chương trình xúc tiến thương mại theo hình thức tặng hàng mẫu cho khách hàng dùng thử. Văn phòng đại diện này đã ký hợp đồng thuê Cty TNHH TM-DV B có trụ sở tại TPHCM thực hiện chương trình nêu trên tại hệ thống siêu thị Lotte Mart trên địa bàn TPHCM.

    2 – Cty X ký hợp đồng mua của Cty Y một lô hàng hóa mỹ phẩm, theo hợp đồng Cty X sẽ ứng trước cho Cty Y 30% giá trị lô hàng trong vòng 10 ngày sau khi hợp đồng được ký kết, phần giá trị còn lại sẽ được thanh toán sau khi Cty Y giao hàng. Cty X đã không ứng trước cho Cty Y khoản tiền nói trên theo thỏa thuận trong hợp đồng, Cty Y đã không thực hiện việc giao hàng theo thời hạn thỏa thuận.

    11. Đề thi môn Pháp luật Thương mại hàng hóa và dịch vụ lớp Thương mại 37

    Cập nhật ngày 19/12/2014.

    Nhận định

    Những nhận định sau đây đúng hay sai? Vì sao?

    2 – Đối với hoạt động nhượng quyền thương mại từ Việt Nam ra nước ngoài hoặc từ nước ngoài vào Việt Nam, bên dự kiến nhượng quyền phải đăng ký với Bộ Công thương.

    3 – Các bên trong một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài nếu thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

    Lý thuyết

    Phân tích các yếu tố pháp lý mà một thương nhân sản xuất hàng hóa cần cân nhắc khi lựa chọn hình thức hợp đồng đại lý bán hàng hay hợp đồng phân phối để tạo lập một mạng lưới tiêu thụ hàng hóa thông qua các thương nhân độc lập.

    Bài tập

    Ngày 02.07.2013 cty A (Việt Nam) và Cty B (Hoa Kỳ) giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa theo đó Cty A bán cho Cty B lô hàng đá ốp lát Granite, chất lượng theo mẫu đã được đồng ý của đại diện bên mua; bên mua nghiệm thu hàng hóa trước khi cho nạp hàng vào Container tại nhà máy bên bán; bên mua đặt cọc trước 10% giá trị lô hàng, phần còn lại sẽ thanh toán đủ 100% giá trị thực tế của lô hàng trước khi cho nạp hàng vào Container, giao hàng trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được tiền đặt cọc, quy cách đóng gói được hướng dẫn bởi bên mua. Các bên thỏa thuận luật áp dụng để điều chỉnh quan hệ hợp đồng là pháp luật Việt Nam.

    Ngày 05.07.2013, Cty B đặt cọc theo hợp đồng, Cty B đã chỉ định bà C là người đại diện của bên mua thực hiện việc kiểm tra hàng và hướng dẫn quy cách đóng gói. Ngày 15.07.2013 bà C trực tiếp đến nơi đóng gói hàng và phát hiện một số tấm đã Granite bị rỗ bề mặt nên đã yêu cầu Cty A ngừng việc giao hàng để đánh bóng lại số đá này. Ngày 28.07.2013 sau khi Cty A đã thực hiện việc khắc phục này, Cty B thanh toán tiếp 30% giá trị tiền hàng và yêu cầu đóng 8 tấm đã này vào 1 pallet, khi nào đóng xong thì thông báo với bà C để nghiệm thu hàng. Từ ngày 30.07.2013 bà C không nhận được thông báo nào của Cty A đề nghị bà C ra nghiệm thu hàng mà đến 03.08.2013 mới nhận được thông báo của Cty A là hàng đã được làm thủ tục để xuất sang Hoa Kỳ cho người nhận là Cty B vào ngày 01.08.2013.

    Cty A yêu cầu Cty B phải thanh toán số tiền còn nợ. Cty B không chấp nhận vì cho rằng việc Cty A tự ý xuất hàng không có sự đồng ý của đại diện của bên mua là vi phạm hợp đồng, đồng thời yêu cầu cty A phải thanh toán lại tiền mua hàng đã nhận.

    Câu hỏi:

    Căn cứ vào quy định của pháp luật thương mại hiện hành, anh chị hãy giải quyết vụ việc tranh chấp trên./.

    12. Đề thi môn Pháp luật Thương mại hàng hóa và dịch vụ lớp AUF 38

    Cập nhật ngày 15/06/2015.

    Nhận định

    Những nhận định sau đây đúng hay sai? Vì sao?

    1 – Các bên trong một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài nếu pháp luật nước ngoài đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

    2 – Hợp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng cung ứng dịch vụ trong hoạt động thương mại chưa được xác lập, nếu các bên chưa thỏa thuận xong về giá cả.

    3 – Trong hình thức đại lý độc quyền, bên đại lý không được làm đại lý đối với hàng hóa cùng loại của thương nhân khác.

    Lý thuyết

    Hãy so sánh điều kiện áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại và điều kiện áp dụng tập quán thương mại trong nước.

    Bài tập

    Ngày 15.03.2014 thương nhân B và thương nhân M giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong đó các bên thỏa thuận ngày 30.03.2014, B phải giao hàng và ngày 01.04.2014, M phải thanh toán tiền hàng.

    Đến hạn giao hàng, do sự kiện bất khả kháng nên B không thực hiện việc giao hàng. M đã chuẩn bị kho bãi và các điều kiện để tiếp nhận hàng hóa nhưng không được nhận hàng nên đã thông báo ngừng thanh toán tiền hàng.

    Ngày 01.05.2014, M đề nghị B giao hàng nhưng B không thực hiện được và trả lời sẽ cố gắng giao hàng vào ngày 01.06.2014.

    Do nhu cầu sản xuất, ngày 25.05.2014, M đã mua hàng của một thương nhân khác. Ngày 01.06.2014, B giao hàng và yêu cầu M thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

    Căn cứ vào quy định của pháp luật thương mại hiện hành, xác định yêu cầu của thương nhân B đối với thương nhân M có phù hợp với quy định của pháp luật không? Giải thích./.

    13. Đề thi môn Pháp luật Thương mại hàng hóa và dịch vụ lớp Chất lượng cao 38A

    Cập nhật ngày 19/06/2015.

    Lý thuyết

    1 – Anh chị hãy nêu và giải thích sự khác biệt giữa các quy định của BLDS 2005 về địa điểm giao tài sản đối với hợp đồng mua bán tài sản và quy định của Luật Thương mại 2005 về địa điểm giao hàng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa.

    Bài tập

    Sự việc: Trong hợp đồng mua bán hàng hóa ký ngày 30.06.2014 giữa Cty B (bên bán) và Cty M (bên mua), cả hai đều có trụ sở tại TPHCM, các bên thỏa thuận Cty B giao 10 tấn thép cuộn tấm cán nóng dày 2mm xuất xứ Hàn Quốc cho Cty M vào ngày 15.07.2014 với giá 12.5 triệu đồng/tấn, thanh toán trong vòng 5 ngày kể từ ngày giao hàng.

    Hàng được giao đúng thỏa thuận vào ngày 15.07.2014. Đến ngày 16.07.2014 qua điện thoại, Cty M đề nghị Cty B giao tiếp 5 tấn thép cùng loại, chậm nhất đến ngày 20.07.2014 cà Cty M sẽ thanh toán ngay cho cả hai lần giao hàng. Nhưng trong cuộc điện thoại đó hai bên không đề cập đến giá cả.

    Ngay sau khi giao thêm 5 tấn thép cùng loại vào ngày 20.07.2014, Cty B yêu cầu Cty M thanh toán giá 5 tấn thép giao đợt sau với giá 13.0 triệu/tấn với lý do giá thép cuộn tấm cán nòng xuất xứ Hàn quốc trung bình trên thị trường vào ngày 20.07.2014 là 13.0 triệu đồng/tấn. Cụ thể:

    10 tấn x 12.500.000 đồng = 125.000.000 đồng

    +

    5 tấn x 13.000.000 đồng = 65.000.000 đồng

    Tổng cộng: 190.000.000 đồng

    Cty M chỉ chấp nhận trả tiền cho 5 tấn thép giao ngày 20.7.2014 với giá thép giao ngày 15.07.2014 là 12.5 triệu đồng/tấn do cty M chỉ đặt thêm số lượng còn giá cả thì còn phải theo như đã thỏa thuận đối với 10 tấn thép cuộn tấm cán nóng dày 2mm xuất xứ Hàn Quốc giao trước đó. Do vậy, Cty M chỉ phải thanh toán tổng cộng số tiền 187.500.000 đồng, còn Cty B phải tự chịu rủi ro do biến động giá cả thị trường, mặt khác, Cty B cũng có thể hưởng lợi nếu giá cả thị trường ngày 20/07/2014 sụt giảm. Trái lại cty B cho rằng trường hợp hai bên không thỏa thuận giá cả thì áp dụng giá thị trường.

    Câu hỏi:

    Anh chị hãy nêu ý kiến và lập luận ý kiến giải quyết bất đồng nêu trên giữa Cty B và Cty M.

    14. Đề thi môn Pháp luật Thương mại hàng hóa và dịch vụ lớp Chất lượng cao 38C

    Cập nhật ngày 11/02/2015.

    Lý thuyết

    1 – Anh chị hãy trình bày so sánh về điều kiện áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại và điều kiện áp dụng tập quán thương mại trong nước.

    2 – Anh chị hãy trình bày về tính ưu việt trong khả năng thực hiện đúng hợp đồng (giao hàng đúng số lượng, chất lượng, thanh toán) của phương thức mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa so với mua bán hàng hóa theo phương thức truyền thống.

    Bài tập

    Ngày 08.06.2013 bên B giao trước 300 tấm banner. Do không đúng quy cách, chất liệu, nên hai bên thỏa thuận bên B bồi thường thêm 200 tấm banner và bên A đồng ý nhận tiếp số banner còn lại. Ngày 14.06.2013 bên B giao tiếp 700 tấm banner còn lại. Ngày 16.06.2013 giao 200 tấm banner bồi thường, nhưng số banner này cũng không đạt chất lượng. Ngày 22.06.2013 bên B lại giao tiếp 200 banner nữa.

    Do bên A không thanh toán số tiền còn lại sau nhiều lần yêu cầu, nên ngày 31.08.2013 bên B đã khởi kiện bên A ra Tòa án có thẩm quyền, yêu cầu bên A thanh toán số tiền hàng còn lại và tiền lãi do chậm thanh toán theo quy định của pháp luật. Bên A cho rằng bên B đã vi phạm hợp đồng nhưng thay vì phạt vi phạm, bên A đã tạo điều kiện cho bên B sản xuất banner bồi thường, điều này thể hiện rõ thiện chí, đạo đức trong kinh doanh của bên A, nên đã đề nghị với bên B được thanh toán 50% giá trị hợp đồng nhưng bên B không đồng ý. Bên B yêu cầu tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

    Tại phiên tòa, bên B trình bày 200 tấm banner giao ngày 22.06.2013 là để bồi thường lần 2 theo thỏa thuận của 2 bên. Ngược lại, bên A cho rằng không có thỏa thuận bồi thường lần 2 mà là do bên B tự ý đem đến giao hàng tại kho của bên A. Nhưng bên A cũng thừa nhận là số banner giao sau cùng là đạt yêu cầu và bên A có sử dụng một số tấm banner này.

    Câu hỏi:

    Căn cứ vào quy định pháp luật và các tình tiết vụ án, anh chị hãy xem xét yêu cầu của bên B có cơ sở để chấp nhận không?

    15. Đề thi môn Pháp luật Thương mại hàng hóa và dịch vụ lớp TM – DS – QT 38B

    Cập nhật ngày 21/12/2015.

    Nhận định

    Những nhận định sau đây đúng hay sai? Vì sao?

    1 – Ủy thác mua bán hàng hóa là một ví dụ cụ thể về hoạt động đại diện cho thương nhân.

    2 – Giảm giá bán 50% khi mua hai sản phẩm chính là hình thức khuyến mại mua 1 tặng 1.

    3 – Theo pháp luật thương mại Việt Nam chỉ có quy định về đấu giá hàng hóa chứ không có quy định về đấu giá dịch vụ.

    4 – Trong mọi trường hợp, bên bị vi phạm trong hợp đồng thương mại chỉ có quyền phạt vi phạm tối đa là 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm.

    Lý thuyết

    So sánh hoạt động nhượng quyền thương mại và đại lý thương mại theo quy định của Luật thương mại 2005.

    Bài tập

    Cty TNHH Đenta Sài gòn (Đenta Sài gòn) có ký hợp đồng với chủ DNTN Trường Minh Nghĩa (Trường Minh Nghĩa) về việc thuê tài sản là máy cẩu hiệu Kota với trị giá hợp đồng là 120.000.000 đồng, thỏa thuận mỗi tháng thanh toán 30.000.000 đồng.

    Quá trình thực hiện hợp đồng, Đenta Sài gòn chỉ thanh toán tháng đầu 30.000.000 đồng, sau đó ngưng thanh toán tiền thuê mặc dù vẫn sử dụng tài sản đã thuê. Ngày 15.11.2013 hai bên ký biên bản thanh lý hợp đồng, Đenta Sài gòn xác nhận còn nợ Trường Minh Nghĩa 90.000.000 đồng và cam kết sẽ thanh toán cho nguyên đơn trong vòng 10 ngày kể từ ngày xuất hóa đơn. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa thanh toán. Do Đenta Sài gòn vi phạm nghĩa vụ không thanh toán tiền thuê tài sản nêu trên, vì vậy Trường Minh Nghĩa yêu cầu thu hồi nay số tiền nợ của hợp đồng và tiền lãi chậm trả từ tháng 11.2013 đến khi xét xử sơ thẩm là 13 tháng với mức lãi suất là 1,03%/tháng. Đenta Sài gòn yêu cầu được trả dần số nợ trong hợp đồng mỗi tháng là 20.000.000 đồng và không đồng ý chịu lãi chậm trả vì trong hợp đồng không thỏa thuận điều khoản tính lãi và chưa nhận được Hóa đơn GTGT. Nguyên nhân do trả chậm là vì chưa nhận được tiền thanh toán từ công trình xây dựng thuộc Tổng Cty xây dựng số 19.

    Căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành, hãy đưa ra hướng giải quyết cho vụ việc trên.

    16. Đề thi môn Pháp luật Thương mại hàng hóa và dịch vụ lớp Thương mại 39

    Cập nhật ngày 17/12/2015.

    Lý thuyết

    Phân tích mối quan hệ giữa bên giao dịch đại diện và bên đại diện trong hoạt động đại diện thương nhân và mối quan hệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền trong hoạt động nhượng quyền thương mại. Qua đó cho biết sự khác biệt cơ bản giữa hai hoạt động thương mại này.

    Nhận định

    Những nhận định sau đây đúng hay sai? giải thích tại sao?

    1 – Rủi ro đối với hàng hóa được chuyển từ bên bán sang bên mua khi quyền sở hữu hàng hóa được chuyển từ bên bán sang bên mua.

    2 – Đến hạn thực hiện hợp đồng đối với hợp đồng kỳ hạn trên sở giao dịch hàng hóa, bên không có hàng để giao có quyền thực hiện hợp đồng bằng cách thanh toán khoản chênh lệch giữa giá thỏa thuận trong hợp đồng và giá niêm yết trên sở giao dịch hàng hóa tại thời điểm thực hiện hợp đồng.

    3 – Bên đại lý có quyền quyết định giá bán đối với hàng hóa mà mình làm đại lý.

    Bài tập

    Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bên A có cung cấp cho bên B một số thông số cơ bản về máy móc, thiết bị dây chuyền sản xuất sản phẩm là loại tốt nhất trên thị trường hiện nay so với loại công nghệ sản xuất cũ, nên khẳng định chất lượng sản phẩm cũng là loại tốt nhất.

    Yêu cầu:

    17. Đề thi môn Pháp luật Thương mại hàng hóa và dịch vụ lớp CLC37B

    Cập nhật ngày 19/12/2015.

    Lý thuyết

    Phân biệt hành vi chuyển giao quyền thương mại và cấp lại quyền thương mại của bên nhận quyền theo quy định của pháp luật thương mại hiện hành.

    Bài tập 1

    Ngày 12/3/2008, hộ kinh doanh T ký kết hợp đồng mua bán vật tư với Công ty CP Xây dựng H, tổng giá trị hợp đồng là 480 triệu, theo đó bên mua thanh toán chậm nhất là 20 ngày kể từ ngày nhận hàng. Các bên thỏa thuận “bên mua chịu phạt 3%/tháng trên tổng giá trị thanh toán chậm, vi phạm hợp đồng”.

    Thực hiện hợp đồng, hộ kinh doanh T đã giao hàng và cung cấp đầy đủ các hóa đơn chứng từ cho bên mua nhưng bên mua không thanh toán theo thỏa thuận.

    Căn cứ theo quy định của pháp luật thương mại hiện hành, anh chị hãy xác định trách nhiệm của bên mua trong hợp đồng, biết rằng tính đến thời điểm bên bán yêu cầu thanh toán nợ, bên mua đã chậm thanh toán hàng cho bên bán 6 tháng, kể từ ngày bên mua phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

    Bài tập 2

    Công ty D và công ty S ký kết hợp đồng may gia công ngày 14/10/2010. Theo đó, Công ty D gia công 7660 cái áo cho công ty S, đơn giá 15.000 đồng/áo. Công ty S có nghĩa vụ cung cấp cho Công ty D nguyên phụ liệu. Các bên thỏa thuận hàng thành phẩm sẽ được giao tại kho của công ty S ngày 30/10/2010 và công ty D chỉ chịu trách nhiệm trực tiếp về chất lượng thành phẩm khi hàng chưa xuất ra khỏi xưởng của Công ty D. Về thời hạn thanh toán, Công ty S thanh toán tiền gia công cho Công ty D không quá 30 ngày sau khi nhận hàng thành phẩm.

    Thực hiện hợp đồng, ngày 30/10/2010, Công ty D đã giao đủ số lượng và đúng thời hạn hàng hóa. Ngày 05/11/2010, các bên lập biên bản thanh lý hợp đồng. Đến ngày 27/11/2010. Công ty S đã thanh toán một phần tiền hàng, số còn lại chưa thanh toán. Theo Công ty S, biên bản thanh lý lập ngày 05/11/2010 chỉ xác nhận Công ty D giao đủ số lượng, chứ không đề cập đến vấn đề chất lượng. Ngày 04/12/2010, Công ty S đã gửi công văn cho công ty D phản ánh việc hàng may bị lỗi về kỹ thuật và mời Công ty D đến để giải quyết với số hàng này nhưng Công ty D không đến.

    Ngày 12/5/2011, Công ty D khởi kiện Công ty S ra Tòa buộc Công ty S trả số tiền còn nợ và tiễn lãi chậm thanh toán tính từ ngày 30/10/2010 đến ngày xét xử.

    Công ty S không chấp nhận thanh toán tiếp khoản tiền còn lại vì Công ty D đã không bảo đảm chất lượng của hàng hóa và cũng không hợp tác để giải quyết số hàng không đạt chất lượng. Theo Công ty S, Công ty D phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với số áo bị hư hỏng.

    Yêu cầu: Trình bày ý kiến về việc giải quyết tranh chấp trên.

    18. Đề thi môn Pháp luật Thương mại hàng hóa và dịch vụ lớp CLC QTL K38

    Cập nhật ngày 01/06/2016.

    • Trường ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh
    • Lớp: DS37
    • Thời gian làm bài: 90 phút
    • (Sinh viên chỉ được sử dụng VBQPPL)
    • GV ra đề: PGS TS Phan Huy Hồng

    Lý thuyết

    1 – Anh chị hãy trình bày về các trường hợp Luật Thương mại 2005 được áp dụng theo sự thỏa thuận của các bên hợp đồng.

    2 – Anh chị hãy trình bày hiểu biết của mình về vấn đề chuyển quyền sở hữu đối với hàng hóa đang cho thuê trong thời hạn cho thuê theo Luật Thương mại 2005.

    Bài tập

    Sự việc: Ngày 24/9/2009 DNTN Như Phát có trụ sở tại Quận Thủ Đức TPHCM (Bên A) ký hợp đồng số 09/2008/HĐKT với Công ty TNHH Việt Gỗ có trụ sở tại Quận Bình Thạnh TPHCM (Bên B), theo đó Bên A nhận cung cấp cho Bên B một số lượng gỗ cao su trị giá 180 triệu đồng. Thực hiện hợp đồng, Bên A đã cung cấp đầy đủ hàng cho Bên B vào ngày 6/10/2008.

    Theo cam kết hợp đồng, Bên B có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ tiền hàng vào ngày 5/12/2008. Nhưng do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên B chưa thanh toán tiền hàng cho Bên A, mà vào ngày 29/12/2008 gửi công văn cho bên A đề nghị được trả hết số nợ này theo phương thức trả góp thành 4 đợt như sau: Đợt 01: ngày 05/05/2009 sẽ trả 25% số nợ; Đợt 2: ngày 05/6/2009 sẽ trả 25% số nợ; Đợt 3: ngày 05/7/2009 sẽ trả 25% số nợ; Đợt 4: ngày 05/8/2009 sẽ trả 25% số nợ còn lại.

    Bên A không đồng ý và khởi kiện bên B vào ngày 16/01/2009, yêu cầu bên B thanh toán một lần toàn bộ tiền hàng là 180 triệu đồng và tiền lãi do chậm thanh toán với lãi suất 1%/tháng tính từ ngày 06/12/2008 đến ngày tòa án mở phiên xét xử sơ thẩm.

    Tại phiên xét xử sơ thẩm ngày 25/5/2009, Bên A yêu cầu Tòa án buộc bên B thanh toán toàn bộ tiền hàng và tiền lãi do chậm thanh toán bằng 1%/tháng trong thời hạn 5 tháng tính từ ngày 06/12/2008 đến ngày 06/5/2009. Bên B xin được trả số nợ vốn làm 4 lần: 15/6/2009 trả 25%; 15/7/2009 trả 25%; 15/8/2009 trả 25%; 15/9/2009 trả 25%; đồng ý trả tiền lãi do chậm thanh toán theo mức do tòa án quyết định nhưng chỉ tính từ 06/12/2008 đến ngày bên A nộp đơn khởi kiện tại tòa là 16/01/2009.

    Câu hỏi:

    Anh chị hãy trình bày ý kiến về việc giải quyết tranh chấp trên. Cho biết: lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường vào thời điểm tòa án mở phiên xét xử sơ thẩm là 22%/năm.

    19. Đề thi môn Pháp luật Thương mại hàng hóa và dịch vụ lớp CJL khóa 38

    Cập nhật ngày 27/12/2016.

    • Trường ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh
    • Lớp: CJL khóa 38
    • Thời gian làm bài: 90 phút
    • (Sinh viên chỉ được sử dụng VBQPPL)
    • GV ra đề: PGS TS Phan Huy Hồng

    Lý thuyết

    1 – Anh chị hãy trình bày sự khác biệt giữa điều kiện áp dụng tập quán thương mại trong nước và tập quán thương mại quốc tế.

    2 – Anh chị hãy trình bày so sánh quy định về phạt vi phạm của Luật Thương mại năm 2005 và quy định về phạt vi phạm đối với vi phạm hợp đồng của Bộ luật Dân sự 2021.

    Bài tập

    Sự việc: Ngày 12/3/2008, Hộ kinh doanh T và Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng H (sau đây: Công ty H) ký kết hợp đồng mua bán thiết bị điện. Theo đó, công ty H mua hàng để thi công công trình Nhà máy xi măng Cam Ranh với giá trị hợp đồng là 40.275.000 đồng; các hàng hóa mua bán theo hợp đồng và phát sinh ngoài giá trị hợp đồng ban đầu, bên mua thanh toán cho bên bán chậm nhất là 20 ngày kể từ ngày nhận hàng.

    Trong hợp đồng, các bên thỏa thuận “Công ty H chịu phạt 3% tháng trên tổng giá trị thanh toán chậm, vi phạm hợp đồng”.

    Trong quá trình thực hiện hợp đồng, tính đến hết tháng 03/2009, Hộ kinh doanh T đã tổng hợp và xác định số tiền mua hàng mà Công ty H còn nợ là 48.425.506 đồng.

    Ngày 01/4/2009, Hộ kinh doanh T gửi bản đối chiếu công nợ và thư đề nghị thanh toán đối với số tiền mua hàng còn thiếu là 48.425.506 đồng cho Công ty H. Trong bản đối chiếu công nợ có thể hiện nội dung “Sau 30 ngày kể từ ngày gửi bưu điện đến quý khách hàng mà cửa hàng chúng tôi chưa được nhận lại bản xác nhận và phản hồi của quý khách hàng bằng văn bản thì số nợ tại bản xác nhận này là cơ sở pháp lý ghi nhận công nợ giữa hai bên”. Bản đối chiếu công nợ và thư yêu cầu thanh toán nợ Hộ kinh doanh T đã gửi theo đường chuyển phát lại và có thể hiện giấy báo phát là các loại giấy tờ nêu trên và Công ty H đã ký nhận. Tuy nhiên, Công ty H không có văn bản trả lời cho Hộ kinh doanh T.

    Sau nhiều lần tiếp theo gọi điện và gửi thư đến bên mua yêu cầu thanh toán nợ nhưng bên mua không thanh toán, ngày 01/9/2009 chủ hộ kinh doanh T đã khởi kiện buộc công ty H:

    1 – Thanh toán số tiền nợ mua hàng đến tháng 04/2009 là 48.425.506 đồng.

    2 – Buộc Công ty H trả tiền phạt vi phạm hợp đồng với mức lãi 3%/tháng theo thỏa thuận của các bên từ ngày 01/5/2009 cho đến ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Cụ thể: tiền lãi mỗi tháng là 48.428.506 đồng x 3%=1.452.765 đồng.

    Yêu cầu:

    Anh chị hãy trình bày ý kiến về việc giải quyết tranh chấp trên; biết rằng Tòa án có thẩm quyền mở phiên xét xử sơ thẩm vào ngày 30/11/2009./.

    20. Đề thi môn Pháp luật Thương mại hàng hóa và dịch vụ lớp Dân sự 40B

    Cập nhật ngày 08/07/2017.

    Nhận định

    Những nhận định sau đây đúng hay sai? Tại sao? (4 điểm)

    1 – Theo quy định của Luật thương mại 2005, một bên không có quyền áp dụng chế tài trong thương mại trước khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng của bên kia.

    2 – Trong thời gian quá cảnh lãnh thổ Việt Nam, thương nhân kinh doanh dịch vụ quá cảnh hàng hóa chịu trách nhiệm về việc mất khoản lợi đáng lẽ được hưởng của khách hàng trong mọi trường hợp mà việc mất khoản nợ này do việc giao trả hàng chậm của mình.

    3 – Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên đại lý bán hàng phải chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa sau khi đã kiểm tra và nhận hàng từ bên đại lý.

    4 – Lãi suất phát sinh do bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất giới hạn là 20%/năm của khoản tiền chậm trả.

    Bài tập 1

    Ngày 15/12/2015, Công ty A (Bên A) ký hợp đồng bán cho Công ty B (Bên B) xe nâng, thanh toán 20% tiền hàng khi ký hợp đồng, 80% còn lại thanh toán trong vòng 45 ngày sau khi nhận hàng. Bên B đã nhận hàng nhưng chỉ mới thanh toán 20% tiền hàng với giải thích Bên B chỉ là người nhập khẩu ủy thác cho Công ty C (Bên C) và không chịu bất kỳ trách nhiệm nào về việc thanh toán cho Bên A. Sau nhiều lần đòi nợ không thành, ngày 03/3/2016, các bên đã đàm phán và ký bản thỏa thuận ba bên (gồm Bên A, Bên B và Bên C) với nội dung: Bên C chịu trách nhiệm thanh toán số tiền còn nợ và lãi chậm thanh toán cho Bên A; Trường hợp Bên C yêu cầu chuyển tiền cho Bên A thì Bên B sẽ trợ giúp trong các thủ tục chuyển tiền. Đến hết thời hạn nợ được xác định theo bản thỏa thuận ngày 03/3/2016 mà vẫn không nhận được tiền thanh toán. Bên A khởi kiện yêu cầu Bên B với tư cách là bên mua trong hợp đồng mua bán hàng hóa trả số tiền nợ trên.

    Yêu cầu: Căn cứ quy định của pháp luật thương mại hiện hành, anh chị hãy trình bày ý kiến về việc giải quyết các tranh chấp trên.

    Bài tập 2

    Công ty A ký hợp đồng bán cho Công ty B một lô hàng hải sản, giao hàng tại kho của Công ty B. Thực hiện hợp đồng, Công ty A đã tổ chức việc vận chuyển và giao hàng đến kho của Công ty B nhưng trên đường vận chuyển, do gặp bão nên hàng hóa bị hư hỏng và khi được chuyển đến kho của Công ty B đã trễ 15 ngày. Công ty B đã từ chối thanh toán và yêu cầu Công ty A phải thay thế hàng hóa khác cho mình, đồng thời bồi thường thiệt hại do việc giao hàng chậm trễ.

    Yêu cầu: Căn cứ pháp luật thương mại hiện hành, anh chị hãy xác định trách nhiệm của các bên trong việc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa nói trên./.

    21. Đề thi môn Pháp luật Thương mại hàng hóa và dịch vụ lớp Quốc tế 41

    Cập nhật ngày 29/12/2017.

    Nhận định

    Những nhận định sau đây đúng hay sai? Tại sao? (6 điểm)

    1 – Chuyển giao quyền thương mại là việc bên nhận quyền chuyển giao quyền thương mại cho bên dự kiến nhận quyền khác nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật, đồng thời vẫn thực hiện các quyền và nghĩa vụ của bên nhận quyền theo hợp đồng nhượng quyền thương mại.

    2 – Trong mọi trường hợp, theo quy định của Luật Thương mại 2005, nếu các bên có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại.

    3 – Bên giao đại lý có nghĩa vụ trực tiếp chịu trách nhiệm trước bên thứ ba về hành vi vi phạm hợp đồng của bên đại lý trong mọi trường hợp mà việc vi phạm hợp đồng do chất lượng hàng hóa không đảm bảo theo quy định.

    4 – Theo Luật Thương mại 2005, lỗi không phải là yếu tố bắt buộc làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

    5 – Theo quy định của Luật thương mại 2005, một bên không có quyền áp dụng chế tài trong thương mại trước khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng của bên kia.

    6 – Trong thời gian quá cảnh lãnh thổ Việt Nam, thương nhân kinh doanh dịch vụ quá cảnh hàng hóa chịu trách nhiệm về việc mất khoản lợi đáng lẽ được hưởng của khách hàng trong mọi trường hợp mà việc mất khoản nợ này do việc giao trả hàng chậm của mình.

    Bài tập

    Ngày 05/02/2016, Công ty A (Bên A) đã ký hợp đồng bán sơn cho Công ty B (Bên B) với giá và số lượng hàng giao theo đợt qua Fax của Bên B. Thực hiện hợp đồng, Bên A đã giao hàng theo yêu cầu của bên B và xuất hóa đơn giá theo thỏa thuận. Bên B cũng đã thanh toán đủ cho Bên A trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày Bên A xuất hóa đơn. Từ ngày 01/03/2016, Bên A bắt đầu tăng giá các mặt hàng nhưng không ký văn bản phụ lục hợp đồng mà chỉ thông báo qua điện thoại, đồng thời giá cả từng loại được ghi cụ thể trong hóa đơn khi xuất hàng. Bên B vẫn tiếp tục đặt hàng và nhận hàng cùng với hóa đơn ghi theo đơn giá mới nhưng không có ý kiến gì. Tuy nhiên sau đó, Bên B không đồng ý thanh toán tiền hàng cho các đợt hàng giao từ 01/03/2016 vì cho rằng Bên A tự ý tăng giá sơn so với hợp đồng ban đầu và Bên B vẫn đặt hàng do không để ý số tiền ghi trong hóa đơn. Do thương lượng không thành, ngày 10/02/2017, Bên A khởi kiện Bên B ra Tòa, yêu cầu Bên B thanh toán tiền hàng còn thiếu và tiền lãi do chậm thanh toán với mức lãi suất là 20%/năm của khoản tiền chậm trả.

    Yêu cầu: Anh chị hãy giải quyết vụ việc trên. Cho biết: lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường vào thời điểm mở phiên tòa xét xử sơ thẩm là 24%/năm./.

    22. Đề thi môn Pháp luật Thương mại hàng hóa và dịch vụ lớp Chất lượng cao 40B

    Cập nhật ngày 06/01/2018.

    • Trường ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh
    • Lớp: CLC40B
    • Thời gian làm bài: 90 phút
    • (Sinh viên chỉ được sử dụng VBQPPL)
    • GV ra đề: PGS TS Phan Huy Hồng

    Tự luận

    Nguồn luật nào được áp dụng đối với các quan hệ hợp đồng sau đây? Giải thích tại sao?

    1 – Bệnh viện công lập T ký kết hợp đồng với Công ty CP Y, theo đó T ủy thác cho Y nhập khẩu một thiết bị y tế công nghệ cao từ nước D; trong hợp đồng T và Y không thỏa thuận về luật áp dụng.

    2 – Công ty TNHH A có trụ sở tại TP. Hồ Chí Minh ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa với Công ty B có trụ sở tại Singapore, theo đó A bán cho B 100 tấn cà phê nhân Robusta, giao hàng theo điều kiện “FOB cảng Cát Lái TP. Hồ Chí Minh, Incoterms 2010”, trong trường hợp A và B không thỏa thuận về luật áp dụng.

    Lý thuyết

    Trong quan hệ ủy thác mua hàng theo Luật Thương mại 2005, bên nhận ủy thác nhân dân chính mình mua hàng từ bên thứ ba cho bên ủy thác căn cứ các thỏa thuận trong hợp đồng ủy thác. Vậy, bên ủy thác cần ràng buộc bên nhận ủy thác bằng điều khoản nào để đảm bảo quyền lợi của mình trong trường hợp hàng hóa do bên thứ ba giao có khiếm khuyết ẩn tì nên đưa vào sử dụng mới phát hiện được khiếm khuyết đo. Giải thích tại sao? (3 điểm)

    Bài tập

    Doanh nghiệp tư nhân A làm đại lý bán hàng cho Công ty CP Bánh kẹo B. Tháng 01/2017, để chuẩn bị hàng tết, A đã yêu cầu B giao một số lô hàng bánh kẹo trị giá 300 triệu đồng theo giá giao đại lý. Nhưng chỉ vài ngày sau khi B giao hàng, cửa hàng của A bị hỏa hoạn thiêu rụi cùng toàn bộ số hàng vừa nhập về. Nguyên nhân hỏa hoạn được xác định là do chập điện ở căn nhà kế bên gây cháy và lan sang cửa hàng của A. A phải tạm dừng toàn bộ hoạt động kinh doanh và không thanh toán cho B giá trị tiền hàng. B yêu cầu A thanh toán giá trị lô hàng theo thỏa thuận hợp đồng là trong thời hạn 21 ngày kể từ ngày nhận hàng. Tuy nhiên, trong hợp đồng không có bất cứ thỏa thuận nào có thể áp dụng để xử lý tình huống này. Do A phải tạm dừng toàn bộ hoạt động kinh doanh tại địa điểm cửa hàng bị cháy, nên B đã thông báo cho A về việc đình chỉ thực hiện hợp đồng, mặc dù A dự kiến sẽ thuê tạm nhà gần đó để mở lại cửa hàng sau Tết.

    Hỏi:

    1 – Trong trường hợp nêu trên A có phải thanh toán tiền hàng cho B hay không? Giải thích tại sao?

    2 – B có quyền đình chỉ thực hiện hợp đồng trong trường hợp này hay không? Giải thích tại sao?./.

    23. Đề thi môn Pháp luật Thương mại hàng hóa và dịch vụ lớp Văn bằng 2

    Cập nhật ngày 07/01/2019.

    Nhận định

    Những nhận định sau đây đúng hay sai? Tại sao? (5 điểm)

    1 – Theo quy định của Luật Thương mại, một bên không có quyền áp dụng chế tài trong thương mại trước khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng của bên kia.

    2 – Trong thời gian quá cảnh lãnh thổ Việt Nam, thương nhân kinh doanh dịch vụ quá cảnh hàng hóa chịu trách nhiệm về việc mất khoản lợi đáng lẽ được hưởng của khách hàng trong mọi trường hợp mà việc mất khoản nợ này do việc giao trả hàng chậm của mình.

    3 – Một cá nhân được thực hiện hoạt động giám định với tư cách giám định viên nếu đáp ứng các tiêu chuẩn quy định tại khoản 1, Điều 259 Luật Thương mại.

    4 – Trong thời hạn cho thuê hàng hóa, bên cho thuê chỉ được bán hàng hóa đang cho thuê cho bên thứ ba nếu được sự đồng ý của bên thuê.

    5 – Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có quyền giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại ở mức toàn bộ trách nhiệm của thương nhân này không vượt quá giới hạn trách nhiệm đối với tổn thất toàn bộ hàng hóa.

    Bài tập

    Ngày 01/4/2018, Công ty A và Công ty B thỏa thuận Công ty A tiến hành giới thiệu sản phẩm của Công ty B cho AS Import Inc (Hoa Kỳ) và hỗ trợ thủ tục để sản phẩm của Công ty B đạt tiêu chuẩn xuất khẩu theo quy định. Thỏa thuận của các bên không xác định thời hạn thực hiện và giá cả, do vậy Công ty B đã gửi mail yêu cầu Công ty A xác định giá và thời hạn nhưng Công ty A không có văn bản trả lời cho Công ty B. Sau đó, Công ty A đã thực hiện nhiều hành vi để giới thiệu sản phẩm của Công ty B cho Công ty AS Import. Tuy nhiên, sau các thỏa thuận và đàm phán, Công ty B đã ký hợp đồng bán hàng cho AS Corporation (Công ty mẹ của AS Import Inc). Công ty A yêu cầu Công ty B trả thù lao nhưng không được chấp nhận với lý do: (1) Thỏa thuận giữa các bên không xác định giá và thời hạn, dù Công ty B đã yêu cầu nhưng Công ty A không phản hồi, như vậy được hiểu là Công ty A đơn phương chấm dứt hợp đồng nên yêu cầu thanh toán thù lao là không có cơ sở; và (ii) Công ty B ký hợp đồng bán hàng cho AS Corporation chứ không phải là AS Import Inc (đối tác mà Công ty A đã giới thiệu). Công ty A đã khởi kiện yêu cầu Công ty B trả thù lao và yêu cầu Công ty B chấm dứt hoạt động mua bán hàng hóa với AS Corporation, nếu tiếp tục mua bán thì phải trả phí theo thỏa thuận. (5 điểm)

    Yêu cầu: Căn cứ quy định của pháp luật thương mại hiện hành, anh chị hãy trình bày ý kiến về việc giải quyết tranh chấp trên./.

    24. Đề thi môn Pháp luật Thương mại hàng hóa và dịch vụ lớp Dân sự – Thương mại – Quốc tế 42A

    Cập nhật ngày 17/06/2019.

    Nhận định

    Những nhận định sau đây đúng hay sai? Tại sao? (5 điểm)

    1 – Bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng phải bồi thường toàn bộ tổn thất thực tế, trực tiếp và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.

    3 – Các bên trong hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa có thể thỏa thuận chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên đại lý kể từ thời điểm hàng hóa được chuyển giao cho bên đại lý.

    4 – Các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài nếu pháp luật nước ngoài đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

    5 – Các bên trong hợp đồng có thỏa thuận về việc sử dụng chứng thư giám định của một thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định cụ thể thì chứng thư giám định đó có giá trị pháp lý đối với tất cả các bên.

    Bài tập

    Ngày 01/12/2018, Công ty A có trụ sở tại Quận 1, TP. Hồ Chí Minh giao kết hợp đồng số 08/2018/HĐKT với Công ty B, theo đó các bên thỏa thuận A bán 1.000 tấn thép cuộn tấm cán nóng dày 2mm xuất xứ Hàn Quốc cho Công ty B với giá là 15.000.000 đồng/tấn.

    ” – Thời hạn giao hàng: Trong 10 ngày tính từ ngày 01/12/2018 đến hết ngày 20/12/2018.

    – Thanh toán trong vòng 05 ngày kể từ ngày nhận hàng. B thanh toán cho A bằng phương thức chuyển khoản vào tài khoản của A”.

    Đến hết ngày 20/12/2018, Công ty A chỉ giao được cho Công ty B 800 tấn thép cuộn do thị trường khan hiếm. Ngày 21/12/2018, Công ty A gửi thư cho Công ty B đề nghị Công ty B gia hạn thời hạn thực hiện hợp đồng đến ngày 30/12/2018 và Công ty B gửi thư lại đồng ý với đề nghị trên. Tuy nhiên, vào ngày 25/12/2018, Công ty B đã gửi công văn (i) Yêu cầu công ty A trả tiền phạt vi phạm do vi phạm nghĩa vụ giao hàng không đúng thời hạn và số lượng; (ii) Thông báo do nhu cầu cần hàng hóa để giao cho khách hàng nên B đã mua 200 tấn thép còn thiếu từ Công ty C nên A không cần giao 200 tấn thép còn lại nữa.

    Công ty A không đồng ý vì cho rằng việc Công ty B cho gia hạn là đồng nghĩa với việc chấp nhận việc chậm giao hàng cho Công ty A. Đồng thời, Công ty A cho rằng Công ty B vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với 800 tấn thép cuộn đã nhận, yêu cầu Công ty B thanh toán và trả lãi do chậm thanh toán với mức lãi suất là 15%/năm đối với khoản tiền chậm trả.

    Căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành, anh chị hãy giải quyết tranh chấp nêu trên. Biết rằng lãi suất nợ quá hạn trung nình trên thị trường tại thời điểm mở phiên tòa xét xử sơ thẩm là 18%/năm./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhận Định Môn Pháp Luật Thương Mại Hàng Hóa Và Dịch Vụ
  • Những Điểm Mới Của Luật Thương Mại Hiện Hành Đáng Lưu Ý
  • Dịch Vụ Giao Nhận Vận Tải Trong Luật Thương Mại
  • Khái Quát Về Dịch Vụ Giao Nhận Hàng Hoá Xuất Nhập Khẩu Chuyên Chở Bằng Đường Không
  • Mẫu Hợp Đồng Đại Lý Thương Mại Và Quy Định Pháp Luật Về Đại Lý Thương Mại Độc Quyền ?
  • Thiết Lập Website Cung Cấp Dịch Vụ Thương Mại Điện Tử

    --- Bài mới hơn ---

  • Thành Lập Website Thương Mại Điện Tử Bán Hàng Tại Việt Nam
  • Trách Nhiệm Thông Báo Thành Lập Website Thương Mại Điện Tử
  • Thành Lập Website Thương Mại Điện Tử
  • Thành Lập Website Thương Mại Điện Tử Và Bán Hàng Qua Website Thương Mại Điện Tử
  • Hoạt Động Xúc Tiến Thương Mại, Một Số Hình Thức Thực Hiện Cụ Thể
  • Căn cứ pháp lý

    • Nghị định số 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử;
    • Thông tư số 47/2014/TT-BCT quy định về quản lý website thương mại điện tử.

    Điều kiện thiết lập website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử

    Theo quy định tại Nghị định số 52/2013/NĐ-CP thì Thương nhân, tổ chức được thiết lập website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử theo quy định của pháp luật khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:

    1. Là thương nhân, tổ chức có ngành nghề kinh doanh hoặc chức năng, nhiệm vụ phù hợp.
    2. Có website với tên miền hợp lệ và tuân thủ các quy định về quản lý thông tin trên Internet.
    3. Có đề án cung cấp dịch vụ trong đó nêu rõ các nội dung sau:
      1. Mô hình tổ chức hoạt động, bao gồm hoạt động cung cấp dịch vụ, hoạt động xúc tiến, tiếp thị dịch vụ cả trong và ngoài môi trường trực tuyến;
      2. Cấu trúc, tính năng và các mục thông tin chủ yếu trên website cung cấp dịch vụ;
      3. Phân định quyền và trách nhiệm giữa thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ thương mại điện tử với các bên sử dụng dịch vụ.
    4. Đã đăng ký thiết lập website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử và được Bộ Công Thương xác nhận đăng ký theo quy định.

    Thủ tục đăng ký thiết lập website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử

    Đối tượng đăng ký là thương nhân hoặc tổ chức hoạt động trong lĩnh vực xúc tiến thương mại hoặc hỗ trợ doanh nghiệp, có website thương mại điện tử trên đó cung cấp ít nhất một trong các dịch vụ sau:

    1. Dịch vụ sàn giao dịch thương mại điện tử.
    2. Dịch vụ khuyến mại trực tuyến.
    3. Dịch vụ đấu giá trực tuyến.
      Đăng ký thiết lập website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử

    Thương nhân, tổ chức tiến hành đăng ký trực tuyến với Bộ Công Thương về việc thiết lập website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử sau khi website đã được hoàn thiện với đầy đủ cấu trúc, tính năng và thông tin theo đề án cung cấp dịch vụ, đã hoạt động tại địa chỉ tên miền được đăng ký và trước khi chính thức cung cấp dịch vụ đến người dùng.

    • Đơn đăng ký thiết lập website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử;
    • Bản sao quyết định thành lập (đối với tổ chức), Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đầu tư hoặc giấy phép đầu tư (đối với thương nhân);
    • Đề án cung cấp dịch vụ theo quy định;
    • Cơ chế xử lý, thời hạn xử lý khi nhận được phản ánh về hành vi kinh doanh vi phạm pháp luật trên website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử;
    • Mẫu hợp đồng cung cấp dịch vụ, các điều kiện giao dịch chung, nếu có;
    • Các tài liệu khác do Bộ Công Thương quy định.

    Hồ sơ đăng ký bao gồm các tài liệu sau:

    Việc tiếp nhận, xử lý hồ sơ đăng ký website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử được Bộ Công Thương thực hiện trực tuyến tại Cổng thông tin Quản lý hoạt động thương mại điện tử tại địa chỉ www.online.gov.vn.

    Thương nhân, tổ chức truy cập vào Cổng thông tin Quản lý hoạt động thương mại điện tử và tiến hành khai báo hồ sơ.

    Sau khi hoàn thành đăng ký hồ sơ, thương nhân, tổ chức nộp hồ sơ bản giấy đầy đủ về Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin của Bộ Công thương.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Thức Xin Giấy Phép Website Thương Mại Điện Tử Bán Hàng Nhanh
  • Những Quy Định Về Đăng Ký Website Thương Mại Điện Tử Cần Biết
  • Luật Thương Mại Điện Tử Về Website
  • 08 Đề Thi Luật Thương Mại Quốc Tế
  • Pháp Luật Cạnh Tranh Trong Hoạt Động Thương Mại Quốc Tế Sau Khi Việt Nam Gia Nhập Wto
  • Luật Thương Mại Việt Nam & Những Bất Cập Về Dịch Vụ Logistics (Phần 2)

    --- Bài mới hơn ---

  • Dịch Vụ Logistics Bao Gồm Chuỗi Các Dịch Vụ
  • Câu Hỏi Ôn Tập Luật Thương Mại 1, 2 (Có Đáp Án)
  • Mục Lục Luật Thương Mại Năm 2005
  • 4 Điều Quan Trọng Về Luật Trọng Tài Thương Mại 2021
  • Luật Thương Mại Số 36/2005/qh11
  • (VLR) (Vietnam Logistics Review) Ở số trước, Vietnam Logistics Review đã giới thiệu đến bạn đọc những khái niệm và điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics. Số này, chúng tôi sẽ tiếp tục phân tích về quyền và nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics được quy định trong bộ luật thương mại Việt Nam năm 2005.

    (Vietnam Logistics Review) Ở số trước, Vietnam Logistics Review đã giới thiệu đến bạn đọc những khái niệm và điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics. Số này, chúng tôi sẽ tiếp tục phân tích về quyền và nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics được quy định trong bộ luật thương mại Việt Nam năm 2005.

    Quyền và nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics

    Quyền và nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là nội dung cơ bản của quy định pháp luật về dịch vụ logistics. Quyền và nghĩa vụ này nằm rải rác trong các quy định của hệ thống pháp luật chung và các quy định của hệ thống pháp luật chuyên ngành. Theo Điều 235 Luật Thương mại Việt Nam, các chủ thể kinh doanh dịch vụ logistics có quyền thỏa thuận với nhau về quyền và nghĩa vụ. Khi các chủ thể không thỏa thuận được với nhau thì họ có các quyền và nghĩa vụ tại Điều 235 Luật của bộ luật này.

    Bên cạnh quyền thì thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics cũng phải có nghĩa vụ thực hiện các công việc theo đúng thỏa thuận với khách hàng. Đây được coi là nghĩa vụ cơ bản nhất của người làm dịch vụ logistics nhằm đảm bảo được quyền lợi của khách hàng. Các công việc mà người làm dịch vụ logistics phải thực hiện có thể đã được thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ, hoặc được khách hàng hướng dẫn cụ thể trên cơ sở các quy định chung của hợp đồng. Về nguyên tắc, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phải làm theo đúng những chỉ dẫn của khách hàng. Tuy nhiên, để đảm bảo lợi ích cho khách hàng thì điểm b, c khoản 1 Điều 235 Luật Thương mại 2005 quy định: “Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có lý do chính đáng vì lợi ích của khách hàng thì thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có thể thực hiện khác với chỉ dẫn của khách hàng, nhưng phải thông báo ngay cho khách hàng”; “Khi xảy ra trường hợp có thể dẫn đến việc không thực hiện được một phần hoặc toàn bộ những chỉ dẫn của khách hàng thì phải thông báo ngay cho khách hàng để xin chỉ dẫn”.

    Như vậy, căn cứ từng lĩnh vực kinh doanh cụ thể cũng như việc thực hiện một hay nhiều chuỗi dịch vụ logistics mà các thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có các quyền, nghĩa vụ quy định trong các văn bản pháp luật khác nhau. Ngoài các quyền và nghĩa vụ được quy định ở các văn bản pháp luật trong nước thì quyền và nghĩa vụ của các thương nhân kinh doanh dịch vụ này còn được quy định trong các công ước quốc tế, các điều ước mà VN tham gia.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Pháp Luật Việt Nam Về Dịch Vụ Logistics Trong Hoạt Động Thương Mại Điện Tử
  • Qui Định Hiện Hành Về Dịch Vụ Logistics
  • Hợp Đồng Dịch Vụ Logistics Theo Luật Thương Mại 2005
  • Quy Định Của Pháp Luật Về Khuyến Mại Rượu
  • Các Hình Thức Khuyến Mại Phổ Biến, Độc Đáo Trong Thương Mại
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50