Những Điểm Mới Của Bộ Luật Hình Sự Năm 2021 Về Tội Phạm Xâm Hại Trẻ Em

--- Bài mới hơn ---

  • Quy Định Của Pháp Luật Về Hành Vi Xâm Hại Trẻ Em
  • Tội Phạm Xâm Hại Tình Dục Trẻ Em Theo Bộ Luật Hình Sự Mới
  • Tổng Hợp Quy Định Của Pháp Luật Về Xâm Hại Trẻ Em
  • Quy Định Của Pháp Luật Việt Nam Liên Quan Đến Xâm Hại Tình Dục Trẻ Em
  • Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự
  • THS. NGUYỄN THỊ THU TRANG

    Tóm tắt: Bộ luật Hình sự năm 2021 được sửa đổi, bổ sung năm 2021 (BLHS năm 2021) đã có nhiều quy định mới nhằm xử lý nghiêm người phạm các tội xâm hại trẻ em. Bài viết trình bày, phân tích những quy định mới này nhằm góp phần tuyên truyền, phổ biến pháp luật và qua đó góp phần nâng cao hiệu quả phòng, chống tội phạm xâm hại trẻ em ở Việt Nam.

    Từ khóa: Các tội xâm hại trẻ em, Bộ luật Hình sự năm 2021.

    Abstract: The Criminal Code of 2021 was amended in 2021 (Criminal Code of 2021) with several new regulations to strictly punish the offenders of child abuse. This article psents analysis of these new regulations for further dissemination and communication of the law and thereby improvements of the effectiveness of pvention and fights of child abuse crimes in Vietnam.

    Keywords: child abuse crimes; Criminal Code of 2021

    1.1. Quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là trẻ em (Điều 134 BLHS năm 2021)

    Một là, Điều 134 BLHS năm 2021 bổ sung thêm các tình tiết định tội trong cấu thành tội phạm cơ bản của tội này, đó là: ” Dùng vũ khí, vật liệu nổ; dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm; trong thời gian đang bị giữ, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”. Điểm mới này vừa thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật đối với hành vi phạm tội có sử dụng các công cụ, phương tiện nêu trên, vừa góp phần xử lý nghiêm người phạm tội và đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm xâm hại trẻ em.

    Trong thời gian qua, nhiều vụ xâm hại trẻ em có sử dụng vũ khí, vật liệu nổ; dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm. Hành vi phạm tội này vừa thể hiện tính dã man, tàn bạo của người phạm tội, vừa có khả năng gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, gây tâm lý hoảng sợ cho nạn nhân và làm mất trật tự, an toàn xã hội. Bên cạnh đó, người đang bị giữ là “người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; đã thực hiện tội phạm hoặc bị nghi thực hiện tội phạm”, nếu người này còn có hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, nhất là của trẻ em, chứng tỏ họ có ý thức coi thường pháp luật, coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác. Do đó, họ phải bị xử lý nặng hơn so với trường hợp thông thường. Đối với người ” đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” là người có nhân thân xấu, có tiền án, tiền sự, lại đang trong thời gian giáo dục, cải tạo lại tiếp tục phạm tội, chứng tỏ ý thức cải tạo kém. Vì vậy, việc trừng trị nghiêm người phạm tội trong trường hợp này là rất cần thiết.

    1.2. Quy định về tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là trẻ em (Điều 138 BLHS năm 2021) 1.3. Quy định về tội hành hạ người khác là trẻ em (Điều 140 BLHS năm 2021)

    Hai là, Điều 134 BLHS năm 2021 đã: (i) Bổ sung thêm tình tiết tăng nặng định khung trong cấu thành tội phạm tăng nặng thứ nhất của tội này, đó là: ” Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%; phạm tội 02 lần trở lên; tái phạm nguy hiểm” (khoản 2); (ii) Bổ sung thêm tình tiết tăng nặng định khung trong cấu thành tội phạm tăng nặng thứ hai của tội này, đó là: ” Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này” (khoản 3). Quy định này vừa bảo đảm phân hóa cao trách nhiệm hình sự, tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, vừa không bỏ lọt các trường hợp phạm tội nguy hiểm.

    Ba là, Điều 134 BLHS năm 2021 đã bổ sung tình tiết ” Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên ” (điểm b khoản 4) là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt. Thực tế hiện nay cho thấy, nhiều vụ gây thương tích vào mặt để lại di chứng, hậu quả rất nặng nề về tâm lý và thể chất của người bị hại. Vì vậy, việc bổ sung quy định này nhằm xử lý nghiêm khắc hơn, tăng cường tính răn đe đối với các trường hợp cố ý gây thương tích ảnh hưởng đến thẩm mỹ và chức năng khác trên vùng mặt của người khác, nhất là thẩm mỹ và chức năng khác trên vùng mặt của trẻ em.

    2. Quy định 2.1. Quy định về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142 BLHS năm 2021) của BLHS năm 2021 về tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của trẻ em

    Một là, khoản 2 và khoản 3 Điều 138 BLHS năm 2021 đã bổ sung hai cấu thành tội phạm tăng nặng, cụ thể là: 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:a) Đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.3. Phạm tội đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên, thì bị phạt cải tạo không giam giữ từ 02 năm đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm“. Quy định này vừa nhằm xử lý nghiêm khắc hơn hành vi phạm tội trong các trường hợp nêu trên, vừa phân hóa rõ hơn trách nhiệm hình sự của người phạm tội và tương xứng hơn với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.

    2.2. Quy định về tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (Điều 146 BLHS năm 2021)

    Hai là, khoản 1 Điều 134 BLHS năm 2021 đã sửa tình tiết định tội “vô ý gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên” trong cấu thành tội phạm cơ bản của tội này được quy định tại khoản 1 Điều 108 BLHS năm 1999 (vì tình tiết này có thể bao gồm cả trường hợp “vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là trẻ em mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên”) thành “vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là trẻ em mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%(tình tiết này không bao gồm trường hợp “vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là trẻ em mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên” vì trường hợp “vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là trẻ em mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên” sẽ bị xét xử theo quy định tại điểm b khoản 2 với hình phạt cao hơn là ” tù từ 03 tháng đến 02 năm“[1]). Quy định này vừa nhằm xử lý nghiêm khắc hơn hành vi phạm tội ” vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là trẻ em mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên “, vừa phân hóa rõ hơn trách nhiệm hình sự của người phạm tội và tương xứng hơn với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội (giữa trường hợp “vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là trẻ em mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%” với trường hợp “vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là trẻ em mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên”).

    2.3. Quy định về tội làm nhục người khác là trẻ em (Điều 155 BLHS năm 2021)

    Một là, Điều 140 BLHS năm 2021 đã: (i) Bỏ hình phạt cảnh cáo, tăng mức cao nhất của hình phạt cải tạo không giam giữ từ “một năm” lên thành ” 03 năm“; bổ sung hành vi phạm tội ” hoặc làm nhụcngười lệ thuộc mình nếu không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 185 của Bộ luật này” vào cấu thành tội phạm cơ bản của tội này; (ii) Bổ sung vào khoản 2 Điều này tình tiết tăng nặng định khung ” Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% trở lên”. Quy định này vừa không bỏ lọt tội phạm, vừa nhằm xử lý nghiêm khắc hơn hành vi phạm tội trong các trường hợp nêu trên, phân hóa rõ hơn trách nhiệm hình sự của người phạm tội và tương xứng hơn với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm hại trẻ em.

    Hai là, Điều 140 BLHS năm 2021, tuy bỏ tình tiết tăng nặng định khung ” phạm tội đối với người tàn tật“, nhưng lại bổ sung tình tiết tăng nặng định khung ” phạm tội với người ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ” (điểm a khoản 2). Quy định này vừa nhằm mở rộng đối tượng cần được bảo vệ đặc biệt, vừa nhằm xử lý nghiêm minh người phạm tội trong các trường hợp này và bảo vệ có hiệu quả hơn những người ” yếu thế “, nhất là bảo vệ có hiệu quả hơn sức khỏe của trẻ em.

    Một là, khoản 2 và khoản 3 Điều 142 BLHS năm 2021đã bổ sung 02 tình tiết tăng nặng định khung ” Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây ri loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%” và ” Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên “. Đối với hai tình tiết tăng nặng định khung này đòi hỏi hậu quả bắt buộc là làm cho nạn nhân bị tâm thần hoặc có những biểu hiện hành vi không ổn định, diễn biến tâm lý bất thường với tỷ lệ nhất định từ 31% trở lên và việc xác định tỷ lệ % phải do cơ quan giám định pháp y kết luận. Việc bổ sung 02 tình tiết tăng nặng định khung trong tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, không những nhằm xử lý nghiêm người phạm tội trong các trường hợp này, mà còn góp phần ngăn chặn hành vi xâm hại trẻ em và bảo vệ có hiệu quả hơn người dưới 16 tuổi.

    Hai là, khoản 3 Điều 142 BLHS năm 2021 còn bổ sung tình tiết tăng nặng định khung ” phạm tội đối với người dưới 10 tuổi” vào, với khung hình phạt ” tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình “. Quy định mới này không những phân hóa rõ hơn trách nhiệm hình sự đối với các trường hợp giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác đối với người dưới 10 tuổi (so với các trường hợp giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác đối với người từ đủ 10 tuổi đến dưới 13 tuổi) nhằm xử lý nghiêm người phạm tội trong các trường hợp này mà còn góp phần ngăn chặn hành vi xâm hại trẻ em và bảo vệ có hiệu quả hơn người dưới 10 tuổi.

    Đối với tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi, khoản 2 và khoản 3 Điều 146 BLHS năm 2021 đã cụ thể hóa các tình tiết tăng nặng định khung có tính định tính là ” gây hậu quả nghiêm trọng“, ” gây hậu quả rất nghiêm trọng” và ” gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” tại khoản 2 và khoản 3 Điều 116 BLHS năm 1999, thành các tình tiết tăng nặng định khung có tính định lượng là ” Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tn thương thể từ 31% đến 60%” và ” Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên” và “làm nạn nhân tự sát “. Việc sửa đổi này không những bảo đảm tính thống nhất và tương thích giữa các điều luật trong BLHS, mà còn khắc phục được hạn chế của BLHS năm 1999 trong phân loại hậu quả thành nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng dẫn đến khó hiểu hoặc hiểu không thống nhất, gây ảnh hưởng đến hiệu quả áp dụng các tình tiết này trong thực tiễn.

    Đối với tội làm nhục người khác là trẻ em, khoản 2 Điều 155 BLHS năm 2021 đã bổ sung thêm tình tiết tăng nặng định khung ” sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội “. Công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ thời gian qua đã thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, không ít người đã sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội nói chung và phạm tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của trẻ em nói riêng, xúc phạm nhân phẩm, danh dự của người khác. Với đặc điểm của những phương tiện này khiến các thông tin được phát tán nhanh chóng, trên phạm vi rộng gây tổn hại nhân phẩm, danh dự của nạn nhân là đặc biệt nghiêm trọng. Chính vì vậy, việc BLHS năm 2021 bổ sung tình tiết tăng nặng định khung này không những nhằm xử lý nghiêm người phạm tội mà còn bảo vệ có hiệu quả hơn nhân phẩm, danh dự của con người nói chung và nhân phẩm, danh dự của trẻ em nói riêng./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hành Hung Người Nghi Bắt Cóc Trẻ Em Có Thể Bị Xử Lý Hình Sự
  • Hình Phạt Nào Cho Những Kẻ Phạm Tội Bắt Cóc Trẻ Em?
  • Phải Chăng Quy Định Của Blhs 2021 Về Tội Bắt Cóc Trẻ Em Còn Chưa Đủ Sức Răn Đe?
  • Bộ Luật Hình Sự Giá Bao Nhiêu
  • Tình Tiết “phạm Tội Đối Với Trẻ Em” Trong Pháp Luật Hình Sự Việt Nam
  • Các Tội Xâm Hại Tình Dục Trẻ Em Trong Bộ Luật Hình Sự Năm 2021

    --- Bài mới hơn ---

  • Tư Vấn Luật Hình Sự Về Tội Hiếp Dâm Trẻ Em
  • Nhận Thức Và Áp Dụng Khoản 3 Điều 29 Bộ Luật Hình Sự Năm 2021
  • Cố Ý Gây Thương Tích Khoản 3 Điều 134 Bộ Luật Hình Sự
  • Bộ Luật Hình Sự Khoản 3
  • Phân Biệt Khoản 2 Và Khoản 3 Điều 104 Bộ Luật Hình Sự 1999
  • Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2021 về các tội xâm hại tình dục trẻ em

    Với tinh thần chủ động phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh chống tội xâm hại tình dục trẻ em, trên cơ sở nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự trong các tội xâm hại tình dục trẻ em, các quy định về tội xâm hại tình dục trẻ em trong Bộ luật Hình sự năm 2021 thể hiện rõ nguyên tắc phân hóa trách nhiệm được thực hiện ở một bước cao hơn nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc cá thể hóa hình phạt. Nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự được thể hiện qua việc cụ thể hóa ở mức tối đa các tình tiết định khung của từng tội phạm. Bên cạnh đó, Bộ luật Hình sự năm 2021 đã cụ thể hóa một số khái niệm như: “người đã thành niên” được thay bằng “người đủ 18 tuổi trở lên”; “nhiều người” được thay bằng “từ 02 người trở lên”; “nhiều lần” được thay bằng “từ 02 lần trở lên”; “gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật…” được thay bằng “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật…”. Khái niệm “hiếp dâm trẻ em” được thay bằng “dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ” hoặc “giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi”. Theo đó, khái niệm “cưỡng dâm trẻ em”, “giao cấu với trẻ em”, “dâm ô với trẻ em” cũng được quy định cụ thể để bảo đảm tính thống nhất trong cách hiểu và quá trình áp dụng của các cơ quan có thẩm quyền.

    Các tội xâm hại tình dục trẻ em được quy định tại Chương XIV (Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người) trong Bộ luật Hình sự năm 2021 gồm 5 Điều (Điều 142, 144, 145, 146, 147). So với Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Hình sự năm 2021 tăng thêm một điều (Điều 147) quy định về tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm.

    Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142 Bộ luật Hình sự năm 2021)

    Tội này được quy định tại Điều 112 (tội hiếp dâm trẻ em) Bộ luật Hình sự năm 1999. Tại Bộ luật Hình sự năm 2021, tên của điều luật đã thay cụm từ “trẻ em” thành cụm từ “người dưới 16 tuổi”. Khung hình phạt cao nhất của tội này được giữ nguyên là phạt tù từ 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. Các khoản trong điều luật được rút gọn từ 5 khoản xuống còn 4 khoản, nội dung các khoản của tội này trong Bộ luật Hình sự năm 1999 không quy định chi tiết, cụ thể hóa hành vi phạm tội như nội dung các khoản của tội này trong Bộ luật Hình sự năm 2021. Cụ thể:

    – Khoản 1 Điều 112 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: Người nào hiếp dâm trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm”, nhưng khoản 1 Điều 142 Bộ luật Hình sự năm 2021 quy định cụ thể về các hành vi phạm tội: Người nào thực hiện các hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ; giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi, thì bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm.

    – Khoản 2 Điều 112 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: có tính chất loạn luận; làm nạn nhân có thai; gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%; đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh; tái phạm nguy hiểm, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm. Khoản 2 Điều 142 Bộ luật Hình sự năm 2021 quy định theo hướng cụ thể đối với từng trường hợp phạm tội là: …; gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; quy định thêm trường hợp phạm tội 02 lần trở lên; đối với 02 người trở lên;…, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

    – Khoản 3 Điều 112 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: có tổ chức; nhiều người hiếp một người; phạm tội nhiều lần; đối với nhiều người; gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên; biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội; làm nạn nhân chết hoặc tự sát, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. Khoản 3 Điều 142 Bộ luật Hình sự năm 2021 quy định thêm trường hợp phạm tội đối với người dưới 10 tuổi và đối với trường hợp gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;…, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.

    – Bỏ khoản 4 Điều 112 Bộ luật Hình sự năm 1999, giữ nguyên khoản 5 chuyển sang quy định tại khoản 4 Điều 142 Bộ luật Hình sự năm 2021.

    Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 144 Bộ luật Hình sự năm 2021)

    Tội này được quy định tại Điều 114 Bộ luật Hình sự năm 1999 (tội cưỡng dâm trẻ em), Bộ luật Hình sự năm 2021 thay cụm từ “trẻ em” thành cụm từ “người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Khung hình phạt cao nhất của tội này được giữ nguyên là bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. Các khoản trong điều luật được rút gọn từ 5 khoản xuống còn 4 khoản. Cụ thể:

    – Khoản 1 Điều 114 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: Người nào cưỡng dâm trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm. Khoản 1 Bộ luật Hình sự năm 2021 quy định: Người nào dùng mọi thủ đoạn khiến người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi đang ở trong tình trạng lệ thuộc mình hoặc trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 5 năm đến 10 năm.

    – Khoản 2 Điều 114 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: có tính chất loạn luân; làm nạn nhân có thai; gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%; tái phạm nguy hiểm, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm. Khoản 2 Bộ luật Hình sự năm 2021 quy định theo hướng cụ thể và có tính định lượng như: …; gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; phạm tội 02 lần trở lên; đối với 02 người trở lên;…, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

    – Khoản 3 Điều 114 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: nhiều người cưỡng dâm một người; phạm tội nhiều lần; đối với nhiều người; gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên; biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội; làm nạn nhân chết hoặc tự sát, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân. Khoản 3 Điều 144 Bộ luật Hình sự năm 2021 quy định rút gọn, bỏ điểm b và c, bổ sung thêm nội dung tại điểm d, cụ thể: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: nhiều người cưỡng dâm một người; gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; …, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

    – Khoản 4 Điều 114 Bộ luật Hình sự năm 1999 giữ nguyên và được chuyển sang quy định tại khoản 4 Điều 144 Bộ luật Hình sự năm 2021: Người phạm tội có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

    Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2021)

    Tội này được quy định tại Điều 115 Bộ luật Hình sự năm 1999 (tội giao cấu với trẻ em). Tên của điều luật được sửa đổi, bổ sung và thay thế thành tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi. Nội dung của điều luật được sửa đổi, bổ sung thêm 01 khoản và được quy định theo hướng lượng hóa hành vi phạm tội, có tính chất loại trừ. Khung hình phạt cao nhất của tội này được giữ nguyên là bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm. Cụ thể:

    – Khoản 1 Điều 115 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: Người nào đã thành niên mà giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm. Khoản 1 Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2021 quy định: Người nào từ đủ 18 tuổi trở lên mà giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 142 và Điều 144 Bộ luật Hình sự năm 2021, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

    – Khoản 2 Điều 115 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: phạm tội nhiều lần; đối với nhiều người; có tính chất loạn luân; làm nạn nhân có thai; gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm. Khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2021 quy định theo hướng lượng hóa hành vi phạm tội tại điểm a, b; bổ sung thêm nội dung tại điểm đ và quy định thêm điểm e, cụ thể: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: phạm tội 02 lần trở lên; đối với 02 người trở lên; …; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

    – Khoản 3 Điều 115 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên; biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm. Khoản 3 Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2021 quy định: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

    Khoản 4 Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2021 quy định: Người phạm tội có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Bộ luật Hình sự năm 1999 không có quy định này.

    Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (Điều 146 Bộ luật Hình sự năm 2021)

    Tội này được quy định tại Điều 116 Bộ luật Hình sự năm 1999 (tội dâm ô đối với trẻ em). Tên điều luật thay cụm từ “trẻ em” thành cụm từ “người dưới 16 tuổi). Về nội dung điều này trong Bộ luật Hình sự năm 2021 có sửa đổi nội dung các khoản, bổ sung thêm một số điểm trong một số khoản và quy định theo hướng lượng hóa hành vi phạm tội, quy định rõ mức độ gây tổn hại cho nạn nhân do tác động của hành vi phạm tội gây ra. Khung hình phạt cao nhất của tội này vẫn giữ nguyên là bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm, bổ sung thêm quy định một số trường hợp phạm tội. Cụ thể:

    – Khoản 1 Điều 116 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: Người nào đã thành niên mà có hành vi dâm ô đối với trẻ em, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Khoản 1 Điều 146 Bộ luật Hình sự năm 2021 quy định: Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà có hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

    – Khoản 2 Điều 116 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: phạm tội nhiều lần; đối với nhiều trẻ em; đối với trẻ em mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh; gây hậu quả nghiêm trọng; tái phạm nguy hiểm, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm. Khoản 2 Điều 146 Bộ luật Hình sự năm 2021 quy định: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: phạm tội có tổ chức; phạm tội 02 lần trở lên; đối với 02 người trở lên; đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh; gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;…, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm. Khoản này bỏ trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng được quy định tại khoản 2 Điều 116 Bộ luật Hình sự năm 1999.

    – Khoản 3 Điều 116 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặt biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ bảy năm đến 12 năm. Khoản 3 Điều 146 Bộ luật Hình sự năm 2021 quy định theo hướng cụ thể hơn: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; làm nạn nhân tự sát, thì bị phạt từ từ 07 năm đến 12 năm.

    – Khoản 4 Điều 116 Bộ luật Hình sự năm 1999 được giữ nguyên và quy định tại khoản 4 Điều 146 Bộ luật Hình sự năm 2021: Người phạm tội có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

    Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (Điều 147 Bộ luật Hình sự năm 2021)

    Đây là quy định mới được đưa vào Chương XIV Bộ luật Hình sự năm 2021, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đấu tranh, phòng ngừa tội phạm vì trên thực tế, các hình thức khiêu dâm bùng nổ và gia tăng khắp nơi dưới nhiều hình thức. Trong đó, xuất hiện cả những hiện tượng sử dụng trẻ em, người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm. Hành vi này đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với nạn nhân, gia đình và xã hội. Mặc dù Bộ luật Hình sự năm 1999 đã quy định về tội dâm ô trẻ em song quy định này chưa bao quát hết các hành vi xâm hại tình dục trẻ em đã và đang diễn ra hiện nay. Hiện tượng ép buộc trẻ em phải biểu diễn các hành vi khiêu dâm, đóng phim khiêu dâm, xem những hình ảnh khiêu dâm… đang diễn ra khó kiểm soát. Do vậy, Bộ luật Hình sự năm 2021 bổ sung thêm quy định về tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm nhằm xử lý triệt để mọi hành vi xâm phạm tình dục trẻ em là rất hợp lý, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn đấu tranh, phòng chống tội phạm và hạn chế sự gia tăng của tội phạm này. Cụ thể điều luật quy định, phạm tội trong các trường hợp: phạm tội có tổ chức; phạm tội 02 lần trở lên; đối với 02 người trở lên; đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh; có mục đích thương mại; gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; tái phạm nguy hiểm, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; làm nạn nhân tự sát, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

    Một số giải pháp góp phần tăng cường hiệu quả thực thi Bộ luật Hình sự năm 2021

    Tăng cường việc ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Hình sự về các tội xâm hại tình dục trẻ em

    Để bảo đảm thống nhất cách hiểu và áp dụng đúng quy định về các tội xâm hại tình dục trẻ em trong Bộ luật Hình sự vào công tác xét xử, rất cần được Tòa án nhân dân tối cao sớm ban hành nghị quyết hướng dẫn cụ thể như thế nào là hành vi quan hệ tình dục khác; trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu; gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân; lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu;… Đồng thời, thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn chuyên sâu về kỹ năng xét xử các tội xâm hại tình dục trẻ em cho các tòa án trong phạm vi toàn quốc nhằm trau rồi, nâng cao kiến thức và kỹ năng xét xử đối với các tội xâm hại tình dục trẻ em.

    Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục dưới mọi hình thức (báo hình, báo nói, báo viết, báo điện tử, pano, áp phíc, tờ gấp, tờ rơi, đưa các nội dung tuyên truyền đến các tổ dân phố, thôn, bản, xã, phường…) nhằm nâng cao nhận thức và phát huy trách nhiệm của cộng đồng xã hội, gia đình, nhà trường đối với việc quản lý, giáo dục, chăm sóc và bảo vệ trẻ em.

    Ngành giáo dục cần chủ động sớm đưa các nội dung giáo dục giới tính vào chương trình giáo dục bắt buộc đối với học sinh, sinh viên nhằm nâng cao nhận thức và khả năng tự vệ từ chính phía đối tượng có nguy cơ bị xâm hại.

    Theo lsvn.vn

    [1] Đỗ Văn Thanh – Tạp chí Nghiên cứu lý luận, nghiệp vụ, khoa học của Học viện Cảnh sát nhân dân- tr.32.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hành Vi Bạo Hành Trẻ Em Sẽ Xử Lý Như Thế Nào Theo Quy Định Của Pháp Luật Hình Sự ?
  • Tội Vi Phạm Quy Định Về Sử Dụng Lao Động Trẻ Em Theo Bộ Luật Hình Sự
  • Quy Định Mới Về Tội Giao Cấu Với Trẻ Em Theo Luật Hình Sự ?
  • Tìm Hiểu Quy Định Của Pháp Luật Liên Quan Đến Người Chưa Thành Niên
  • Bộ Luật Hình Sự Về Trẻ Em
  • Quy Định Của Pháp Luật Về Hành Vi Xâm Hại Trẻ Em

    --- Bài mới hơn ---

  • Tội Phạm Xâm Hại Tình Dục Trẻ Em Theo Bộ Luật Hình Sự Mới
  • Tổng Hợp Quy Định Của Pháp Luật Về Xâm Hại Trẻ Em
  • Quy Định Của Pháp Luật Việt Nam Liên Quan Đến Xâm Hại Tình Dục Trẻ Em
  • Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự
  • Tội Cố Ý Gây Thương Tích Hình Phạt Thế Nào ?
  • Hành vi xâm hại trẻ em dù thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào cũng sẽ bị pháp luật trừng trị nghiêm khắc. Trẻ em là đối tượng dễ bị tổn thương, bị bóc lột và cần được chăm sóc trong xã hội, vì vậy có các quy định mang tính răn đe cao hơn để bảo vệ đối tượng khỏi các hành vi làm ảnh hưởng, xâm hại, xâm phạm về thể chất, tình cảm, tâm lý, danh dự, nhân phẩm. Đồng thời, tuyên truyền các quy định này để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của trẻ em. Bài viết sau đây sẽ giúp hiểu rõ hơn thế nào gọi là hành vi xâm hại trẻ em, các quy định xử phạt, quyết định của các cơ quan có thẩm quyền?

    Những năm gần đây, các hành vi xâm hại trẻ em ngày càng diễn ra phổ biến và phức tạp

    Khoản 5 Điều 4 Luật trẻ em 2021 sửa đổi bổ sung năm 2021 quy định:

    Xâm hại trẻ em là hành vi gây tổn hại về:

    Của trẻ em dưới các hình thức:

    • Bạo lực;
    • Bóc lột;
    • Xâm hại tình dục;
    • Mua bán
    • Bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em;
    • Các hình thức gây tổn hại khác (bị cấm theo luật) .

    Hành vi xâm hại trẻ em bị xử lý như thế nào?

    Chế tài xử lý đối với những hành vi xâm hại trẻ em sẽ tùy theo mức độ, tính chất của hành vi và hậu quả mà hành vi đó gây ra, có thể bị :

    • Xử phạt hành chính
    • Hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự (VD: Người phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi và tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể phải chịu mức án cao nhất là chung thân hoặc tử hình theo bộ luật hình sự 2021 sửa đổi bổ sung năm 2021)

    Trẻ em cũng như các cá nhân được bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự trong các tội danh trong chương XIV bộ luật hình sự 2021 sửa đổi bổ sung năm 2021

    Trong đó, các tội phạm thực hiện hành vi xâm hại tình dục trẻ em bị trừng trị trong những điều luật riêng như:

    • Điều 142 – Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi;
    • Điều 144 – Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi;
    • Điều 145 – Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi;
    • Điều 146 – Tội dâm ô với người dưới 16 tuổi;
    • Điều 147 – Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm.

    Các điều luật trên nhằm cụ thể hóa độ tuổi của bị hại, giúp tăng cường sự bảo vệ cho đối tượng là trẻ em trước các hành vi xâm hại tình dục đang là vấn nạn (tệ nạn xã hội) lớn hiện nay.

    • Tham gia tố tụng với tư cách là luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho trẻ em bị xâm hại, thân chủ tại tòa án các cấp;
    • Bảo vệ tối ưu lợi ích, quyền lợi hợp pháp của thân chủ;
    • Bảo mật thông tin tuyệt đối, không tiết lộ cho bên thứ 3 nếu không được sự đồng ý của thân chủ;
    • Hướng dẫn và tư vấn trình tự thủ tục khởi kiện, thời hiệu khởi kiện, điều kiện khởi kiện, tư cách chủ thể và soạn đơn khởi kiện gửi đến Tòa án có thẩm quyền;
    • Hỗi trợ thu thập chứng cứ, tài liệu chứng minh hành vi vi phạm;

    Xin cảm ơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Điểm Mới Của Bộ Luật Hình Sự Năm 2021 Về Tội Phạm Xâm Hại Trẻ Em
  • Hành Hung Người Nghi Bắt Cóc Trẻ Em Có Thể Bị Xử Lý Hình Sự
  • Hình Phạt Nào Cho Những Kẻ Phạm Tội Bắt Cóc Trẻ Em?
  • Phải Chăng Quy Định Của Blhs 2021 Về Tội Bắt Cóc Trẻ Em Còn Chưa Đủ Sức Răn Đe?
  • Bộ Luật Hình Sự Giá Bao Nhiêu
  • Quy Định Xử Lý Hình Sự Đối Với Các Tội Xâm Hại Tình Dục Trẻ Em

    --- Bài mới hơn ---

  • Tội Giao Cấu Với Trẻ Em Và Tội Cưỡng Dâm Trẻ Em
  • Các Quy Định Pháp Luật Liên Quan Đến Xử Lý Hành Vi Bạo Lực Trẻ Em
  • Trách Nhiệm Hình Sự Của Người Phạm Tội Bắt Cóc, Chiếm Đoạt Trẻ Em
  • Mọi Hành Vi Xâm Hại Tình Dục Trẻ Em Đều Bị Cấm Và Lên Án
  • Giáo Trình Luật Hình Sự Việt Nam: Phần Chung/ Ts. Trần Thị Quang Vinh Chủ Biên.
  • Các tội xâm hại tình dục trẻ em được quy định tại Chương XIV (Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người) trong Bộ luật Hình sự năm 2021 sửa đổi, bổ sung gồm 5 Điều (Điều 142, 144, 145, 146, 147).

    Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

    Hành vi phạm tội được quy định chi tiết và cụ thể hoá tại Khoản 1 Điều 142 Bộ luật Hình sự năm 2021, sửa đổi, bổ sung năm 2021: Người nào thực hiện các hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ; giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi, thì bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm.

    Điều 142 Bộ luật Hình sự năm 2021, sửa đổi, bổ sung năm 2021 quy định, tùy từng hành vi phạm tội, khung hình phạt cao nhất của tội này là phạt tù từ 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình; Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

    Cụ thể:

    – Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

    a) Có tính chất loạn luân;

    b) Làm nạn nhân có thai;

    c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

    d) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

    đ) Phạm tội 02 lần trở lên;

    e) Đối với 02 người trở lên;

    g) Tái phạm nguy hiểm.

    – Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

    a) Có tổ chức;

    b) Nhiều người hiếp một người;

    c) Đối với người dưới 10 tuổi;

    d) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

    đ) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

    e) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

    Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

    Hành vi phạm tội được quy định chi tiết và cụ thể hoá tại Khoản 1 Điều 144 Bộ luật Hình sự năm 2021, sửa đổi, bổ sung năm 2021  “Người nào dùng mọi thủ đoạn khiến người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi đang ở trong tình trạng lệ thuộc mình hoặc trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 5 năm đến 10 năm”. 

    Điều 144 Bộ luật Hình sự năm 2021, sửa đổi, bổ sung năm 2021 quy định, tuy từng hành vi phạm tội, khung hình phạt cao nhất của tội này là bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân; Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

    Cụ thể:

    – Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

    a) Có tính chất loạn luân;

    b) Làm nạn nhân có thai;

    c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 3 1% đến 60%;

    d) Phạm tội 02 lần trở lên;

    đ) Đối với 02 người trở lên;

    e) Tái phạm nguy hiểm.

    – Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

    a) Nhiều người cưỡng dâm một người;

    b) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

    c) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

    d) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

    Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

    Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2021, sửa đổi bổ sung năm 2021 quy định: “Người nào từ đủ 18 tuổi trở lên mà giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 142 và Điều 144 Bộ luật Hình sự năm 2021, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.

    Tùy từng hành vi phạm tôi, khung hình phạt cao nhất của tội này là bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm; Người phạm tội có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

    Cụ thể:

    – Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

    a) Phạm tội 02 lần trở lên;

    b) Đối với 02 người trở lên;

    c) Có tính chất loạn luân;

    d) Làm nạn nhân có thai;

    đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

    e) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh.

    – Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

    a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

    b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội.

    Tội dâm ô đối với người dưới 16

    Hành vi phạm tội được quy định theo hướng lượng hóa hành vi phạm tội, quy định rõ mức độ gây tổn hại cho nạn nhân do tác động của hành vi phạm tội gây ra. Khoản 1 Điều 146 Bộ luật Hình sự năm 2021 quy định: Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà có hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

    Ngoài ra, khoản 2 Điều 146 Bộ luật Hình sự năm 2021 cũng quy định quy định: “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: phạm tội có tổ chức; phạm tội 02 lần trở lên; đối với 02 người trở lên; đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh; gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;…, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm”.

    Khung hình phạt cao nhất của tội này là bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm, đối với các trường hợp: a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên60; b) Làm nạn nhân tự sát.

    Tùy từng hành vi phạm tội, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

    Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm

    Đây là quy định mới được đưa vào Chương XIV Bộ luật Hình sự năm 2021, sửa đổi, bổ sung năm 2021, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đấu tranh, phòng ngừa tội phạm vì trên thực tế, các hình thức khiêu dâm bùng nổ và gia tăng khắp nơi dưới nhiều hình thức. Trong đó, xuất hiện cả những hiện tượng sử dụng trẻ em, người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm.

    Cụ thể, Khoản 1 Điều 147 Bộ Luật Hình sự 2021 quy định “Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm dưới mọi hình thức, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

    Phạm tội trong các trường hợp: phạm tội có tổ chức; phạm tội 02 lần trở lên; đối với 02 người trở lên; đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh; có mục đích thương mại; gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; tái phạm nguy hiểm, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

    Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; làm nạn nhân tự sát, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm.

    Tùy từng hành vi phạm tội, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trừng Phạt Khắc Nghiệt Đối Với Trẻ Em Vi Phạm Pháp Luật Không Ngăn Chặn Được Tình Hình Tội Phạm
  • Về Khái Niệm Hình Sự Hóa Các Giao Dịch Dân Sự, Kinh Tế
  • Giải Đáp Vướng Mắc Về Hình Sự, Dân Sự Và Tố Tụng Hành Chính
  • Bộ Luật Hình Sự 2021, Sửa Đổi Bổ Sung Năm 2021 Số 100/2015/qh13 – Tải Blhs File Word/pdf
  • Hình Phạt Nào Cho Tội Phạm Tín Dụng Đen ?
  • Tổng Hợp Quy Định Của Pháp Luật Về Xâm Hại Trẻ Em

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Định Của Pháp Luật Việt Nam Liên Quan Đến Xâm Hại Tình Dục Trẻ Em
  • Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự
  • Tội Cố Ý Gây Thương Tích Hình Phạt Thế Nào ?
  • Tội Cố Ý Gây Thương Tích Điều 134 Bộ Luật Hình Sự 2021
  • Điều 104 Bộ Luật Hình Sự Tội Cố Ý Gây Thương Tích
  • Trẻ em có những quyền gì?

    Xâm hại trẻ em là gì?

    Xâm hại trẻ em là hành vi gây tổn hại về thể chất, tình cảm, tâm lý, danh dự, nhân phẩm của trẻ em dưới các hình thức bạo lực, bóc lột, xâm hại tình dục, mua bán, bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em và các hình thức gây tổn hại khác.

    Trẻ em có bao nhiêu quyền?

    Luật trẻ em có hiệu lực, đảm bảo tốt hơn cho các em, theo như Luật quy định thì trẻ em có 25 quyền gắn với các điều Luật tương ứng sau:

    1. Điều 12. Quyền sống

    2. Điều 13. Quyền được khai sinh và có quốc tịch

    3. Điều 14. Quyền được chăm sóc sức khỏe

    4. Điều 15. Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng

    5. Điều 16. Quyền được giáo dục, học tập và phát triển năng khiếu

    6. Điều 17. Quyền vui chơi, giải trí

    7. Điều 18. Quyền giữ gìn, phát huy bản sắc

    8. Điều 19. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

    9. Điều 20. Quyền về tài sản

    10. Điều 21. Quyền bí mật đời sống riêng tư

    11. Điều 22. Quyền được sống chung với cha, mẹ

    12. Điều 23. Quyền được đoàn tụ, liên hệ và tiếp xúc với cha, mẹ

    13. Điều 24. Quyền được chăm sóc thay thế và nhận làm con nuôi

    14. Điều 25. Quyền được bảo vệ để không bị xâm hại tình dục

    15. Điều 26. Quyền được bảo vệ để không bị bóc lột sức lao động

    16. Điều 27. Quyền được bảo vệ để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc

    17. Điều 28. Quyền được bảo vệ để không bị mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt

    18. Điều 29. Quyền được bảo vệ khỏi chất ma túy

    19. Điều 30. Quyền được bảo vệ trong tố tụng và xử lý vi phạm hành chính

    20. Điều 31. Quyền được bảo vệ khi gặp thiên tai, thảm họa, ô nhiễm môi trường, xung đột vũ trang

    21. Điều 32. Quyền được bảo đảm an sinh xã hội

    22. Điều 33. Quyền được tiếp cận thông tin và tham gia hoạt động xã hội

    23. Điều 34. Quyền được bày tỏ ý kiến và hội họp

    24. Điều 35. Quyền của trẻ em khuyết tật

    25. Điều 36. Quyền của trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn

    Xâm hại tình dục trẻ em là một trong các hành vi bị nghiêm cấm quy định tại mục 3 Điều 6. Các hành vi bị nghiêm cấm:

    “3. Xâm hại tình dục, bạo lực, lạm dụng, bóc lột trẻ em”.

    Điều 25. Quyền được bảo vệ để không bị xâm hại tình dục quy định rõ:

    “Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị xâm hại tình dục”.

    Nghị định số 56/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật trẻ em, trong đó nêu rõ tại:

    “Điều 13. Trẻ em bị xâm hại tình dục

    1. Trẻ em bị hiếp dâm.

    2. Trẻ em bị cưỡng dâm.

    3. Trẻ em bị giao cấu.

    4. Trẻ em bị dâm ô.

    5. Trẻ em bị sử dụng vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức”.

    Các trường hợp trẻ em nêu trên “được tham gia vào các vấn đề về trẻ em và được bảo vệ”.

    Chỉ thị số 18/CT-TTg, ngày 16/5/2017, của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường giải pháp phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em đã chỉ đạo tại điểm 8:

    “8. Đề nghị Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao

    a) Chỉ đạo Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp tiếp nhận, giải quyết kịp thời, xử lý nghiêm các vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em; rà soát hồ sơ, vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em để xử lý dứt điểm, không để tồn đọng, kéo dài;

    Ngày 21/92018 Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên tịch số 02 quy định chi tiết việc xét xử vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi thuộc thẩm quyền của Tòa gia đình và người chưa thành niên, tại khoản 2 Điều 4 quy định “Vụ án hình sự có bị cáo từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi phạm một trong các tội đặc biệt nghiêm trong quy định tại các điều … 142, 144…BLHS. Các vụ án này được thực hiện theo thủ tục xử kín, thân thiện với trẻ em.

    Các quy định trên thể hiện sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của các cấp lãnh đạo, yêu cầu xử lý nghiêm minh đối với các hành vi xâm hại tình dục trẻ em.

    2. Bộ luật hình sự 2021 quy định về tội phạm xâm hại tình dục trẻ em

    Các tội phạm xâm phạm tình dục trẻ em được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2021 tại Chương XIV: Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người) gồm 5 điều luật cụ thể sau:

    – Điều 142 – Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi;

    – Điều 144 – Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi;

    – Điều 145 – Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi;

    – Điều 146 – Tội dâm ô với người dưới 16 tuổi;

    – Điều 147 – Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm.

    Trong đó, người phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi và tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể phải chịu mức án cao nhất là chung thân hoặc tử hình.

    BLHS năm 2021 so với BLHS năm 2003 đã cụ thể hoá một số khái niệm: “Người đã thành niên” được thay bằng “người đủ 18 tuổi trở lên”; “nhiều người” được thay bằng “từ 02 người trở lên”; “nhiều lần” được thay bằng “từ 02 lần trở lên”; “gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật..” được thay bằng “gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật…”.

    Trong BLHS năm 2021, khái niệm “hiếp dâm trẻ em” được thay bằng “dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ” hoặc “giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi”. Theo đó, khái niệm “cưỡng dâm trẻ em”, “giao cấu với trẻ em”, “dâm ô với trẻ em” cũng được đưa ra khái niệm cụ thể để đảm bảo tính thống nhất trong cách hiểu và quá trình áp dụng của các cơ quan có thẩm quyền.

    – Nguyên tắc phân hoá trách nhiệm hình sự được thể hiện qua việc cụ thể hoá ở mức tối đa các tình tiết định khung của từng tội phạm trong nhóm tội. Cụ thể:

    + Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45% (Điều 142, 144,145,146);

    + Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 46% trở lên (Điều 142, 144,145,146);

    + Phạm tội đối với người dưới 10 tuổi (Điều 142);

    + Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh (Điều 145);

    + Làm nạn nhân tự sát (Điều 146).

    – Về khung hình phạt và hình phạt bổ sung. Cụ thể như sau:

    + Khoản 3, Điều 143, BLHS 2021 tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi quy định mức hình phạt tù là 10 năm đến 18 năm thay cho mức phạt từ 7 năm đến 18 năm tại khoản 3, Điều 113, BLHS 1999.

    + So với Điều 155, BLHS 1999, Điều 145, BLHS 2021 bổ sung thêm khoản 4 quy định về hình phạt bổ sung là người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm. Sự thay đổi này thể hiện mức độ nguy hiểm của hành vi đã tăng lên dẫn đến quy định mức răn đe đối với hành vi phạm tội cũng phải có sự tăng tiến tương xứng.

    – Điều 147 (BLHS 2003 không quy định): Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm: “Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm dưới mọi hình thức, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm…”).

    Những hành vi xâm hại tình dục trẻ em:

    Các hành vi sau đây bị coi là hành vi xâm hại tình dục trẻ em:

    1. Hành vi hiếp dâm trẻ em: hành vi hiếp dâm là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ. Đối với nạn nhân là trẻ em chưa đủ 13 tuổi thì mọi trường hợp giao cấu với những trẻ em này (dù nạn nhân có đồng ý hay không đồng ý) đều bị coi là hành vi hiếp dâm trẻ em. Mọi hành vi hiếp dâm trẻ em đều bị pháp luật hình sự xử lý nghiêm khắc, người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ Luật hình sự 1999 15/1999/QH10. Người phạm tội có thể bị phạt tù có thời hạn từ 7 năm đến 10 năm, tù chung thân hoặc tử hình;

    2. Hành vi cưỡng dâm trẻ em: hành vi cưỡng dâm là hành vi dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu. Hành vi cưỡng dâm trẻ em cũng bị pháp luật hình sự xử lý nghiêm khắc. Điều 114 Bộ Luật hình sự năm 1999 quy định người nào cưỡng dâm trẻ em có thể bị phạt tù có thời hạn từ 5 đến 20 năm hoặc tù chung thân;

    3. Hành vi giao cấu với người chưa thành niên từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi:

    Điều 115 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định, người nào đã thành niên mà giao cấu với trẻ em từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi ( khác với trường hợp hiếp dâm hoặc cưỡng dâm, trong trường hợp này nạn nhân không bị ép buộc, cưỡng ép), thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm, trong trường hợp nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì có thể bị phạt tù từ 3 đến 10 năm hoặc từ 7 đến 15 năm.

    4. Hành vi dâm ô với trẻ em: được hiểu là hành vi sinh hoạt tình dục dưới dưới các dạng khác nhau nhưng không phải ở dạng hành vi giao cấu (như hành vi kích thích, khêu gợi nhu cầu tình dục….). Hành vi dâm ô với trẻ em cũng bị xử lý hình sự, Điều 116 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định người nào đã thành niên mà có hành vi dâm ô đối với trẻ em thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm, trong trường hợp nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì có thể bị phạt tù từ 3 đến 7 năm hoặc từ 7 đến 20 năm.

    5. Ngoài ra, các hành vi sau cũng đều bị coi là hành vi xâm hại tình dục trẻ em như: dùng tiền, vật chất, uy tín hoặc lợi ích khác để dụ dỗ, lôi kéo trẻ em hoạt động mại dâm; dùng thủ đoạn nói dối, gian lận để trẻ em hoạt động mại dâm; dẫn, chỉ dẫn, môi giới, tổ chức xúi giục trẻ em hoạt động mại dâm; che giấu, cho thuê, mượn hoặc bố trí nơi để trẻ em hoạt động mại dâm; dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng uy quyền để ép buộc trẻ em hoạt động mại dâm; cho trẻ em tiếp xúc với văn hóa phẩm, sản phẩm có nội dung khiêu dâm hoặc tác động vào cơ thể trẻ em nhằm kích động tình dục trẻ em…

    Trách nhiệm tố giác hành vi xâm hại trẻ em:

    Trách nhiệm tố giác hành vi xâm hại trẻ em được quy định tại Điều 51 Luật trẻ em 2021, theo đó:

    1. Cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân có trách nhiệm thông tin, thông báo, tố giác hành vi xâm hại trẻ em, trường hợp trẻ em bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi đến cơ quan có thẩm quyền.

    2. Cơ quan lao động – thương binh và xã hội, cơ quan công an các cấp và Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tiếp nhận, xử lý thông tin, thông báo, tố giác; phối hợp xác minh, đánh giá, Điều tra về hành vi xâm hại, tình trạng mất an toàn hoặc gây tổn hại, mức độ nguy cơ gây tổn hại đối với trẻ em.

    3. Chính phủ thiết lập tổng đài điện thoại quốc gia thường trực để tiếp nhận, xử lý thông tin, thông báo, tố giác nguy cơ, hành vi xâm hại trẻ em; quy định quy trình tiếp nhận và xử lý thông tin, thông báo, tố giác hành vi xâm hại trẻ em.

    Các biện pháp hỗ trợ, can thiệp trẻ em bị xâm hại trên môi trường mạng được quy định như thế nào?

    Các biện pháp hỗ trợ, can thiệp trẻ em bị xâm hại trên môi trường mạng được quy định tại Điều 37 Nghị định 56/2017/NĐ-CP hướng dẫn Luật trẻ em như sau:

    1. Cơ quan quản lý nhà nước về thông tin, truyền thông và quản lý nhà nước về trẻ em; tổ chức, doanh nghiệp hoạt động, cung cấp dịch vụ trên môi trường mạng có trách nhiệm tổ chức tiếp nhận thông tin, đánh giá, phân loại mức độ an toàn cho trẻ em được các cơ quan, tổ chức, cá nhân và trẻ em gửi tới; công bố danh sách các mạng thông tin, dịch vụ, sản phẩm trực tuyến theo mức độ an toàn đối với trẻ em; bảo đảm việc phát hiện, loại bỏ các hình ảnh, tài liệu, thông tin không phù hợp với trẻ em.

    2. Cơ quan công an có trách nhiệm tổ chức thực hiện các biện pháp hỗ trợ, can thiệp bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng.

    Thực hiện kế hoạch hỗ trợ, can thiệp đối với trẻ em bị xâm hại như thế nào?

    Thực hiện kế hoạch hỗ trợ, can thiệp đối với trẻ em bị xâm hại được quy định tại Điều 29 Nghị định 56/2017/NĐ-CP hướng dẫn Luật trẻ em như sau:

    1. Người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã trực tiếp thực hiện một số hoạt động hỗ trợ, can thiệp và chủ trì, phối hợp triển khai thực hiện kế hoạch hỗ trợ, can thiệp cụ thể như sau:

    a) Theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các dịch vụ, hoạt động hỗ trợ, can thiệp; kiến nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã kịp thời điều chỉnh kế hoạch phù hợp với thay đổi của cá nhân trẻ em và mức độ an toàn của môi trường trẻ em đang sinh sống;

    b) Kết nối dịch vụ, hoạt động trên địa bàn xã hoặc yêu cầu sự hỗ trợ của cơ quan có trách nhiệm bảo vệ trẻ em các cấp, cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em ngoài địa bàn;

    c) Vận động cơ quan, tổ chức, cá nhân, cộng đồng tham gia hỗ trợ.

    2. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cơ sở giáo dục, cơ sở cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý, cơ quan công an, cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em các cấp và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ trẻ em tham gia thực hiện, hỗ trợ việc thực hiện kế hoạch.

    3. Cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em có trách nhiệm thực hiện kế hoạch hỗ trợ, can thiệp theo quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.

    4. Tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em có trách nhiệm giới thiệu, kết nối các dịch vụ hỗ trợ, can thiệp cần thiết trong trường hợp cấp tỉnh không có dịch vụ hoặc theo đề nghị của người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã.

    Xâm hại trẻ em sẽ bị xử lý như thế nào?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tội Phạm Xâm Hại Tình Dục Trẻ Em Theo Bộ Luật Hình Sự Mới
  • Quy Định Của Pháp Luật Về Hành Vi Xâm Hại Trẻ Em
  • Những Điểm Mới Của Bộ Luật Hình Sự Năm 2021 Về Tội Phạm Xâm Hại Trẻ Em
  • Hành Hung Người Nghi Bắt Cóc Trẻ Em Có Thể Bị Xử Lý Hình Sự
  • Hình Phạt Nào Cho Những Kẻ Phạm Tội Bắt Cóc Trẻ Em?
  • Đáp Án Tìm Hiểu Pháp Luật Trẻ Em Và Kỹ Năng Phòng Tránh Xâm Hại Trẻ Em An Giang

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Định Về Trách Nhiệm Bảo Đảm Quyền Được Học Tập Cho Trẻ Em
  • Vai Trò Thực Hiện Pháp Luật Về Bảo Vệ Trẻ Em
  • Phát Động Cuộc Thi Trực Tuyến Toàn Quốc “pháp Luật Học Đường”
  • Cuộc Thi Trực Tuyến Toàn Quốc “pháp Luật Học Đường” Hành Trình 01 Năm Đồng Hành Với Nhiều Sự Nỗ Lực Và Bứt Phá
  • Tại Việt Nam, Đầu Tư Ngoại Hối Forex Có Hợp Pháp Không?
  • Cuộc thi tìm hiểu pháp luật trẻ em và kỹ năng phòng tránh xâm hại trẻ em An Giang

    Cuộc thi “Tìm hiểu pháp luật trẻ em và kỹ năng phòng tránh xâm hại trẻ em” trên địa bàn tỉnh An Giang phát động ngày 15-6-2020 và tiếp nhận bài dự thi đến 17 giờ, ngày 30-10-2020. Mời các bạn tham khảo đáp án sau đây.

    Câu hỏi Tìm hiểu pháp luật trẻ em và kỹ năng phòng tránh xâm hại trẻ em An Giang

    1. Đáp án Tìm hiểu pháp luật trẻ em và kỹ năng phòng tránh xâm hại trẻ em An Giang trắc nghiệm

    Thoa (14 tuổi) muốn xin làm ở 01 công ty đánh bóng gỗ để kiếm thêm thu nhập cho gia đình. Lương khởi điểm cũng rất cao, đến 4 triệu đồng/tháng. Thoa đã nói với mẹ ý định của mình. Mẹ Thoa đồng ý nhưng bà lại băn khoăn và sợ việc Thoa bị chủ bắt làm quá sức, làm quá giờ. Do đó, mẹ Thoa muốn biết quyền được bảo vệ của trẻ em để không bị bóc lột sức lao động được quy định như thế nào? Và việc mẹ Thoa đồng ý cho con mình xin làm ở công ty đánh bóng gỗ để kiếm thêm thu nhập cho gia đình là có vi phạm pháp luật hay không?

    – Tại Điều 26 Luật Trẻ em 2021 quy định, trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị bóc lột sức lao động; không phải lao động trước tuổi, quá thời gian hoặc làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo quy định của pháp luật; không bị bố trí công việc hoặc nơi làm việc có ảnh hưởng xấu đến nhân cách và sự phát triển toàn diện của trẻ em.

    – Vì vậy việc mẹ Thoa đã đồng ý cho con xin làm ở công ty đánh bóng gỗ để kiếm thêm thu nhập cho gia đình là vi phạm pháp luật. Vì mẹ Thoa đã đồng ý cho con làm viẹc trước tuổi lao động

    3. Đáp án Tìm hiểu pháp luật trẻ em và kỹ năng phòng tránh xâm hại trẻ em An Giang tự luận

    Theo bạn hiện tại các chính sách của Nhà nước đối với trẻ em như vậy có đầy đủ chưa và nêu ra đề xuất thực hiện trong thời gian tới? (Viết không quá 02 trang giấy A4).

    Có thể nhận thấy được rằng việc chúng ta bảo vệ, chăm sóc trẻ em là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của mỗi quốc gia, dân tộc, bởi “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” (UNESCO). Hay như chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng nói “Trẻ em như búp trên cành” cho nên việc chúng ta yêu thương các em trẻ em là trách nhiệm của toàn xã hội chứ không phải của riêng ai.

    Nhận thấy được rằng chính tương lai của mỗi dân tộc và của toàn nhân loại phụ thuộc vào sự chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ. Đồng thời nó cũng lại thật phụ thuộc vào sức khoẻ, trí tuệ, năng lực… của thế hệ trẻ. Chúng ta như không thể nào có thể quên được ngay trong “Thư gửi học sinh nhân ngày khai trường”, Bác Hồ viết: “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”. Thông qua lời căn dặn này ta đồng thời cũng có thể nhận thấy được trẻ em là người sẽ quyết định tương lai, vị thế của mỗi dân tộc trên trường quốc tế.

    Quả không sai khi người ta nói chỉ cần xem công tác kiểm tra các vấn đề bảo vệ, chăm sóc trẻ em của một đất nước thôi thì có thể đánh giá được trình độ văn minh và phần nào bản chất của một xã hội. Nước Nhật là một quốc gia không có nhiều tài nguyên thiên nhiên trong khi đó lại phải đối mặt với rất nhiều thiên tai như động đất và núi lửa nhưng đất nước vẫn vươn lên trở thành một trong những siêu cường lớn nhất hiện nay. Đó chính là việc nước Nhật luôn luôn coi trọng và phát triển con người. Người Nhật luôn dạy con cái – những thế hệ mầm non tương lai của đất nước họ rất nhiều bài học. Họ thực sự quan tâm đến thế hệ con trẻ và luôn chăm lo đến đời sống của các em. Có như vậy thì đất nước họ mới có thể có được vị thế vững chắc như ngày hôm nay.

    Ta nhận thấy được chính nhờ sự quan tâm của cộng đồng quốc tế, chính phủ Việt Nam, hay đó cũng còn là chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội đối với trẻ em hiện nay được quan tâm trên nhiều khía cạnh. Trong những năm 1989, Công ước Liên hợp quốc về Quyền trẻ em dường như cũng lại ra đời đã ghi nhận các quyền cơ bản của trẻ em như các nhóm quyền sống còn, và có cả các nhóm quyền bảo vệ, nhóm quyền phát triển và nhóm quyền tham gia. Có thể khẳng định được rằng cũng chính công ước này thể hiện sự tôn trọng và quan tâm của cộng đồng quốc tế đối với trẻ em. Đồng thời nó cũng chính là những điều kiện cần thiết để trẻ em được phát triển đầy đủ trong bầu không khí hạnh phúc, yêu thương và thông cảm. Sự kiện tiếp theo có thể nhận thấy được vào năm 1990, Tuyên bố thế giới… đã đề ra những nhiệm vụ cụ thể và toàn diện nhằm bảo vệ và chăm sóc trẻ em cùng với một bản kế hoạch hành động khá chi tiết trên từng mặt cơ bản. Dễ dàng nhận thấy được cũng chính tuyên bố này một lần nữa thể hiện sự quan tâm thích đáng của cộng đồng quốc tế đối với các quyền lợi và tương lai của trẻ em.

    Hiện nay ta như nhận thấy được cũng chính vấn đề bảo vệ, chăm sóc trẻ em được Chính phủ Việt Nam đặc biệt quan tâm. Việt Nam vinh dự và cũng thật tự hào là nước thứ hai trên thế giới kí và phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Quyền Trẻ em. Và ta như thấy được cũng chỉ sau Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em năm 1990, lúc này đây thì Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quyết định Chương trình hành động vì sự sống còn. Đồng thời như cũng thấy được cũng chính quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em Việt Nam từ năm 1991 đến 2000, đặt thành một bộ phận của chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Trên cơ sở những luật pháp như được ban bố kia thì các ngành, các cấp phải có những hoạt động thật cụ thể để nhằm đảm bảo các quyền lợi của trẻ em như các chính sách hỗ trợ kinh tế đối với trẻ em nghèo để các em có thể đến trường, quan tâm xây dựng cơ sở vật chất, trường học, thiết bị dạy học… để nâng cao chất lượng giáo dục, kêu gọi các tổ chức xã hội và nhân dân đóng góp xây đựng trường lớp, giúp đỡ trẻ em khuyết tật, đóng góp quỹ vì người nghèo, vì trẻ em bị nhiễm chất độc màu da cam, khuyến khích mở các lớp học tình thương, các trung tâm bảo trợ trẻ em mồ côi, tàn tật, lang thang không nơi nương tựa…

    Trẻ em cũng cần được yêu thương và chăm sóc cho nên những hành động có hại hay mang đến những tổn thương cho các em cần được lên án và tẩy chay.

    Hiện nay thì các tình trạng bạo hành trẻ em của nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới cũng đang có xu thế gia tăng và theo nhiều cấp độ và hình thức khác nhau. Bên cạnh những việc làm có ý nghĩa như hiện tượng cá nhân tổ chức thu nhận trẻ em cơ nhỡ, lang thang thì vẫn còn không ít những quyền của trẻ em hiện nay đang bị xâm hại và không được coi trọng. Tất cả những vấn nạn gây ra nhiều tổn thương về tinh thần cũng như thể xác của các em cũng cần được đưa ra để có những biện pháp xử lý cụ thể nhất, nhằm có thể răn đe cho người sau. Trẻ em cũng nên được giáo dục hiểu biết về luật pháp cũng như những quyền của chính mình. Các em luôn xứng đáng với sự quan tâm, chăm sóc của người thân và toàn xã hội.

    Trẻ em chính là chủ nhân tương lai của đất nước, nên hãy biết yêu quý và bảo vệ các em để tránh những điều không tốt làm tổn hại đến nhân phẩm cũng như thể xác.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Quy Định, Chính Sách Pháp Luật Bảo Vệ Trẻ Em Bị Bỏ Rơi
  • Quyền Trẻ Em Trong Pháp Luật Việt Nam Hiện Nay
  • Một Số Tình Huống Tuyên Truyền Pháp Luật Cho Trẻ Em
  • Dịch Vụ Gửi Hàng Chuyển Hàng Ship Hàng Đi Pháp
  • Đề Tài: Hoàn Thiện Pháp Luật Trong Lĩnh Vực Du Lịch Việt Nam, Hot
  • Những Hạn Chế Trong Chính Sách, Pháp Luật Về Phòng, Chống Xâm Hại Trẻ Em

    --- Bài mới hơn ---

  • Tỉnh Chưa Ra Văn Bản Điều Chỉnh, Huyện Yên Phong Vẫn “đè” Người Dân Ra Cưỡng Chế?
  • Cách Xoay File Pdf Để Đọc Tài Liệu Dễ Dàng Hơn
  • Cách Cắt File Pdf Nhanh Chóng
  • Cách Soạn Văn Bản Bằng Giọng Nói Trên Dictation.io
  • Pdf To Text: Chuyển Đổi Pdf Sang Text Nhanh Và Miễn Phí
  • Decuongtuyentruyen.com giới thiệu tới bạn độc những hạn chế, bất cập và nguyên nhân trong việc việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em thời gian qua.

    2. Nội dung, hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật chậm đổi mới, chưa phù hợp với một số nhóm đối tượng, đặc điểm địa bàn dân cư, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.Công tác xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh nhằm phòng, chống xâm hại trẻ em ở nhiều địa phương chưa được quan tâm đúng mức. Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý các hành vi xâm hại trẻ em ở một số địa phương chưa được tiến hành thường xuyên, kịp thời, hiệu quả chưa cao.

    3. Tình trạng xâm hại trẻ em diễn biến phức tạp, nhiều vụ việc xâm hại trẻ em ở mức nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng vẫn diễn ra và có xu hướng gia tăng; kết quả giảm thiểu tình trạng xâm hại trẻ em trong các năm đầu của Chương trình không được giữ vững; bạo lực đối với trẻ em trong môi trường gia đình, trường học chưa được phát hiện, xử lý kịp thời.

    + Từ 1/2011- 12/2019 có 16.637 trẻ em bị xâm hại được phát hiện đến mức người có hành vi vi phạm phải xử lý hình sự, hành chính (trung bình một ngày có 05 em bị xâm hại), trong đó bị xâm hại tình dục là 12.782 em chiếm tỷ lệ 76,82%, trẻ em bị bao lực là 3.855 em chiếm tỷ lệ 23,17%. Trong số trẻ em bị xâm hại tình dục có 319 vụ đối tượng sử dụng mạng xã hội để dụ dỗ, hãm hại các em.

    Mặc dù vậy, số lượng các vụ xâm hại được phát hiện chưa phản ánh đúng tình hình xâm hại trẻ em trên thực tế (mảng nổi của tảng băng chìm). Nhiều vụ việc xảy ra trong thời gian dài, hành vi xâm hại được tái diễn nhiều lần, với nhiều nạn nhân, nhưng phải rất lâu sau đó mới bị phát hiện… Ngoài ra, còn rất nhiều hành vi xâm hại trẻ em nhưng chưa bị phát hiện, xử lý.

    + Kết quả phân tích MICS5 (2014) tiếp tục khẳng định sự phổ biến của hiện tượng xử phạt trẻ em hiện nay trong môi trường gia đình. Tính trung bình, cứ 3 trẻ em trong độ tuổi từ 1-14 tuổi sẽ có 2 trẻ em (tương ứng 66,6%) từng chịu một trong các hình thức trừng phạt bằng bạo lực hoặc tinh thần trong gia đình trong vòng 12 tháng trước khi điều tra. Đáng lưu ý là tỷ lệ trẻ từng bị trừng phạt thể chất còn chiếm tỷ lệ khá cao: 42,7% trẻ từng bị xử phạt bằng bất kỳ hình thức bạo lực thân thể.

    + Bạo lực/bắt nạt, xâm hại tình dục học sinh, trẻ em trong môi trường giáo dục vẫn xảy ra, các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng từ 19% – 21% học sinh từng bị bạo lực, bắt nạt trong vòng 12 tháng trước khi điều tra; trẻ em lứa tuổi mầm non, mẫu giáo cũng bị các bảo mẫu bạo lực, thầy giáo xâm hại tình dục học sinh.

    + Điều tra quốc gia về phòng, chống bạo lực phụ nữ năm 2021 cho biết khoảng 4,4% phụ nữ từng bị xâm hại tình dục trước khi 15 tuổi, cao hơn mức 2,8% điều tra năm 2010. Con số này cao hơn rất nhiều số liệu từ các báo cáo chính thức về xâm hại tình dục trẻ em được điều tra, xử lý.. Tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống vẫn diễn ra ở trẻ em dân tộc thiểu số ít người; 9.111 trẻ em chưa hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở nhưng đã bỏ học đi kiếm sống. Số lượng trẻ em có cha mẹ ly hôn là rất lớn và đều đang có chiều hướng gia tăng, trung bình mỗi năm có khoảng 70.000 trẻ em có cha mẹ ly hôn[4]. Bên cạnh đó sức ép về học hành, thi cử, nghiện mạng, nghiện game và điện thoại thông minh khiến trẻ em rơi vào tình trạng sang chấn tâm lý, thậm chí khủng hoảng tâm lý và bị xâm hại trên môi trường mạng.

    + Số lượng, tỷ lệ trẻ em có HCĐB, trẻ em bị xâm hại và có nguy cơ bị xâm hại vẫn ở mức khá cao so với tổng dân số trẻ em, tỷ lệ tương ứng là 7,16% – 4,97% – 4,09%.

    II. Nguyên nhân hhững tồn tại, hạn chế trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em

    1. Những tồn tại, hạn chế trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Một số cấp ủy, chính quyền địa phương và cơ quan chức năng chưa nhận thức đầy đủ, chưa thực sự quan tâm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em nói chung, phòng, chống xâm hại trẻ em nói riêng. Công tác quản lý nhà nước về phòng, chống xâm hại trẻ em có mặtcòn chưa hiệu quả. Một số cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền chưa làm hết trách nhiệm được giao. Công tác phối hợp giữa chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức và gia đình về phòng, chống xâm hại trẻ em trong nhiều trường hợp chưa thực chất và chưa hiệu quả.

    2. Hệ thống cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em ba cấp độ chưa phát triển toàn diện, đặc biệt là tại cộng đồng; tuy có nhiều hoạt động trợ giúp nhưng chủ yếu tập trung vào thăm hỏi, động viên, tặng quà, thiếu các dịch vụ chuyên sâu như tham vấn, trị liệu hỗ trợ tâm lý, quản lý trường hợp… khiến cho nhiều trẻ em không nhận được sự hỗ trợ cần thiết khi bị xâm hại.

    3. Do tác động mặt trái của kinh tế thị trường dẫn đến ý thức chấp hành, thực thi pháp luật về bảo vệ trẻ em của một bộ phận cán bộ có thẩm quyền chưa nghiêm; hành vi bạo lực, xâm hại tình dục trẻ em có lúc, có nơi bị bỏ lọt, bỏ qua, chậm bị xử lý.

    4. Nhân lực làm công tác trẻ em, bảo vệ trẻ em ở các cấp thiếu về số lượng, hạn chế về năng lực: cán bộ làm công tác trẻ em cấp xã còn kiêm nhiệm quá nhiều việc, chỉ dành một phần thời gian làm việc cho công tác trẻ em và thường xuyên có sự thay đổi nên việc cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em thiếu sự liên tục và toàn diện.

    5. Phần lớn các địa phương bố trí ngân sách mức rất thấp cho công tác bảo vệ trẻ em, thậm chí có địa phương cắt giảm hoặc không bố trí ngân sách khi có ngân sách trung ương hỗ trợ.

    Rubi

    Tổng hợp từ dự thảo văn kiện chương trình bảo vệ trẻ em giai đoạn 2021-2025

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấp Văn Bản Nghiệm Thu Về Phòng Cháy Và Chữa Cháy
  • Thủ Tục Cấp Văn Bản Nghiệm Thu Về Phòng Cháy Và Chữa Cháy
  • Các Văn Bản Chỉ Đạo Về Phòng Chống Tham Nhũng
  • Soạn Bài Phong Cách Ngôn Ngữ Chính Luận Ngắn Nhất
  • Soạn Bài Phong Cách Ngôn Ngữ Chính Luận
  • Bộ Luật Hình Sự Về Trẻ Em

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Quy Định Của Pháp Luật Liên Quan Đến Người Chưa Thành Niên
  • Quy Định Mới Về Tội Giao Cấu Với Trẻ Em Theo Luật Hình Sự ?
  • Tội Vi Phạm Quy Định Về Sử Dụng Lao Động Trẻ Em Theo Bộ Luật Hình Sự
  • Hành Vi Bạo Hành Trẻ Em Sẽ Xử Lý Như Thế Nào Theo Quy Định Của Pháp Luật Hình Sự ?
  • Các Tội Xâm Hại Tình Dục Trẻ Em Trong Bộ Luật Hình Sự Năm 2021
  • Bộ Luật Hình Sự Việt Nam Đang Có Hiệu Lực Pháp Luật Là, Giáo Trình Luật Tố Tụng Hình Sự Đại Học Luật Hà Nội, Dựa Vào Quy Luật Của Các Số Trong Hình A Và Hình B Hãy Điền Số Thích Hợp Vào ô Trống Trong Hình C, Luật 125i Điều 3 Bộ Luật Hình Sự, Bộ Luật Quốc Triều Hình Luật, Giáo Trình Luật Hình Sự Đại Học Luật Hà Nội, Giáo Trình Luật Hình Sự Đại Học Luật Hà Nội Pdf, Điều Luật Trong Bộ Luật Hình Sự, Bộ Luật Hình Sự Là Văn Bản Dưới Luật, Tình Hình Tệ Nạn Xã Hội, Vi Phạm Kỷ Luật, Pháp Luật Có Liên Quan Đến Quân Đội, Bộ Luật Hình Sự Có Từ Bao Giờ, Bộ Luật Hình Sự Là Gì, Bộ Luật Hình Thư Lớp 7, Bộ Luật Hình Sự 199, Bộ Luật Hình Sự 175, Bộ Luật Hình Sự 015, Bộ Luật Hình Sự, Bộ Luật Hình Sự Ma Túy, Bộ Luật Hình Sự Số 37, Bộ Luật Hình Thư Ra Đời Năm Nào, Bộ Luật Hình Sự Hoa Kỳ, Đề Thi Vấn Đáp Luật Hình Sự, Bộ Luật Hình Sự Tội Lừa Đảo, Bộ Luật Hinh Thu , Báo Cáo Sơ Kết Bộ Luật Hình Sự, Bộ Luật Hình Sự Của Lào, Bộ Luật Hình Sự Cờ Bạc, Bộ Luật Hình Sự Của Mỹ, Bộ Luật Hình Sự Của Trẻ Em, Bộ Luật Hình Sự 99, Bộ Luật Hình Sự 321, Bộ Luật Hình Sự Về Ma Túy, Bộ Luật Hình Sự Về Trẻ Em, Góp ý Bộ Luật Hình Sự, Góp ý Bộ Luật Hình Sự Sửa Đổi, Có Mấy Bộ Luật Hình Sự, Xem Bộ Luật Hình Sự, Luật Hình Sự, Bộ Luật Hình Sự Đức, Đề Thi Môn Luật Hình Sự 2, Bộ Luật Hình Sự Pdf, Bộ Luật Hình Sự Sửa Đổi, Bộ Luật 115 Hình Sự, Bộ Luật Hình Sự Năm 99, Luật Tố Tục Hình Sự, Bộ Luật Hình Sự Số 100, Bộ Luật Hình Sự Ra Đời Năm Nào, Bộ Luật Hình Sự Mỹ, Bộ Luật Hình Sự Qua Các Năm, Từ Bộ Luật Hình Sự, Điều Bộ Luật Hình Sự, Điều Luật Hình Sự, Xem Điều 88 Bộ Luật Hình Sự, Bộ Luật Hình Sự Việt Nam, Văn Bản Pháp Luật Hình Sự, Bộ Luật Hình Sự Xoá án Tích, Xem Bộ Luật Hình Sự Năm 2021, Xem Bộ Luật Hình Sự 1999, Bộ Luật Hình Sự Rửa Tiền, Bộ Luật Hình Sự Vbpl, Bộ Luật Hình Sự Sửa Đổi 2021, Bộ Luật Hình Sự Sửa Đổi 2021, Bộ Luật Hình Sự Sửa Đổi 2009, Bộ Luật Hình Sự Sửa Đổi Mới Nhất, Điều 60 Bộ Luật Hình Sự, ý Nghĩa Của Bộ Luật Hình Sự, ý Nghĩa Bộ Luật Hình Sự, Bộ Luật Hình Sự Thuvienphapluat, Bộ Luật Hình Sự Tiếng Anh, Bộ Luật Hình Sự Tiếng Anh Là Gì, Bộ Luật Hình Sự Tội Đánh Bạc, Bộ Luật Hình Sự Điều 322, Bộ Luật Hình Sự Tội Nhận Hối Lộ, Bộ Luật Hình Sự Tội Tham ô, Bộ Luật Hình Sự Tội Tham ô Tài Sản, Bộ Luật Hình Sự Văn Bản Hợp Nhất, Bộ Luật Hình Sự Sửa Đổi 2021, Điều 476 Bộ Luật Hình Sự, Điều 65 Bộ Luật Hình Sự, Điều 66 Bộ Luật Hình Sự, Điều 669 Bộ Luật Hình Sự, Điều 69 Bộ Luật Hình Sự, Điều 7 Bộ Luật Hình Sự, Điều 70 Bộ Luật Hình Sự, Bộ Luật Hình Sự Khoản 3, Điều 74 Bộ Luật Hình Sự, Điều 76 Bộ Luật Hình Sự, Điều 79 88 Bộ Luật Hình Sự, Điều 63 Bộ Luật Hình Sự, Điều 610 Bộ Luật Hình Sự, Điều 48 Bộ Luật Hình Sự, Điều 49 Bộ Luật Hình Sự, Điều 5 Bộ Luật Hình Sự, Điều 51 Bộ Luật Hình Sự, Điều 52 Bộ Luật Hình Sự, Điều 54 Bộ Luật Hình Sự, Điều 6 Bộ Luật Hình Sự, Điều 604 Bộ Luật Hình Sự, Điều 609 Bộ Luật Hình Sự, Điều 61 Bộ Luật Hình Sự,

    Bộ Luật Hình Sự Việt Nam Đang Có Hiệu Lực Pháp Luật Là, Giáo Trình Luật Tố Tụng Hình Sự Đại Học Luật Hà Nội, Dựa Vào Quy Luật Của Các Số Trong Hình A Và Hình B Hãy Điền Số Thích Hợp Vào ô Trống Trong Hình C, Luật 125i Điều 3 Bộ Luật Hình Sự, Bộ Luật Quốc Triều Hình Luật, Giáo Trình Luật Hình Sự Đại Học Luật Hà Nội, Giáo Trình Luật Hình Sự Đại Học Luật Hà Nội Pdf, Điều Luật Trong Bộ Luật Hình Sự, Bộ Luật Hình Sự Là Văn Bản Dưới Luật, Tình Hình Tệ Nạn Xã Hội, Vi Phạm Kỷ Luật, Pháp Luật Có Liên Quan Đến Quân Đội, Bộ Luật Hình Sự Có Từ Bao Giờ, Bộ Luật Hình Sự Là Gì, Bộ Luật Hình Thư Lớp 7, Bộ Luật Hình Sự 199, Bộ Luật Hình Sự 175, Bộ Luật Hình Sự 015, Bộ Luật Hình Sự, Bộ Luật Hình Sự Ma Túy, Bộ Luật Hình Sự Số 37, Bộ Luật Hình Thư Ra Đời Năm Nào, Bộ Luật Hình Sự Hoa Kỳ, Đề Thi Vấn Đáp Luật Hình Sự, Bộ Luật Hình Sự Tội Lừa Đảo, Bộ Luật Hinh Thu , Báo Cáo Sơ Kết Bộ Luật Hình Sự, Bộ Luật Hình Sự Của Lào, Bộ Luật Hình Sự Cờ Bạc, Bộ Luật Hình Sự Của Mỹ, Bộ Luật Hình Sự Của Trẻ Em, Bộ Luật Hình Sự 99, Bộ Luật Hình Sự 321, Bộ Luật Hình Sự Về Ma Túy, Bộ Luật Hình Sự Về Trẻ Em, Góp ý Bộ Luật Hình Sự, Góp ý Bộ Luật Hình Sự Sửa Đổi, Có Mấy Bộ Luật Hình Sự, Xem Bộ Luật Hình Sự, Luật Hình Sự, Bộ Luật Hình Sự Đức, Đề Thi Môn Luật Hình Sự 2, Bộ Luật Hình Sự Pdf, Bộ Luật Hình Sự Sửa Đổi, Bộ Luật 115 Hình Sự, Bộ Luật Hình Sự Năm 99, Luật Tố Tục Hình Sự, Bộ Luật Hình Sự Số 100, Bộ Luật Hình Sự Ra Đời Năm Nào, Bộ Luật Hình Sự Mỹ, Bộ Luật Hình Sự Qua Các Năm, Từ Bộ Luật Hình Sự,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Định Mới Của Pháp Luật Hình Sự Về Tội Bắt Cóc Trẻ Em
  • Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 1988
  • Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 2021, Luật Số 101/2015/qh13 2021
  • Bộ Luật Hình Sự In English
  • Điều 51 Bộ Luật Hình Sự 2021
  • Hoàn Thiện Các Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Về Phòng, Chống Xâm Hại Trẻ Em

    --- Bài mới hơn ---

  • Cổng Tích Hợp Hỗ Trợ Công Tác Bảo Vệ, Chăm Sóc Trẻ Em
  • Văn Bản Pháp Luật Gồm Những Loại Nào
  • Văn Bản Pháp Luật Gồm Những Gì
  • Văn Bản Pháp Luật Giao Thông Đường Bộ
  • Văn Bản Pháp Luật Có Giá Trị Cao Nhất
  • Theo đó, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tham mưu cho Chính phủ trình Quốc hội thông qua Luật trẻ em năm 2021, lần đầu tiên quy định cụ thể các yêu cầu bảo vệ trẻ em; các cấp độ bảo vệ trẻ em; trách nhiệm cung cấp, xử lý thông tin, thông báo, tố giác hành vi xâm hại trẻ em; cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em; chăm sóc thay thế; các biện pháp bảo vệ trẻ em trong quá trình tố tụng, xử lý vi phạm hành chính, phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng.

    Trình Chính phủ ban hành Nghị định số 56/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017 quy định chi tiết một số điều của Luật trẻ em, trong đó quy định cụ thể quy trình tiếp nhận, phối hợp xử lý, xác minh thông tin, thông báo, tố giác hành vi xâm hại trẻ em; quy trình hỗ trợ, can thiệp đối với trường hợp trẻ em có nguy cơ hoặc đang bị xâm hại; can thiệp trong trường hợp trẻ em bị xâm hại cần được bảo vệ khẩn cấp; can thiệp, tạm thời cách ly trẻ em khỏi cha mẹ, người chăm sóc khi cha mẹ, người chăm sóc chính là người xâm hại trẻ em.

    Việc xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp phòng, chống xâm hại trẻ em nêu trên đã thể chế hóa kịp thời và đầy đủ đường lối, chủ trương, chính sách về phòng, chống xâm hại trẻ em thuộc trách nhiệm của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, tạo khuôn khổ pháp lý cho lĩnh vực bảo vệ trẻ em, thúc đẩy thực hiện ngày càng tốt hơn quyền của trẻ em, đặc biệt là nhóm quyền được bảo vệ của trẻ em.

    Nội dung các văn bản xây dựng chặt chẽ, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp,tính thống nhất và đồng bộ. Các chính sách trước khi ban hành đều được đánh giá tác động về kinh tế, xã hội, giới,thủ tục hành chính và đánh giá tác động đối với hệ thống pháp luật, do đó, các quy định được ban hành phù hợp với thực tế cuộc sống, đáp ứng yêu cầu phòng, chống xâm hại trẻ em trong tình hình mới.

    Chính sách về bảo vệ trẻ em nói chung, phòng, chống xâm hại trẻ em nói riêng là chính sách có tác động phạm vi rộng đến tất cả đối tượng, cơ quan, tổ chức, cá nhân, tác động đến tình hình kinh tế – xã hội của đất nước. Vì vậy, khi xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật cần phải nghiên cứu, khảo sát, đánh giá tác động đến nhiều đối tượng trên quy mô rộng, phải xin ý kiến nhiều cơ quan. Tuy nhiên, định mức kinh phí để xây dựng các văn bản còn hạn hẹp, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế.

      (Dân sinh) – Theo cơ quan điều tra, trong quá trình xác minh, điều tra, thu thập chứng cứ các vụ xâm hại trẻ em gặp không ít khó khăn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Bảo Vệ, Chăm Sóc Và Giáo Dục Trẻ Em 1991
  • Quyết Định Tiếp Nhận Đối Tượng Là Trẻ Em Khuyết Tật, Người Khuyết Tật Thuộc Diện Được Chăm Sóc, Nuôi Dưỡng Tại Cơ Sở Bảo Trợ Xã Hội, Nhà Xã Hội Theo Quy Định Của Pháp Luật Vào Cơ Sở Bảo Trợ Xã Hội
  • Các Văn Bản Pháp Luật Về Trẻ Em
  • Các Văn Bản Pháp Luật Về Quyền Trẻ Em
  • Văn Bản Pháp Luật Về Quyền Trẻ Em
  • Quy Định Của Pháp Luật Việt Nam Liên Quan Đến Xâm Hại Tình Dục Trẻ Em

    --- Bài mới hơn ---

  • Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự
  • Tội Cố Ý Gây Thương Tích Hình Phạt Thế Nào ?
  • Tội Cố Ý Gây Thương Tích Điều 134 Bộ Luật Hình Sự 2021
  • Điều 104 Bộ Luật Hình Sự Tội Cố Ý Gây Thương Tích
  • Tội Cố Ý Gây Thương Tích Hoặc Gây Tổn Hại Sức Khoẻ Người Khác Theo Luật Hình Sự Mới
  • Xâm hại tình dục trẻ em là một trong các hành vi bị nghiêm cấm quy định tại mục 3 Điều 6. Các hành vi bị nghiêm cấm:

    “3. Xâm hại tình dục, bạo lực, lạm dụng, bóc lột trẻ em”.

    Điều 25. Quyền được bảo vệ để không bị xâm hại tình dục quy định rõ:

    “Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị xâm hại tình dục”.

    Nghị định số 56/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật trẻ em, trong đó nêu rõ tại:

    “Điều 13. Trẻ em bị xâm hại tình dục

    1. Trẻ em bị hiếp dâm.

    2. Trẻ em bị cưỡng dâm.

    3. Trẻ em bị giao cấu.

    4. Trẻ em bị dâm ô.

    5. Trẻ em bị sử dụng vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức”.

    Các trường hợp trẻ em nêu trên “được tham gia vào các vấn đề về trẻ em và được bảo vệ”.

    Chỉ thị số 18/CT-TTg, ngày 16/5/2017, của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường giải pháp phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em đã chỉ đạo tại điểm 8:

    “8. Đề nghị Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao

    a) Chỉ đạo Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp tiếp nhận, giải quyết kịp thời, xử lý nghiêm các vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em; rà soát hồ sơ, vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em để xử lý dứt điểm, không để tồn đọng, kéo dài;

    Ngày 21/92018 Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên tịch số 02 quy định chi tiết việc xét xử vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi thuộc thẩm quyền của Tòa gia đình và người chưa thành niên, tại khoản 2 Điều 4 quy định “Vụ án hình sự có bị cáo từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi phạm một trong các tội đặc biệt nghiêm trong quy định tại các điều … 142, 144…BLHS. Các vụ án này được thực hiện theo thủ tục xử kín, thân thiện với trẻ em.

    Các quy định trên thể hiện sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của các cấp lãnh đạo, yêu cầu xử lý nghiêm minh đối với các hành vi xâm hại tình dục trẻ em.

    2. Bộ luật hình sự 2021 quy định về tội phạm xâm hại tình dục trẻ em

    Các tội phạm xâm phạm tình dục trẻ em được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2021 tại Chương XIV: Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người) gồm 5 điều luật cụ thể sau:

    – Điều 142 – Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi;

    – Điều 144 – Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi;

    – Điều 145 – Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi;

    – Điều 146 – Tội dâm ô với người dưới 16 tuổi;

    – Điều 147 – Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm.

    Trong đó, người phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi và tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể phải chịu mức án cao nhất là chung thân hoặc tử hình.

    BLHS năm 2021 so với BLHS năm 2003 đã cụ thể hoá một số khái niệm: “Người đã thành niên” được thay bằng “người đủ 18 tuổi trở lên”; “nhiều người” được thay bằng “từ 02 người trở lên”; “nhiều lần” được thay bằng “từ 02 lần trở lên”; “gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật..” được thay bằng “gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật…”.

    Trong BLHS năm 2021, khái niệm “hiếp dâm trẻ em” được thay bằng “dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ” hoặc “giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi”. Theo đó, khái niệm “cưỡng dâm trẻ em”, “giao cấu với trẻ em”, “dâm ô với trẻ em” cũng được đưa ra khái niệm cụ thể để đảm bảo tính thống nhất trong cách hiểu và quá trình áp dụng của các cơ quan có thẩm quyền.

    – Nguyên tắc phân hoá trách nhiệm hình sự được thể hiện qua việc cụ thể hoá ở mức tối đa các tình tiết định khung của từng tội phạm trong nhóm tội. Cụ thể:

    + Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45% (Điều 142, 144,145,146);

    + Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 46% trở lên (Điều 142, 144,145,146);

    + Phạm tội đối với người dưới 10 tuổi (Điều 142);

    + Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh (Điều 145);

    + Làm nạn nhân tự sát (Điều 146).

    – Về khung hình phạt và hình phạt bổ sung. Cụ thể như sau:

    + Khoản 3, Điều 143, BLHS 2021 tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi quy định mức hình phạt tù là 10 năm đến 18 năm thay cho mức phạt từ 7 năm đến 18 năm tại khoản 3, Điều 113, BLHS 1999.

    + So với Điều 155, BLHS 1999, Điều 145, BLHS 2021 bổ sung thêm khoản 4 quy định về hình phạt bổ sung là người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm. Sự thay đổi này thể hiện mức độ nguy hiểm của hành vi đã tăng lên dẫn đến quy định mức răn đe đối với hành vi phạm tội cũng phải có sự tăng tiến tương xứng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Quy Định Của Pháp Luật Về Xâm Hại Trẻ Em
  • Tội Phạm Xâm Hại Tình Dục Trẻ Em Theo Bộ Luật Hình Sự Mới
  • Quy Định Của Pháp Luật Về Hành Vi Xâm Hại Trẻ Em
  • Những Điểm Mới Của Bộ Luật Hình Sự Năm 2021 Về Tội Phạm Xâm Hại Trẻ Em
  • Hành Hung Người Nghi Bắt Cóc Trẻ Em Có Thể Bị Xử Lý Hình Sự
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100