【#1】Giới Thiệu Công Ty Luật Tnhh Everest

Công ty Luật TNHH Everest định hướng trở thành tổ chức cung cấp dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp, có uy tín, có mạng lưới và sự hiện diện rộng khắp Việt Nam.

Công ty Luật TNHH Everest – Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội – thành lập và hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động số 01021045/TP/ĐKHĐ do Sở Tư pháp thành phố Hà Nội cấp lần đầu ngày 29/09/2014.

Tiền thân là Công ty Luật TNHH Minh (Smart Law Firm) do Thạc sĩ, Luật sư Phạm Ngọc Minh sáng lập tháng 09/2009. Tháng 09/2010, Công ty Luật TNHH Minh kết nạp các thành viên mới và đổi tên Công ty Luật TNHH YouMe (YouMe Law Firm). Tháng 09/2014, Công ty Luật TNHH YouMe được tách thành Công ty Luật TNHH YouMe và Công ty Luật TNHH Everest.

Công ty Luật TNHH Everest đang phát trển thành tổ chức cung cấp dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp, có uy tín, có mạng lưới và sự hiện diện rộng khắp Việt Nam, với sự hội tụ của đội ngũ luật sư, chuyên gia có chuyên môn tốt trong nhiều lĩnh vực, thường xuyên áp dụngcông nghệ, hợp tác sâu, rộng với các đối tác nhằm mang tới cho khách hàng phong cách phục vụ chuyên nghiệp ,dịch vụcó chất lượng cao, chi phí hợp lý.

Trở thành tổ chức cung cấp dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp, có uy tín, có mạng lưới và sự hiện diện rộng khắp Việt Nam.

Cung cấp dịch vụ pháp lý có chất lượng, dễ dàng tiếp cận, sử dụng, với chi phí hợp lý phù hợp với mọi cá nhân, tổ chức. Từ đógóp phần pháp đưa dịch vụ pháp lý trở thành phổ biến, thông dụng với người Việt Nam.

– Giá trị cốt lõi: Khác biệt – Chia sẻ – Phổ thông -An toàn -Kết quả.

(1) Khác biệt: có được từ tư duy sáng tạo và tích cực, là con đường dẫn đến thành công.

(2) Chia sẻ: chia sẻ để hợp tác, chia sẻ để cùng phát triển giữa các thành viên của Everest, giữa Everest với đối tác và khách hàng.

(3) Phổ thông: phổ biến, dễ tiếp cận, dễ sử dụng, dễ chấp nhận.

(4) An toàn: làmục tiêu của khách hàng và đối tác hướng đến, là điều kiện để Everest tồn tại và phát triển.

(5) Kết quả: Kết quả đạt đượclà quá trình gắn kết hữu cơ giữa mục tiêu, quá trình thực hiện,hợp tác,kiểm tra, giám sát, điều chỉnh và nỗ lực hết mình.

Công ty Luật TNHH Everest, nơi sự hội tụ của nhiều luật sư và chuyên gia có chuyên môn trong lĩnh vực hình sự, dân sự, hợp đồng, hôn nhân và gia đình, doanh nghiệp, lao động, xây dựng và bất động sản… Chúng tôi cung cấp tới khách hàng các tư vấn chuyên sâu đối với các vấn đề pháp lý, giúp Quý Khách hàng có thông tin tham khảo hữu ích, từ đó lựa chọn được phương án tốt nhất, mang lại hiệu quả công việc nhanh nhất.

Với sự hợp tác của các đối tác cung cấp dịch vụ pháp lý, công nghệ, đào tạo và truyền thông có uy tín, chúng tôi tin tưởng sẽ mang tới cho Quý khách hàng dịch vụ pháp lý có chất lượng tốt, với chi phí hợp lý nhất.

Hiện tại, Công ty Luật TNHH Everest cung cấp các dịch vụ pháp lý như sau cho các tổ chức, cá nhân trong nước và nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam:

  1. Dịch vụ tư vấn pháp luật;
  2. Dịch vụ đại diện theo uỷ quyền;
  3. Dịch vụ tranh tụng và trọng tài;
  4. Dịch vụ đăng ký doanh nghiệp , giấy phép, mua bán, sáp nhập;
  5. Dịch vụ tư vấn đầu tư nước ngoài;
  6. Dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực quản lý và thu hồi nợ;
  7. Đặc biệt, với các công cụ trực tuyến, Quý khách hàng có thể liên hệ, giao dịch với các luật sư, chuyên gia có kinh nghiệm của Công ty Luật TNHH Everest dễ dàng.
  1. Trụ sở chính: Tầng 19 Tòa nhà Thăng Long, 98 Ngụy Như Kon Tum, Thanh Xuân, Hà Nội
  2. Chi nhánh Hà Nội: Tầng 2, Tòa nhà Ngọc Khánh, 37 Nguyễn Sơn, Long Biên, Hà Nội
  3. Chi nhánh HCM: Tầng 18, Tòa nhà Indochina Park, Số 04 Nguyễn Đình Chiểu, Quận 1, HCM
  4. Điện thoại: 04-66 527 527 – Tổng đài tư vấn: 1900 6198 – E-mail: [email protected]

【#2】Dịch Vụ Pháp Luật Về Hôn Nhân Và Gia Đình Của Công Ty Luật Tnhh Everest

(1) Giải quyết ly hôn: gồm thuận tình ly hôn, ly hôn theo yêu cầu của một bên, ly hôn trong trường hợp vợ/chồng mất tích, ly hôn có yếu tố nước ngoài… Luật sư có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý như: trình tự, thủ tục ly hôn, đưa ra ý kiến, soạn thảo đơn khởi kiện ly hôn đơn phương, hoàn thành hồ sơ khởi kiện, mọi vướng mắc về quy định của pháp luật…

(3) Giải quyết tranh chấp về việc nuôi con: tư vấn các quy định của pháp luật về nuôi con khi ly hôn(việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con), tham gia tố tụng để giải quyết các tranh chấp về nuôi con sau ly hôn (hỗ trợ thu thập bằng chứng chứng minh việc nuôi dạy con, đưa ra các căn cứ, lập luận để khách hàng đạt được quyền lợi tốt nhất…)

(4) Giải quyết tranh chấp về cấp dưỡng: tham gia với tư cách là luật sư tư vấn, hỗ trợ pháp lý đối với việc giải quyết các tranh chấp về việc cấp dưỡng, đưa ra giải pháp để khách hàng có được quyền lợi như yêu cầu.

(5) Giải quyết tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn: tư vấn thủ tục thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn (chuẩn bị giấy tờ, soạn thảo đơn yêu cầu, tài liệu chứng minh cho yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con), đại điện theo ủy quyền của khách hàng để tham gia tố tụng…

(6) Giải quyết tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xin xác định con cho cha, mẹ: tư vấn các trình tự, thủ tục theo yêu cầu của pháp luật.

(7) Giải quyết tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ, chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký hết hôn: cung cấp dịch vụ tư vấn (các quy định của pháp luật mới nhất, trình tự, thủ tục để giải quyết tranh chấp), đại diện cho khách hàng để tham gia tố tụng tại tòa để bảo vệ cho quyền lợi của khách hàng.

(8) Giải quyết yêu cầu hủy kết hôn trái pháp: tư vấn mọi vấn đề pháp lý về căn cứ hủy kết hôn trái pháp luật, việc thụ lý, giải quyết đơn yêu cầu theo quy định, việc xử lý yêu cầu hủy kết hôn của tòa án, hậu quả pháp lý về việc hủy kết hôn trái pháp luật…

Phạm vi hành nghề của luật sư trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình

Tư vấn pháp luật

Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật trong hầu hết các lĩnh vực pháp lý phổ biến: hành chính, hình sự, dân sự, đất đai, hôn nhân, gia đình, đầu tư, doanh nghiệp, lao động, sở hữu trí tuệ, tài chính, kế toán và nhiều lĩnh vực khác.

Đại diện theo ủy quyền

Dịch vụ tranh tụng

Dịch vụ pháp lý khác

Luật sư của chúng tôi giúp đỡ khách hàng thực hiện công việc về thủ tục hành chính; giúp đỡ về pháp luật trong trường hợp giải quyết khiếu nại, dịch thuật, xác nhận giấy tờ, các giao dịch; giúp đỡ khách hàng thực hiện công việc khác theo quy định.

Vì sao dịch vụ pháp lý về lĩnh vực hôn nhân và gia đình là cần thiết?

Các tranh chấp thường xảy ra trong mối quan hệ hôn nhân và gia đình: ly hôn, chia tài sản chung của vợ chồng, nuôi con, cấp dưỡng khi ly hôn, xác định cha, mẹ cho con hoặc xin xác định con cho cha, mẹ… Các tranh chấp này không chỉ dừng ở mức độ tự giải quyết với nhau mà nó là các vấn đề pháp lý được pháp luật quy định và phải giải quyết tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Các kiến thức pháp luật về hôn nhân và gia đình: kết hôn trái pháp luật, trình tự, thủ tục để giải quyết ly hôn, nguyên tắc khi chia tài sản chung của vợ chồng, việc nuôi con, chia tài sản của nam, nữ, chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký hết hôn… không phải ai cũng nắm được. Nhưng thực tế xảy ra buộc hai các bên phải có các kiến thức đó mà nếu không biết có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

Lý do khách hàng lựa chọn dịch vụ của chúng tôi

(1) Đội ngũ các luật sư, chuyên gia có kinh nghiệm không chỉ riêng lĩnh vực hôn nhân và gia đình mà còn nhiều lĩnh vực pháp lý khác, chúng tôi có thể hỗ trợ khách hàng giải quyết những vấn đề phức tạp.

(2) Mạng lưới chi nhánh, đại lý tại Hà Nội, Hồ Chí Minh, Quảng Ninh…, cùng với việc áp dụng công nghệ, xây dựng các gói dịch vụ pháp lý đa dạng, chúng tôi có thể đáp ứng được nhu cầu của nhiều nhóm khách hàng với chất lượng tốt, thời gian nhanh và chi phí hợp lý.

Liên hệ với Công ty Luật TNHH Everest

  • Hotline: 1900 6198, (84 24) 66.527.527
  • Email: [email protected]
  • Trụ sở chính: Tầng 04, Tòa nhà Times, 35 Lê Văn Lương, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội,
  • Chi nhánh Hà Nội: Số 319, phố Hồng Tiến, phường Bồ Đề, quận Long Biên, Hà Nội,
  • Chi nhánh Quảng Ninh: Số 19-A1 Khu tái định cư, xã Đoàn Kết, huyện Vân Đồn, Quảng Ninh.

【#3】Hoạt Động Vì Cộng Đồng Của Công Ty Luật Tnhh Everest

Các luật sư của Công ty Luật TNHH Everest luôn thức sâu sắc về trách nhiệm của luật sư: “góp phần bảo vệ công lý, các quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, phát triển kinh tế – xã hội”.

Các luật sư, chuyên gia của Công ty Lu ật TNHH Everest luôn dành nguồn lực cho các hoạt động trợ lý pháp lý và các hoạt động hỗ trợ cộng đồng. Hàng ngàn cá nhân, tổ chức được các luật sư của Công ty Luật TNHH Everest trợ giúp pháp lý, hàng ngàn bài tư vấn pháp luật được các cơ quan báo chí đăng tải, góp phần nâng cao kiến thức pháp lý, tuyên truyền phổ biến pháp luật cho cộng đồng.

Một số vụ việc tiêu biểu mà Công ty Luật TNHH Everest đã thực hiện:

Vào năm 1995, trong một vụ việc chai Coca Cola có dị vật tương tự tại Mỹ, Coca Cola đã tự nguyện hòa giải và bồi thường cho khách hàng số tiền 10 triệu USD. Tuy nhiên, Coca Cola Việt Nam đã chọn giải pháp đã chối bỏ trách nhiệm và dùng nhiều biện pháp để biện minh Coca-Cola không có lỗi.

Vụ án khởi kiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã được Tòa án hai cấp xét xử. Công ty Luật TNHH Everest kiên trì hỗ trợ pháp lý cho khách hàng trong 04 năm (2012 – 2021). Trong vụ án này, Coca Cola Việt Nam chiến thắng về mặt pháp lý (được tòa tuyên không buộc phải xin lỗi khách hàng). Tuy nhiên, với sự lên tiếng của hàng chục cơ quan báo chí với hàng trăm bài viết, công luận đã hiểu rõ bản chất thật sự của vụ án, người tiêu dùng không khởi kiện để đòi lợi ích kinh tế mà yêu cầu doanh nghiệp ứng xử có trách nhiệm khi có sự cố, đặt lợi ích sự an toàn cho khách hàng lên trên mục tiêu lợi nhuận. Vụ kiện góp phần nâng cao ý thức của người tiêu dùng Việt Nam, đặt ra những lỗ hổng về pháp lý và quản lý nhà nước trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Năm 2013, từ vụ việc phát hiện phóng viên Báo Lao Động tác nghiệp, ghi lại một số hình ảnh “nhạy cảm” trong khi thi hành công vụ của CSGT Hải Phòng, những CSGT này đã có những hành động ngăn cản. CSGT Hải Phòng cung cấp tới báo chí Công văn số 1042/C67-P3 ngày 26/04/2013 của Cục CSGT ĐBĐS (C67) – Bộ Công an, trong đó có nội dung: “cấm” nhà báo ghi hình CSGT.

Năm 2014 đã xảy ra một vụ án ‘vô tiền khoáng hậu’ trong lịch sử nghề báo. Bà Nguyễn Thị Mùi – mẹ của tử tù Bùi Đức Lợi (trú tại TT Cái Rồng, Vân Đồn, Quảng Ninh) – kẻ sát nhân, gây ra nhiều vụ án cướp, giết, hiếp ghê rợn trên địa bàn Quảng Ninh vào năm 2007 đã khởi kiện Báo GĐVN.

Bùi Đức Lợi đã bị TANDTC kết tội: giết người, cướp của, đã phải chịu hình phạt cao nhất – tử hình. Thay vì ăn năn, sám hối cho con, bà Mùi đi khắp các nơi kêu oan. Không những thế, bà Mùi cùng với một số kẻ hành nghề mê tín dị đoan dựng lên câu chuyện tử tù “hiện hồn kêu oan”. Những “vong hồn” trong câu chuyện này khẳng định rằng, Bùi Đức Lợi không phải thủ phạm trong các vụ giết người hàng loạt, cướp của, hiếp dâm. “Hồn ma” của nạn nhân cũng hiện về kêu oan cho “tử tù Bùi Đức Lợi”, còn tố cáo lực lượng thực thi pháp luật đã móc mắt, moi gan, lấy tim, óc… của tử tù để bán sang Trung Quốc. Nhiều người không hiểu rõ về vụ án kia đã bức xúc, cho rằng án oan. Báo GĐVN cử phóng viên điều tra, làm rõ sự việc bịa đặt này vào năm 2013.

Bà Mùi cho rằng, Báo GĐVN đưa thông tin sai sự thật, xúc phạm vong linh tử tù, đăng ảnh cá nhân không xin phép… Vụ án tưởng đơn giản, nhưng vấn đề phức tạp là: Bộ TT&TT không xem xét thấu đáo các quy định của Luật Báo chí, đã ra quyết định xử phạt Báo GĐVN. Chứng cứ này khiến cơ quan tố tụng ở các cấp xét xử lúng túng. Vụ án phải xử đi, xử lại nhiều lần. Thậm chí, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên chấp thuận yêu cầu của bà Mùi, buộc Báo GĐVN phải bồi thường thiệt hại và công khai xin lỗi tử tù Bùi Đức Lợi. Nếu bản án có hiệu lực pháp luật, hậu quả: một cơ quan báo chí phải công khai xin lỗi kẻ sát nhân hàng loạt. Nghiêm trọng hơn, bản án sẽ là tiền lệ cho nhiều cá nhân khác lợi dụng khởi kiện các cơ quan báo chí khi thực tế hàng ngày có hàng trăm bài báo sử dụng hình ảnh cá nhân của người khác mà không xin phép cá nhân đó.

Trong suốt 03 năm (2015 – 2021) Công ty Luật TNHH Everest đã đồng hành cùng báo Gia đình Việt Nam bảo vệ công lý. Với chứng cứ thu thập rõ ràng, luận cứ được chuẩn bị công phu, các luật sư của Công ty Luật TNHH Everest đã thuyết phục Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Mùi, ngăn chặn một nguy cơ khủng hoảng truyền thông của cơ quan báo chí Việt Nam.

(5) Công dân đầu tiên tại Quảng Ninh ‘ tổ chức họp báo ‘ (bảo vệ quyền lợi của công dân bị mất đất):

Năm 2021, Công ty CP Than Hà Tu – Vinacomin (Công ty Than Hà Tu) làm đường vận chuyển than không thực hiện đúng quy định của pháp luật xây dựng, đã gạt thẳng đất, đá xây dựng xuống dưới chân đồi. Trận mưa lịch sử vào 07/2015 tại Quảng Ninh đã làm lượng đất đá này đổ xuống, làm sạt lở, hỏng nhà, tài sản của một số hộ dân trong khu vực. Cơ quan chức năng đã kết luận, nguyên nhân dẫn đến sạt lở là do việc khai thác của Công ty Than Hà Tu, buộc công ty này phải bồi thường, hỗ trợ 14 hộ dân bị ảnh hưởng sạt lở, sụt lún.

Với sự trợ giúp của các luật sư, ông Quang – bà Thanh đã đăng ký tổ chức họp báo công khai vụ việc và được Sở TTT&TT Quảng Ninh chấp thuận (Văn bản số 02/STTTT-HCC ngày 30/11/2018).

Ngày 14/12/2018, gia đình ông Quang – bà Thanh và Công ty Luật TNHH Everest đã tổ chức họp báo thành công với sự tham dự của hơn 30 cơ quan báo chí. Hàng chục bài viết phân tích những ‘điểm mờ’ của vụ án, làm căn cứ để cơ quan chức năng phải xem xét, giải quyết khiếu nại của gia đình ông Quang – bà Thanh. Cho tới thời điểm hiện tại, gia đình ông Quang – bà Thanh và các khách hàng của Công ty Luật TNHH Everest vẫn tiếp tục kiến nghị, khởi kiện, bảo vệ quyền lợi của gia đình mình. Tuy nhiên, ” Dự án thu hồi đất sụt lún, sạt lở, vị trí nguy hiểm không thể ở” của Công ty Than Hà Tu đã tạm dừng, không triển khai tiếp. Dư luận xã hội đánh giá, đây là cách làm sáng tạo, góp phần tạo niềm tin vào công cuộc chống lợi ích nhóm đang được Đảng, Nhà nước thực hiện.

Liên hệ v ới C ông ty Lu ật TNHH Everest:

  • Trụ sở chính: Tầng 19 Tòa nhà Thăng Long, 98 Ngụy Như Kon Tum, quận Thanh Xuân, Hà Nội
  • Chi nhánh Hà Nội: Tầng 02, Tòa nhà Ngọc Khánh, 37 Nguyễn Sơn, quận Long Biên, Hà Nội
  • Chi nhánh Quảng Ninh: Khu tái định cư, xã Đoàn Kết, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
  • Chi nhánh HCM: Tầng 04 Khu B, Tòa nhà Indochina Park, Số 04 Nguyễn Đình Chiểu, Quận 1, HCM
  • Điện thoại: 024-66 527 527 – Tổng đài tư vấn: 1900 6198 – E-mail: [email protected].

【#4】Công Ty Luật Tnhh Everest Tuyển Dụng 2021

Công ty Luật TNHH Everest tiền thân là Công ty Luật TNHH Minh (Smart Law Firm) do Thạc sĩ, Luật sư Phạm Ngọc Minh sáng lập, đăng ký hoạt động vào ngày 29/09/2009. Năm 2010, Công ty Luật TNHH Minh kết nạp các thành viên mới và đổi tên Công ty Luật TNHH YouMe (YouMe Law Firm). Ngày 29/09/2014, Công ty Luật TNHH Everest (Everest Law Firm) tách ra từ Công ty Luật TNHH YouMe, được Sở Tư pháp thành phố Hà Nội cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động số: 01021045/TP/ĐKHĐ.

Công ty Luật TNHH Everest định hướng trở thành đơn vị cung cấp dịch vụ pháp luật trực tuyến hàng đầu Việt Nam, mang trên mình sứ mệnh: để người Việt Nam có thể dễ dàng tiếp cận, sử dụng dịch vụ pháp lý, Công ty Luật TNHH Everest xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển rõ ràng, liên tục tăng cường hợp tác, mở rộng mạng lưới, hoàn thiện nhân sự.

Trong năm 2021, Công ty Luật TNHH Everest đã có đội ngũ nhân sự chuyên nghiệp, với 20 luật sư và chuyên gia cao cấp, gần 30 chuyên viên tư vấn, có các Chi nhánh tại Hà Nội, Hồ Chí Minh, Quảng Ninh và mạng lưới đại lý tại nhiều tỉnh, thành phố khác trong cả nước.Trong năm 2021, Everest đã cung cấp dịch vụ cho hơn 10.000 khách hàng là cá nhân, tổ chức trong nước và ngoài nước. Liên tục 05 năm gần đây, Công ty Luật TNHH Everest hoạt động ổn định, bền vững, doanh thu và thu nhập doanh nghiệp tăng trưởng mức độ cao từ 30% đến 50%. Hàng tháng, ước tính có 1.000.000 lượt khách hàng truy cập vào các trang thông tin điện tử của Công ty Luật TNHH Everest: chúng tôi chúng tôi chúng tôi chúng tôi chúng tôi chúng tôi www.luatbatdongsan.vn.

– Tầm nhìn: Xây dựng mạng lưới và sự hiện diện rộng khắp Việt Nam, trở thành tổ chức cung cấp dịch vụ pháp lý trực tuyến hàng đầu.

– Sứ mệnh: Để người Việt Nam có thể dễ dàng tiếp cận và sử dụng dịch vụ pháp lý.

– Giá trị cốt lõi: Khác biệt – Chia sẻ – Phổ thông – An toàn – Kết quả.

【#5】Giới Thiệu Về Công Ty Luật Tnhh Everest

Công ty Luật TNHH Everest định hướng trở thành đơn vị cung cấp dịch vụ pháp luật trực tuyến hàng đầu Việt Nam, thực hiện sứ mệnh: để người Việt Nam có thể dễ dàng tiếp cận, sử dụng dịch vụ pháp lý .

Giới thiệu chung về Công ty Luật TNHH Everest:

Ngày 29/09/2009: Công ty Luật TNHH Minh (Smart Law Firm) do Thạc sĩ, Luật sư Phạm Ngọc Minh sáng lập, đăng ký hoạt động chính thức.

Ngày 29/09/2010: Công ty Luật TNHH Minh kết nạp các thành viên mới và đổi tên Công ty Luật TNHH YouMe (YouMe Law Firm).

Ngày 29/09/2014: Công ty Luật TNHH Everest ( Everest Law Firm ) tách ra từ Công ty Luật TNHH YouMe, được Sở Tư pháp thành phố Hà Nội cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động số: 01021045/TP/ĐKHĐ.

Công ty Luật TNHH Everest định hướng trở thành đơn vị cung cấp dịch vụ pháp luật trực tuyến hàng đầu Việt Nam, mang trên mình sứ mệnh: để người Việt Nam có thể dễ dàng tiếp cận, sử dụng dịch vụ pháp lý, Công ty Luật TNHH Everest xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển rõ ràng, liên tục tăng cường hợp tác, mở rộng mạng lưới, hoàn thiện nhân sự.

Trong năm 2021, Công ty Luật TNHH Everest đã có đội ngũ nhân sự chuyên nghiệp, với 20 luật sư và chuyên gia cao cấp, gần 30 chuyên viên tư vấn, có các Chi nhánh tại Hà Nội, Hồ Chí Minh, Quảng Ninh và mạng lưới đại lý tại nhiều tỉnh, thành phố khác trong cả nước.Trong năm 2021, Everest đã cung cấp dịch vụ cho hơn 10.000 khách hàng là cá nhân, tổ chức trong nước và ngoài nước.

Liên tục 05 năm gần đây, Công ty Luật TNHH Everest hoạt động ổn định, bền vững, doanh thu và thu nhập doanh nghiệp tăng trưởng mức độ cao từ 30% đến 50%. Hàng tháng, ước tính có 1.000.000 lượt khách hàng truy cập vào các trang thông tin điện tử của Công ty Luật TNHH Everest: chúng tôi chúng tôi chúng tôi chúng tôi chúng tôi chúng tôi Vincapitalfoundation.org

Tầm nhìn của Công ty Luật TNHH Everest:

Khác biệt – Chia sẻ – Kết nối – Tin tưởng – Kết quả

(1) Khác biệt: Các thành viên của Everest luôn sáng tạo để khám phá, giành lấy thị trường mới, đi tiên phong trong việc cung cấp những dịch vụ pháp lý mới. Nghĩ khác biệt, Làm quyết liệt.

(2) Chia sẻ: Các thành viên của Everest hiểu rằng, ‘cho đi’ sẽ ‘nhận lại. Mỗi hoạt động của chúng ta phải đảm bảo hài hòa lợiích của cộng đồng, của người khác, của chính mình. Mọi người cùng chia sẻ, cùng hợp tác, sẽ cùng thành công.

Trọng tài là một cơ chế giải quyết các tranh chấp dân sự, thương mại được xác định như một “sự thay thế” cho thủ tục tại Tòa án. Do đó, các luật sư, chuyên gia của Công ty trong nhiều trường hợp khuyến nghị khách hàng sử dụng phương thức này bởi ưu điểm: bảo mật và linh hoạt.

(6) Nhóm dịch vụ giấy phép:

Cung cấp dịch vụ pháp lý nhằm hỗ trợ khách hàng thực hiện các thủ tục đăng ký doanh nghiệp: (a) thành lập mới doanh nghiệp, (b) thay đổi đăng ký doanh nghiệp, (c) thành lập chi nhánh, (d) thành lập văn phòng đại diện, (e) chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; (f) tách doanh nghiệp, (g) chia doanh nghiệp, (h) sáp nhập doanh nghiệp, (i) giải thể và phá sản doanh nghiệp.

Liên hệ với Công ty Luật TNHH Everest để biết thông tin chi tiết:

【#6】Biên Bản Họp Gia Đình Về Chia Thừa Kế Đất Đai Có Hiệu Lực Pháp Luật Không?

Biên bản thỏa thuận chia tài sản thừa kế theo pháp luật giữa các thành viên trong gia đình phải được công chứng mới đầy đủ hiệu lực pháp luật. Biên bản họp gia đình có người làm chứng, có xác nhận của ủy ban nhân dân xã chỉ được coi là chứng thực chữ ký.

Đề nghị luật sư tư vấn về hiệu lực của biên bản họp gia đình về chia thừa kế đất đai .

Trường hợp cụ thể của gia đình tôi như sau: Ông bà ngoại trước khi mất, có cho mẹ tôi một mảnh đất, chỉ nói miệng. Ông bà ngoại có 04 người con, 02 bác gái, mẹ tôi và cậu. Khi ông bà mất (trước năm 2012), bố tôi có họp gia đình, lập một biên bản họp về việc ông bà ngoại có cho mẹ tôi mảnh đất, có đầy đủ chữ ký và ý kiến của các thành viên trong gia đình. Có lẽ dongày trước đất đai rẻ, nên cậu và 02 bác gái không có ý kiến gì. Mẹ tôi cũng không làm thủ tục sang tên quyền sử dụng mảnh đất.

Hiện tại ông ngoại, bà ngoại, cậu cũng đã mất, còn lại 02 bác gái và mẹ. Mẹ tôi mượn sổ đỏ gốc do hai bác gái giữ, để làm thủ tục tách sổ thì các bác không giao. Mẹ tôi có làm đơn ra xã, thì các bác nói: chữ ký trong biên bản viết tay đó không phải của họ, trong khi biên bản có chữ ký làm chứng của trưởng thôn, xác nhận chữ ký là đúng, ngoài ra còn có dấu giáp lai của ủy ban nhân dân xã.

Xin hỏi, trường hợp biên bản thỏa thuận giữa mọi người trong gia đình tôi có hiệu lực pháp luật không? Nếu khởi kiện tại tòa án thì phần thắng có cao không? Tôi xin nói thêm là, mảnh đất của ông bà ngoại hiện tại chia làm 02 mảnh nhỏ, mảnh của mẹ và mảnh còn lại trước đây cậu tôi ở cùng ông bà ngoại nên sử dụng. Cả 02 mảnh đều chưa sang tên, vẫn để tên ông bà ngoại. Con của cậu tôi hiện đang ở mảnh còn lại. Ông bà ngoại cũng không để lại thừa kế. (Hà Ngọc – Nam Định)

Luật gia Bùi Thị Phượng – Phòng Tư vấn pháp luật trực tuyến – Công ty Luật TNHH Everest – trả lời:

Thứ nhất, về hiệu lực của văn bản thỏa thuận , có người làm chứng và chứng nhận của ủy ban nhân dân xã.

Thứ hai, về việc mẹ của anh (chị) khởi kiện ra tòa án, yêu cầu công nhận quyền sử dụng, quyền sở hữu nhà đất, có căn cứ pháp lý không.

Việc ông bà ngoại đã tuyên bố cho mẹ của anh (chị) mảnh đất đang ở hiện tại, thì đây được coi là hợp đồng miệng về việc tặng cho quyền sử dụng đất.

Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định:

– Về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức: “Trong trường hợp pháp luật quy định hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu” (Điều 134).

– Về thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu: “Thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tại các điều từ Điều 130 đến Điều 134 của Bộ luật này là hai năm, kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập” (khoản 1 Điều 136).

– Về hình thức chuyển quyền sử dụng đất: “1. Việc chuyển quyền sử dụng đất được thực hiện thông qua hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này. 2. Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật. 3. Việc thừa kế quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định tại các điều từ Điều 733 đến Điều 735 của Bộ luật này” (Điều 689).

Khuyến nghị:

Căn cứ các quy định nêu trên, hợp đồng miệng ông bà ngoại tặng cho mảnh đất cho mẹ của anh (chị) là vi phạm về hình thức (hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực). Tuy nhiên thời hiệu yêu cầu tuyên bố hợp đồng (giao dịch dân sự) vô hiệu đã hết, ông bà ngoại cũng đã mất, do đó hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất (miệng) này có hiệu lực pháp luật. Mẹ của anh (chị) khởi kiện yêu cầu công nhận hợp đồng tặng cho nhà đất (không phải chia thừa kế) là có căn cứ pháp luật.

  1. Để có tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198.
  2. Nội dung tư vấn pháp luật thừa kế mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Các điều luật chúng tôi viện dẫn trong bài viết có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được sửa đổi, bổ sung. Các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, Chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.

【#7】Hiến Pháp Việt Nam Là Một Đạo Luật Cơ Bản Có Hiệu Lực Pháp Lý Tối Cao Của Nhà Nước Việt Nam

Hiến pháp là một đạo luật cơ bản, khác với những đạo luật khác. Tính chất luật cơ bản và hiệu lực pháp tối cao của Hiến pháp Việt Nam thể hiện trên nhiều phương diện khác nhau.

Do vị trí đặc biệt quan trọng của Hiến pháp trong một hệ thống pháp luật, trong sinh hoạt Nhà nước và trong sinh hoạt của một xã hội nói chung, Hiến pháp được xem là luật cơ bản của Nhà nước. Người có công đề cập đến Hiến pháp như một đạo luật cơ bản là Lastxen. Trong một tác phẩm của mình, ông viết: ” Hiến pháp… phải trở thành không chỉ là một đạo luật, mà phải hơn là một đạo luật. Hiến pháp không phải là một đạo luật thông thường, như những đạo luật khác, mà là một đạo luật cơ bản của một nước”.

Khi nói đến Hiến pháp Việt Nam cũng như của các Nhà nước khác phải thấy được đặc tính đầu tiên cuả chúng là một đạo luật, tức là một văn bản pháp luật do cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất thông qua. Đây chính là dấu hiệu quan trọng bậc nhất làm Hiến pháp với tính cách là một văn bản Nhà nước khác với các loại văn bản khác.

Hiến pháp không phải là một loại văn bản Nhà nước mang tính cá biệt, chỉ được áp dụng một lần, mà nó là một văn bản pháp quy, tức là một văn bản Nhà nước, mà nội dung của nó chứa đựng quy phạm pháp luật. Tuy vậy, Hiến pháp không phải là một loại văn bản pháp luật thông thường, do một cơ quan Nhà nước bất kỳ ban hành mà do một cơ quan Nhà nước có vị trí đặc biệt thông qua. Ở Việt Nam chúng ta Quốc hội, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất có quyền thông qua Hiến pháp, tức là làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp.

Hiến pháp là một đạo luật cơ bản, khác với những đạo luật khác. Tính chất luật cơ bản và hiệu lực pháp tối cao của Hiến pháp Việt Nam thể hiện trên nhiều phương diện:

– Trước hết, Hiến pháp là một văn bản có hiệu lực cao nhất quy định việc tổ chức quyền lực Nhà nước, là hình thức pháp lý thể hiện một cách tập trung hệ tư tưởng của giai cấp lãnh đạo, ở từng giai đoạn phát triển, Hiến pháp là văn bản, là phương tiện pháp lý cao nhất thể hiện tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam dưới hình thức những quy phạm pháp luật.

– Xét về mặt nội dung, nếu các luật khác thường chỉ điều chỉnh các quan hệ xã hội thuộc một lĩnh vực nhất định của đời sống, chẳng hạn luật hôn nhân và gia đình, luật đất đai, luật lao động… thì đối tượng điều chỉnh của Hiến pháp rất rộng, có tính chất bao quát tất cả các lĩnh vực của sinh hoạt xã hội: Chế độ chính trị; chế độ kinh tế; đường lối phát triển khoa học, kỹ thuật, văn hoá, giáo dục; đường lối quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; cơ cấu tổ chức bộ máy Nhà nước; quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Ở đây, cần chú ý đến các đặc tính của các quy phạm Hiến pháp: quy phạm tuyên ngôn – cương lĩnh, quy phạm điều chỉnh chung, quy phạm điều chỉnh trực tiếp.Trong đó loại quy phạm thứ nhất và loại quy phạm thứ hai, tuy tự chúng có sức chỉ đạo, định hướng, nhưng vẫn phải thông qua các quy phạm pháp luật của các ngành luật khác để chúng có thể phát huy đầy đủ hiệu lực.

– Các luật không những không được mâu thuẫn với Hiến pháp, mà còn phải hoàn toàn phù hợp với tinh thần và nội dung các quy định của Hiến pháp, khi có mâu thuẫn thì chỉ quy định của Hiến pháp mới có hiệu lực.

– Tất cả các văn bản pháp luật khác dưới luật cũng không được mâu thuẫn mà phải phù hợp với tinh thần và nội dung của Hiến pháp, được ban hành trên cơ sở Hiến pháp và để thi hành Hiến pháp.

– Các điều ước quốc tế mà Nhà nước Việt Nam tham gia không được mâu thuẫn, đối lập với quy định của Hiến pháp. Khi có mâu thuẫn, đối lập thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền không tham gia ký kết, không phê chuẩn hoặc bảo lưu đối với từng điều riêng biệt.

– Các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải ban hành các văn bản pháp luật mà Hiến pháp đã quy định.

– Tất cả các cơ quan Nhà nước phải thực hiện chức năng cuả mình theo quy định của Hiến pháp, sử dụng đầy đủ các quyền hạn, làm tròn các nghĩa vụ, chức năng mà Hiến pháp quy định.

– Tuân theo Hiến pháp nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của Hiến pháp là nghĩa vụ cao quí, thiêng liêng bậc nhất của mỗi công dân Việt Nam.

Do nội dung, vị trí, vai trò đặc biệt của Hiến pháp, việc xây dựng, thông qua, ban hành, sửa đổi, thay đổi đều phải tuân theo một trình tự đặc biệt:

chủ trương xây dựng Hiến pháp thường được biểu thị bằng một nghị quyết của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất – Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam.

Thứ hai, Việc xây dựng dự thảo Hiến pháp thường được tiến hành bằng một uỷ ban (ban) dự thảo Hiến pháp được chính quốc hội lập ra gồm hàng chục người là những nhân vật tiêu biểu, đại diện của các tầng lớp nhân dân.

Thứ ba, quá trình xây dựng dự thảo Hiến pháp là quá trình kết hợp hoạt động tích cực, liên tục của tổ chức dự thảo và sự tham gia đông đảo tự giác của nhiều tầng lớp nhân dân. Việc lấy ý kiến nhân dân thường được tiến hành rộng rãi có sự tham gia của hàng chục triệu người.

Thứ tư, việc thông qua Hiến pháp thường được tiến hành tại một kỳ họp đặc biệt của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất.

Thứ năm, sau khi được Quốc hội sơ bộ thông qua, bản hiến pháp được đưa ra toàn dân trưng cầu ý kiến.

Thứ sáu, việc sửa đổi Hiến pháp thường được thực hiện theo một trình tự đặc biệt được quy định tại Hiến pháp.

Thứ bảy, cả quá trình xây dựng, sửa đổi Hiến pháp được sự quan tâm và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt nam. Thông thường, Bộ chính trị, Ban chấp hành trung ương Đảng chỉ đạo trực tiếp công việc xây dựng Hiến pháp và trước khi trình Quốc hội chính thức thông qua bản dự thảo Hiến pháp thường được một hội nghị trung ương chính thức cho ý kiến.

Đối tượng điều chỉnh của luật Hiến pháp Việt nam cũng giống như đối tượng điều chỉnh chung của luật Hiến pháp các nhà nước khác. Trước hết là việc tổ chức quyền lực Nhà nước thông qua việc quy định cách thức tổ chức, hoạt động của các cơ quan Nhà nước Trung ương, nguồn gốc của quyền lực Nhà nước, mức độ tham gia của nhân dân vào công việc tổ chức Nhà nước, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Bên cạnh đối tượng điều chỉnh chung này, Hiến pháp Việt nam có những đối tượng điều chỉnh riêng, có tính cách đặc biệt thể hiện Hiến pháp của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, Hiến pháp của một kiểu Nhà nước mới thể hiện ý chí của đa số nhân dân – Không như trước đây của Nhà nước thể hiện ý chí của giai cấp thống trị thiểu số. Vì vậy, trong các bản Hiến pháp của Nhà nước ta có rất nhiều quy định, mà chúng không thể có được trong Hiến pháp của các nước tư bản. Ví dụ, như quy định ở chương I và chương II về chế độ chính trị và chế độ kinh tế.

Là một loại Hiến pháp trong hệ thống các Hiến pháp thành văn, nên Hiến pháp Việt Nam thuộc loại về nguyên tắc rất khó thay đổi.(Hiến pháp cứng). Sự khó thay đổi này thể hiện tính pháp lý tối cao của Hiến pháp so với các đạo luật thường khác. Đồng thòi đây cũng là cơ sở cho việc đảm bảo ổn định chế độ Nhà nước. Nói như vậy không có nghĩa Hiến pháp Việt Nam là bất biến không thay đổi. Lịch sử lập hiến Việt nam như đã phân tích đã có 4 lần thay đổi lớn. Mỗi lần thay đổi là những điểm mốc đánh dấu bước chuyển mình của Nhà nước ta.

Chính việc mở rộng đối tượng điều chỉnh làm cho đối tượng điều chỉnh của luật Hiến pháp vượt ra khuôn khổ hạn hẹp của tuyên ngôn về quyền lực Nhà nước, thành tuyên ngôn của cả xã hội, nên Hiến pháp XHCN được nhiều người gọi là Hiến pháp xã hội. Đây cũng là đặc điểm chung của Hiến pháp các nước XHCN và của các nước chậm phát triển.

Tính tối cao của Hiến pháp các nước tư bản thường được bảo đảm bằng chế định kiểm hiến, do Uỷ ban Hiến pháp (Toà án Hiến pháp) hay do toà án tối cao đảm nhiệm. Khi có những hành vi vi phạm Hiến pháp thường là của cơ quan lập pháp ban hành những đạo luật vi phạm Hiến pháp, thì các cơ quan nói trên có trách nhiệm đình chỉ, bãi bỏ việc áp dụng các đạo luật vi hiến. Nhà nước Việt nam không quy định việc thành lập các cơ quan bãi hiến như nêu trên. Nhưng, sự giám sát sự tuân thủ Hiến pháp, được Hiến pháp Nhà nước Việt Nam rất coi trọng. Các cơ quan Nhà nước cấp trên đều có trách nhiệm theo sự tuân thủ Hiến pháp của các cơ quan Nhà nước trực thuộc. Và cuối cùng cơ quan có quyền giám sát việc tuân thủ Hiến pháp được Hiến pháp giao cho Quốc hội. Với tư cách là cơ quan quyền lực Nhà nước tối cao, Quốc hội có quyền sửa đổi mọi quyết định của các cơ quan nhà nước, kể cả của chính mình, khi chúng vi phạm Hiến pháp.

Những điều phân tích trên cũng có những trường hợp cụ thể phải loại trừ, nhất là trong giai đoạn chuyển đổi như của Việt Nam từ giai đoạn của nền kinh tế tập trung sang một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.Vào những năm 80 của thời kỳ đổi mới, mặc dù theo quy định của Hiến pháp đang hiện hành không có loại hình sở hữu tư nhân, nhưng với sự quyết tâm đổi mới của Đảng và Nhân dân, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vẫn thông qua Luật Công ty, cho phép loại hình sở hữu này tồn tại và phát triển.

Việc Điều 2 Nghị quyết Sửa đổi một số điều Hiến pháp 1992, năm 2001 quy định rõ nhiệm vụ xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân là cho sự thi hành Hiến pháp càng là một đòi hỏi cấp thiết hơn so với trước đây. Vì một trong những đòi hỏi của nhà nước pháp quyền là các chủ thể trong xã hội kể cả các cơ quan nhà nước phải tuân thủ việc thực hiện các quy định của hiến pháp.

Thạc sỹ Phạm Ngọc Minh – Khoa Luật Trường Đại học Hòa Bình

Liên kết đào tạo và hợp tác việc làm giữa Trường Đại học Hòa Bình và Công ty Luật TNHH Everest là hoạt động cần thiết để giải quyết thực trạng chênh lệch giữa nhu cầu của doanh nghiệp và sự đáp ứng của nhà trường. Hướng đến mục tiêu đào tạo 100% sinh viên có việc làm sau khi trường, Trường Đại học Hòa Bình triển khai liên kết chặt chẽ với Công ty Luật TNHH Everest trong công tác đào tạo sinh viên và tạo điều kiện việc làm cho sinh viên mới ra trường. Để được tư vấn pháp luật, Quý khách vui lòng gọi tới tổng đài tư vấn 19006198.

【#8】Di Chúc Viết Tay Không Công Chứng, Chứng Thực Có Hiệu Lực Pháp Luật Không?

Di chúc bằng văn bản bao gồm: Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng; Di chúc bằng văn bản có người làm chứng; Di chúc bằng văn bản có công chứng; Di chúc bằng văn bản có chứng thực.

Hỏi: Bố tôi trước khi mất có viết di chúc để lại căn nhà cho tôi. Tuy nhiên vì lý do gia đình có mâu thuẫn, và bố tôi không nắm rõ luật nên di chúc do bố tôi viết không có , của chính quyền địa phương. Gần đây, tôi mới nghe nói việc di chúc viết tay không có công chứng, chứng thực thì sẽ không có hiệu lực. Đề nghị Luật sư tư vấn , di chúc do bố tôi viết không được công chứng, chứng thực có hiệu lực hay không? (Hồng Hải – Hải Phòng)

Luật gia Nguyễn Thị Hoài Thương – Tổ tư vấn pháp luật Thừa kế Công ty Luật TNHH Everest – trả lời:

-Về di chúc bằng văn bản: ” Di chúc bằng văn bản bao gồm: 1. Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng ; 2. Di chúc bằng văn bản có người làm chứng; 3. Di chúc bằng văn bản có công chứng; 4. Di chúc bằng văn bản có chứng thực” (Điều 650).

– Về di chúc hợp pháp : “1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây: a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép; b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật. … 4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này” (Khoản 1, 4 Điều 652).

Pháp luật quy định đối với di chúc lập thành văn bản, có thể mang ra công chứng, chức thực và cũng có thể không công chứng, chứng thực. Tuy nhiên, đối với di chúc bằng văn bản không công chứng, chứng thực mà muốn có hiệu lực thì cần đáp ứng các điều kiện: Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép; và nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật. Như vậy, đối chiếu trường hợp của anh (chị) với quy định của pháp luật, bố anh (chị) có thể lập di chúc mà không cần có người làm chứng hoặc công chứng, chứng thực. Nếu bản di chúc mà bố anh (chị) đã lập đáp ứng được những điều kiện cụ thể như trên, bản di chúc đó đã có giá trị pháp lý. Nên sau khi bố anh (chị) mất thì di sản của bố anh (chị) vẫn sẽ được phân chia theo di chúc.

Khuyến nghị:

  1. Để có tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]
  2. Nội dung tư vấn pháp luật thừa kế mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Các điều luật chúng tôi viện dẫn trong bài viết có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được sửa đổi, bổ sung. Các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, Chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.

【#9】Thủ Tục Trước Và Trong Phiên Họp Cùng Thẩm Quyền Ký Quyết Định Xử Lý Kỷ Luật Lao Động

Nói đến thủ tục là nói đến những bước quan trọng mà doanh nghiệp phải tuân thủ nếu như không muốn gặp phải các rắc rối không đáng có.

Người sử dụng lao động cần lập biên bản xác nhận hành vi vi phạm của người lao động

Khi phát hiện người lao động có hành vi vi phạm kỷ luật lao động tại thời điểm xảy ra hành vi vi phạm thì người sử dụng lao động phải tiến hành lập biên bản vi phạm ngay lập tức và thông báo đến tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở; cha, mẹ hoặc người đại diện theo pháp luật trong trường hợp người lao động là người dưới 18 tuổi để tiến hành mở cuộc họp xử lý kỷ luật lao động.

Trường hợp phát hiện hành vi vi phạm luật lao động sau thời điểm hành vi vi phạm đã xảy ra, nếu có đủ căn cứ chứng minh được lỗi của người lao động và còn trong thời hiệu xử lý luật lao động thì tiến hành thủ tục thông báo mở cuộc họp xử lý luật lao động.

Trước khi mở phiên họp

Người sử dụng lao động cần phải gửi thông báo bằng văn bản về nội dung, thời gian, địa điểm tổ chức cuộc họp xử lý kỷ luật.

Người sử dụng lao động chỉ cần đảm bảo những thành phần tham dự phải nhận được thông báo. Trong vòng 03 ngày làm việc kể từ khi nhận được thông báo, các thành phần tham dự có nghĩa vụ trả lời xác nhận có hay không thể tham dự cuộc họp.

Tại cuộc họp xử lý luật lao động

Sau khi Chủ trì cuộc họp thông qua thành phần tham dự, chứng minh lỗi của người lao động, trước khi kết luận để đi đến cáo buộc người lao động có hành vi vi phạm Nội quy lao động để ra quyết định xử lý luật lao động thì người sử dụng lao động buộc phải có thủ tục trao đổi và ghi nhận vào biên bản cuộc họp những ý kiến của Đại diện Ban chấp hành Công đoàn cơ sở hoặc cấp trên trực tiếp Công đoàn cơ sở.

Thẩm quyền ký quyết định xử lý kỷ luật lao động

Một trong những vấn đề đáng lưu ý nhất là khi có tranh chấp lao động xảy ra, người sử dụng lao động thường thua kiện và chịu tổn thất không nhỏ mặc dù đã tuân thủ đúng mọi trình tự, thủ tục khi xử lý luật lao động đối với người lao động, đó là thẩm quyết ký quyết định xử lý luật lao động.

Hiện nay, pháp luật lao động quy định: “Người giao kết hợp đồng lao động bên phía người sử dụng lao động là người có thẩm quyền ra quyết định xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động”.

Do đó,ngườitrực tiếp giao kết hợp đồng lao động bên phía người sử dụng lao động, bao gồm cả những người được ủy quyền bằng văn bản giao kết hợp đồng lao động đều có thẩm quyền ra quyết định xử lý luật lao động.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  • Bài viết trong lĩnh vực pháp luật lao động được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  • Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

【#10】Khiếu Nại Quyết Định Xử Lý Kỷ Luật Của Người Sử Dụng Lao Động

Xử lý kỷ luật lao động là một trong những cách thức để duy trì nề nếp, trật tự doanh nghiệp. Tuy nhiên, không ít doanh nghiệp đã lạm dụng việc này. Vậy khi bị kỷ luật không thỏa đáng, người lao động muốn khiếu nại quyết định xử lý kỷ luật của người sử dụng lao động thì cần phải làm gì?

Điều 132 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định về quyền của người lao động khi bị xử lý kỷ luật không thỏa đáng, xâm phạm quyền và lợi ích của mình. Theo đó, người lao động được yêu cầu giải quyết theo 2 cơ chế: khiếu nại (theo thủ tục hành chính) và khởi kiện (theo thủ tục tư pháp).

Khiếu nại quyết định xử lý kỷ luật

Theo quy định tại Điều 15 Nghị định 24/2018/NĐ-CP, trước hết, người lao động yêu cầu người sử dụng lao động có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định của mình. Thời hiệu khiếu nại là 180 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định (khoản 1 Điều 7 Nghị định 24/2018/NĐ-CP).

Trường hợp không đồng ý hoặc quá 30 ngày mà người sử dụng lao động không giải quyết thì người lao động được quyền khiếu nại tới Chánh Thanh tra Sở Lao động Thương binh và Xã hội, nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính.

Chánh thanh tra Bộ Lao động Thương binh và xã hội là chủ thể cuối cùng về giải quyết khiếu nại của người lao động theo thủ tục hành chính.

Khởi kiện quyết định xử lý kỷ luật

Trước khi khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết, người lao động phải thực hiện hòa giải tại hòa giải viên lao động, trừ trường hợp bị kỷ luật theo hình thức sa thải.

Trường hợp hoà giải không thành hoặc người sử dụng lao động không thực hiện phương án hòa giải hoặc hết 05 ngày làm việc mà hoà giải viên lao động không hoà giải thì người lao động khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết.

Thời hiệu yêu cầu hòa giải viên lao động thực hiện hòa giải là 06 tháng, và thời hiệu yêu cầu Toà án giải quyết là 01 năm, kể từ ngày nhận ra quyết định xử lý kỷ luật là không thỏa đáng.

Trong khi chờ cơ quan có thẩm quyền giải quyết, người lao động bị xử lý kỷ luật vẫn phải chấp hành quyết định kỷ luật lao động. Tuy nhiên, thực tế, khi kỷ luật lao động bằng hình thức sa thải không đúng, việc người lao động được trở lại làm việc là rất khó khăn.

Khuyến nghị của công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật lao động được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị đây chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.