Nguyên Tắc Áp Dụng Pháp Luật Trong Trường Hợp Các Văn Bản Do Cùng Một Chủ Thể Ban Hành Có Quy Định Khác Nhau Về Cùng Một Vấn Đề

--- Bài mới hơn ---

  • Văn Bản Của Sở Gd&đt An Giang
  • Văn Bản Chỉ Đạo Điều Hành Tỉnh An Giang
  • Văn Bản Chỉ Đạo Điều Hành Tỉnh Hưng Yên
  • Soạn Văn Bài: Ánh Trăng (Nguyễn Duy)
  • Giáo Án Ngữ Văn 9 Tiết 59: Văn Bản: Ánh Trăng (Nguyễn Duy)
  • Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Tóm tắt: Pháp luật ở một số nước, đặc biệt là pháp luật ở các nước theo hệ thống dân luật (Civil law – truyền thống pháp điển hóa) đều quy định nguyên tắc “ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành trước luật chung” . Việc duy trì và kết nối giữa hai nguyên tắc này để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật được các nước áp dụng rất chặt chẽ. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi tập trung phân tích hai nguyên tắc “ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành trước luật chung” và “ưu tiên áp dụng luật được ban hành sau”, từ đó rút ra những gợi mở cho việc sửa đổi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2021.

    Từ khóa: Nguyên tắc áp dụng pháp luật, hiệu lực pháp luật, luật chuyên ngành, văn bản quy phạm pháp luật.

    Abstract: In a number of countries, especially the ones using the civil law, it is often stipulated a principle of “special law repeals general laws (Lex specialis derogat legi generali)” and a principle of “a later law repeals an earlier law (in the case of legal documents issued by the same subject ( L ex posterior derogat legi priori ))”. The maintenance and combination between the two principles to ensure the consistency of the legal system is strictly applied in several countries. Under this article, it is focused on the analysis of the two principles of “special law repeals general laws” and “a later law repeals an earlier law”, thereby on recommendations for amendments of the Law on Promulgation of Legal Documents of 2021.

    Keywords: Principles of law application; legal effectiveness; specific law; legal documents.

    1. Nguyên tắc “ưu tiên áp dụng luật được ban hành sau” và nguyên tắc “ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành trước luật chung” trong áp dụng pháp luật ở một số nước

    (1) Nguyên tắc “ưu tiên áp dụng luật được ban hành sau” là nguyên tắc cơ bản trong áp dụng pháp luật ở các nước theo truyền thống pháp điển hóa (Dân luật), có nguồn gốc từ Luật La Mã ( lex posterior derogat legi priori). Chẳng hạn, Bộ luật Dân sự (BLDS) của Nhật Bản quy định, nguyên tắc ưu tiên áp dụng quy phạm có thời điểm ban hành sau (khi cùng một quan hệ được điều chỉnh bởi hai quy phạm pháp luật có nội dung khác nhau ở trong hai văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý ngang nhau, thì ưu tiên áp dụng quy phạm của văn bản được ban hành sau). Nguyên tắc này được quy định trong hệ thống pháp luật ở nhiều nước, đặc biệt trong pháp luật dân sự và luật điều ước quốc tế, cụ thể:

    – Nhật Bản: nguyên tắc ưu tiên áp dụng quy định của luật chuyên ngành: khi một quan hệ pháp luật được điều chỉnh bởi cả quy định của đạo luật chung và đạo luật chuyên ngành thì ưu tiên áp dụng quy định của luật chuyên ngành. Pháp luật Nhật Bản coi đối tượng điều chỉnh của các đạo luật là tiêu chí để phân định một luật là luật chuyên ngành hay là luật chung. BLDS được coi là luật chung, các quy định của pháp luật dân sự được coi là các quy định của luật chung, còn các quy định điều chỉnh các quan hệ giữa các chủ thể bình đẳng về địa vị pháp lý (các quan hệ của luật tư) trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội có tính đặc thù như thương mại, bảo hiểm, chứng khoán, ngân hàng, dịch vụ… được coi là các quy định của luật chuyên ngành. Về kỹ thuật lập pháp, luật được coi là luật chuyên ngành phải bao hàm điều khoản quy định, luật này sẽ được ưu tiên áp dụng trước luật chung.

    Luật Thương mại Nhật Bản cũng ghi nhận thứ tự ưu tiên áp dụng quy định của Luật để điều chỉnh các giao dịch kinh doanh, thương mại… trừ khi có quy định ở luật khác. Trường hợp Luật này không quy định, thì áp dụng tập quán thương mại, sau đó là quy định của BLDS.

    – BLDS Trung Quốc, Vương quốc Campuchia “. Tương tự, ở đa số các nước khác, khi giữa các quy định pháp luật được xem xét áp dụng có xung đột, toà án đóng vai trò là cơ quan giải thích và lựa chọn quy phạm để áp dụng.

    3. Nguyên tắc áp dụng pháp luật trong pháp luật Việt Nam

    – Nhật Bản: Pháp luật Nhật Bản quy định nguyên tắc theo thứ tự ưu tiên như sau: (1). Ưu tiên áp dụng quy định của văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn; (2) Ưu tiên áp dụng quy định của luật chuyên ngành trước quy định của luật chung; (3) Ưu tiên áp dụng quy định của văn bản luật ban hành sau.

    Trong hệ thống pháp luật nước ta hiện nay, việc diễn đạt nguyên tắc pháp luật chuyên ngành có ưu thế trước luật chung còn được thể hiện dưới hình thức: “ưu tiên áp dụng pháp luật”. Ví dụ, Luật Đầu tư năm 2014, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP).

    Thứ ba, còn diễn ra tình trạng một số bộ, ngành lạm dụng nguyên tắc “ưu tiên áp dụng pháp luật” để ban hành nhiều quy định đặc thù có lợi cho bộ, ngành, lĩnh vực quản lý của mình, dễ tạo ra nguy cơ hệ thống pháp luật chồng chéo, không thống nhất.

    Thứ tư, hoạt động rà soát, thẩm định, thẩm tra văn bản trong quá trình xây dựng luật còn bất cập dẫn đến một số trường hợp không phát hiện và sửa đổi, bổ sung kịp thời các văn bản mâu thuẫn, chồng chéo Lex specialis derogat legi generali.

    Khoản 3 Điều 30 Công ước Viên năm 1969 về Luật Điều ước quốc tế cũng nghi nhận nguyên tắc này.

    Điều 11 Luật Các quy định chung về pháp luật dân sự năm 2021 của Trung Quốc quy định: Trường hợp các luật khác nhau có quy định riêng về quan hệ dân sự thì quy định riêng được ưu tiên áp dụng”.

    Điều 1 BLDS Vương quốc Campuchia quy định: ” Bộ luật này quy định về các quan hệ pháp luật dân sự cơ bản. Trường hợp, các quan hệ tài sản và quan hệ gia đình không được quy định trong luật chuyên ngành, thì áp dụng quy định của Bộ luật này “.

    Disagreements concerning the continued applicability of law as federal law shall be resolved by the Federal Constitutional Court.

    Article 92 of the Law on Lesgislation.

    Khoản 2 Điều 4 Luật Đầu tư năm 2014 quy định: ” 2. Trường hợp có quy định khác nhau giữa Luật này và luật khác về ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh, ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, trình tự, thủ tục đầu tư thì thực hiện theo quy định của Luật này, trừ trình tự, thủ tục đầu tư kinh doanh theo quy định tại Luật Chứng khoán, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật Dầu khí.”

    Khoản 2 và khoản 3 Điều 4 Dự thảo Luật Đầu tư ( sửa đổi) quy định:

    “2. Trường hợp có quy định khác nhau giữa Luật này và luật khác về ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh hoặc ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện thì thực hiện theo quy định của Luật này.

    (Nguồn tin: Bài viết được đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 07 (407), tháng 04/2020.)

    Xử lý mâu thuẫn trong nguyên tắc áp dụng pháp luật – Nhật An – Báo đại biểu nhân dân 19/3/2020.

    [22] Chẳng hạn: rất nhiều quy định trong Luật Thương mại đã trở nên “lỗi thời” nhưng không hề bị bãi bỏ và đang có tình trạng một số luật và Luật Thương mại quy định khác nhau về cùng một vấn đề.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguyên Tắc Áp Dụng Pháp Luật Hiện Nay Được Quy Định Như Thế Nào ?
  • Nguyên Tắc Áp Dụng Văn Bản Pháp Luật Quy Định Như Thế Nào
  • Các Biện Pháp Xử Lý Văn Bản Pháp Luật Khiếm Khuyết, Thẩm Quyền Và Điều Kiện Áp Dụng
  • Khái Niệm Áp Dụng Pháp Luật? Các Trường Hợp Áp Dụng Pháp Luật?
  • Áp Dụng Văn Bản Pháp Luật Nào Lúc ‘giao Thời’?
  • Hợp Đồng Hành Chính Vô Hiệu Theo Quy Định Của Luật Công

    --- Bài mới hơn ---

  • Hợp Đồng Tín Dụng Vô Hiệu Khi Nào?
  • Hợp Đồng Đặt Cọc Mua Đất Vô Hiệu Trong Trường Hợp Nào?
  • Hợp Đồng Đặt Cọc Vô Hiệu Khi Nào Theo Quy Định Pháp Luật Hiện Hành
  • Giải Quyết Yêu Cầu Tuyên Bố Văn Bản Công Chứng Vô Hiệu
  • Giao Dịch Dân Sự Vô Hiệu Khi Nào?
  • Bài viết: Hợp đồng hành chính vô hiệu theo quy định của luật công

    • Tác giả: Võ Trí Hảo*
    • Nguồn: Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam số 09(94)/2015 – 2021, Trang 57-63

    TÓM TẮT

    ABSTRACT:

    Administrative contract is a special kind of contract. It is an agreement, therefore it must obey most of valid conditions of a civil contract; but it also to bear “public value” because administrative contract is related to public service and somehow related to state power. Therefore, in designing principles to annul an administrative contract, law makes should follow other public law principles beside principle of private contract. These are principles of legal peace, protecting good belief of citizens, ensuring the right to access to justice. Under the influence of the above mentioned principles, there are a lot of exceptional cases in considering the validity of administrative contract in comparison with that of civil contract. These exceptional cases are grouped in intensified exceptions and exempt exceptions.

    TỪ KHÓA:

    1. Những nguyên tắc, giá trị đặc thù khi thiết kế, xem xét hợp đồng hành chính vô hiệu

    1.1. Tính ổn định của trật tự pháp luật

    Việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu sẽ dẫn tới khôi phục lại trật tự ban đầu, hay nói cách khác sẽ diễn ra hiện tượng hồi tố. So với hợp đồng dân sự thương mại, việc khôi phục lại trật tự ban đầu hay hồi tố đối với HĐHC có thể gây ra hậu quả rất lớn, bởi bốn đặc thù:

    – Thứ nhất, HĐHC, đặc biệt là dạng hợp đồng hợp tác công tư (Public – Private Partner hay còn gọi là PPP) thường có thời gian kéo dài 30-50 năm. Vì vậy, khi hồi tố, thì khoảng thời gian giật lùi rất dài, gần bằng ½ đời người sẽ gây ra sự thay đổi rất lớn, thậm chí không có khả năng hồi tố.

    – Thứ ba, HĐHC cũng thường được sử dụng trong lĩnh vực quy hoạch, xây dựng. Cả một khu phố được xây lên căn cứ vào một HĐHC. Nếu muốn tuyên bố vô hiệu và khôi phục lại trật tự ban đầu, có nghĩa cả khu phố phải biến mất. Đây là sự thay đổi ghê gớm và thường gặp sự chống đối của cư dân và phản ứng của công chúng nói chung, khiến các nhà chính trị e ngại. Bởi vậy, họ phải tìm lối thoát, tìm căn cứ cho việc cho phép một HĐHC tuy trái luật, nhưng vẫn có hiệu lực và được phép tiếp tục tồn tại.

    Chính vì những tác động nêu trên, khi thiết kế chế tài tuyên bố vô hiệu đối với HĐHC, nhà làm luật phải tìm được điểm cân bằng giữa một bên là tính ổn định của hoạt động hành chính và một bên là cái giá phải trả khi hồi tố xới tung lên các quan hệ xã hội, trật tự pháp luật đã được thiết lập ổn định hàng chục năm.

    Bởi vậy, nguyên tắc chung là khi xem xét một HĐHC vô hiệu hay không, yếu tố bảo đảm sự ổn định pháp luật (Rechtsicherheit) có sức nặng rất lớn.

    1.2. Quyền tiếp cận công lý khi cho rằng bị cơ quan công quyền xâm phạm lợi ích

    Một yêu cầu của nhà nước pháp quyền là bất kỳ khi nào công dân cho rằng quyền lợi ích của mình đang bị cơ quan công quyền xâm phạm thì họ đều có quyền khởi kiện ra trước tòa án hay nói cách khác quyền tiếp cận tòa án, tiếp cận công lý của công dân phải được bảo đảm. Bởi vậy, khi bên đối tác tư nhân hay bên thứ ba thấy rằng HĐHC (với tư cách là một hình thức quản lý nhà nước) đang ảnh hưởng đến lợi ích của mình, theo yêu cầu nêu trên, họ có quyền khởi kiện HĐHC ra tòa án, trong đó có quyền yêu cầu tuyên bố HĐHC trái luật và vô hiệu. Điều này có nghĩa, nhà lập pháp và tòa án không thể chỉ dựa vào mục tiêu ổn định của trật tự pháp luật, hay chỉ dựa vào quyền tiếp cận công lý để thiết kể giải pháp cho HĐHC; mà họ phải tìm ra điểm cân bằng của hai giá trị xung đột này; và tìm ra giải pháp vừa bảo đảm quyền lợi của người dân, vừa bảo đảm tính ổn định của trật tự pháp luật.

    Thông thường nhà nước sẽ chủ động đứng ra lãnh phần thiệt hại về lợi ích cho một trong hai bên của HĐHC khi xảy ra xung đột giữa quyền tiếp cận công lý và yêu cầu giữ ổn định của trật tự pháp luật dẫn tới tình huống không thể dung hòa.

    1.3. Bảo vệ niềm tin công dân

    Nguyên tắc bảo vệ niềm tin công dân như là hệ quả của một mức phát triển cao của nhà nước pháp quyền khẳng định khía cạnh: luật pháp và việc áp dụng luật pháp phải mang lại kết quả công bằng. Nói cách khác, pháp luật phải phục vụ người dân, khi không đạt được mục đích đó thì việc áp dụng pháp luật không còn ý nghĩa. Nguyên tắc này không phải do các nhà lập pháp nghĩ ra mà là sự phát triển từ bản án E9, 251 của Tòa hành chính tối cao (tiểu bang) Berlin vào tháng 10 năm 1957.

    Thuật ngữ “hợp đồng hành chính phụ thuộc” chỉ loại hợp đồng trong đó một bên có địa vị thượng phong và một bên yếu thế; hay nói cách khác giữa hai bên có mối quan hệ phụ thuộc, quyền lực đàm phán không tương xứng với nhau, mặc dầu tại thời điểm ký kết, hai chủ thể vẫn bắt buộc được công nhận là “cùng một mặt bằng”.

    Bởi vậy, trong trường hợp này, nếu áp dụng các biện pháp bảo vệ bên yếu thế thông thường như đối với hợp đồng dân sự thương mại sẽ không có hiệu quả, mà cần phải yêu cầu cơ quan hành chính tuân thủ nguyên tắc dưới luật, tuân thủ các giá trị công như thể là các bên đang ở trong quan hệ ban hành QĐHC.

    a. Hợp đồng hành chính phụ thuộc vô hiệu khi nội dung của QĐHC tương ứng bị vô hiệu

    HĐHC xuất phát từ QĐHC, dùng để thay thế QĐHC, nên hợp đồng hành chính phụ thuộc có thể bị tuyên bố vô hiệu nếu nội dung của QĐHC tương ứng (quyết định mà HĐHC hướng tới thay thế) bị vô hiệu theo pháp luật hành chính, dù HĐHC đáp ứng đủ các yêu cầu của luật dân sự. Sự vô hiệu có thể xuất hiện khi HĐHC vi phạm các quy định của thủ tục hành chính chung, ví dụ thủ tục ban hành quyết định quản lý nhà nước, hoặc có thể xuất hiện khi vi phạm các quy định của luật hành chính chuyên ngành như quản lý đất đai, môi trường, tài nguyên…

    b. Hợp đồng hành chính phụ thuộc bị vô hiệu khi không tuân thủ đúng hình thức và thủ tục của quyết định hành chính và các bên của hợp đồng hành chính biết điều đó

    Luật dân sự không đặt ra vấn đề các bước ký kết hợp đồng và không đặt ra vấn đề vô hiệu tương ứng. Tuy nhiên, đối với QĐHC thì ngược lại, thủ tục ban hành thường được pháp luật điều chỉnh chặt chẽ. Khi ký kết HĐHC phụ thuộc, các bên phải tuân theo các thủ tục này như khi đang ban hành một QĐHC.

    Mặt khác, đối tác tư nhân khi tham gia hợp đồng thường không có nhiều hiểu biết về thủ tục ban hành QĐHC tương ứng và họ cũng thường quan niệm: đối tác tư nhân không chịu sự ràng buộc của các giá trị công. Bởi vậy, HĐHC phụ thuộc trong trường hợp này chỉ bị tuyên bố vô hiệu khi hai bên đều ý thức được sự vi phạm về thủ tục ký kết nhưng vẫn cố tình.

    2.1.2. Ngoại lệ gia cường đối với hợp đồng bù trừ. Bởi vậy, pháp luật áp dụng chế tài tuyên bố vô hiệu đối với hợp đồng bù trừ giả tạo. Hợp đồng bù trừ giả tạo diễn ra khi lý do dẫn tới bù trừ không có thực, tranh chấp pháp lý không có thực, sự bất định, rủi ro không có thực; hoặc những yếu tố này là có trong thực tế nhưng lại không giống như những nội dung mà HĐHC hướng tới. Sự bịa đặt này có thể nhằm che đậy một QĐHC. Nếu QĐHC bị che đậy là hợp pháp, thì HĐHC bù trừ và giả tạo bị vô hiệu, nhưng nội dung QĐHC mà nó che đậy có thể vẫn có hiệu lực. Nếu bản thân QĐHC bị che đậy là bất hợp pháp, thì HĐHC giả tạo và QĐHC được che đậy đều vô hiệu và HĐHC giả tạo không mang lại một hiệu ứng pháp lý nào. Quy phạm phổ biến thường thấy là “người được đại diện khi có thái độ tạo nên cho bên thứ ba tin tưởng một cách hợp lý rằng người đại diện có quyền hành động vì lợi ích của người được đại diện sẽ không thể viện dẫn bất lợi cho bên thứ ba về việc người đại diện không có đủ thẩm quyền, vì vậy, bị ràng buộc bởi hành vi của người đại diện”. Người thứ ba chỉ có thể viện dẫn học thuyết “thẩm quyền hiển nhiên” và buộc người được đại diện phải chịu sự ràng buộc khi chứng minh được hai điều kiện: một là, người được đại diện đã có lỗi khi tạo ra thẩm quyền đại diện bên ngoài của người đại diện và hai là, người thứ ba hành động một cách thiện chí, ngay tình.

    Như vậy, đối với HĐHC, khi người người ký kết không phải là người đại diện theo pháp luật của cơ quan hành chính, sẽ không tự động dẫn đến vô hiệu như trong hợp đồng dân sự, thương mại.

    2.2.2. Vi phạm điều kiện về tính tự nguyện của cơ quan nhà nước

    Hợp đồng dân sự, thương mại khi vi phạm điều kiện về tính tự nguyện, như có yếu tố nhầm lẫn, đe dọa sẽ bị coi là vô hiệu. Trong HĐHC, nếu bên đối tác tư nhân không được bảo đảm tính tự nguyện, bị nhầm lẫn, đe dọa, thì HĐHC sẽ bị tuyên bố vô hiệu theo yêu cầu của đương sự. Tuy nhiên, tính tự nguyện của đối tác cơ quan nhà nước được mặc nhiên suy đoán. Bên đại diện cho quyền lực nhà nước tham gia HĐHC, là bên nhân danh quyền lực nhà nước sẽ không được nại ra lý do bị đe dọa, nhầm lẫn để yêu cầu hủy bỏ HĐHC. Bởi, cơ quan đại diện cho quyền lực nhà nước, nhân danh quyền lực nhà nước bảo vệ người dân chống lại mọi sự đe dọa trái pháp luật, thì chính họ sẽ mất đặc quyền này. Nói cách khác, nếu vì sự tắc trách của công chức, mà có thể diễn ra sự nhầm lẫn, hay không có tính tự nguyện từ cơ quan nhà nước, thì HĐHC vẫn có hiệu lực, đặc biệt đối với HĐHC nhằm hướng tới trợ cấp xã hội, cứu đói – người dân đã tiêu hết tiền, ăn hết gạo, thì không thể tuyên HĐHC vô hiệu để đòi lại gạo tiền được, mà buộc phải chấp nhận HĐHC có hiệu lực, mặc cho có tì vết về ý chí từ phía cơ quan nhà nước.

    2.2.3. Vi phạm điều kiện hình thức hợp đồng, HĐHC vẫn có thể có hiệu lực

    Trong một số vụ án, những cam kết của cơ quan nhà nước không được văn bản hóa, không thỏa mãn điều kiện hình thức của HĐHC. Tuy nhiên, cuối cùng, cam kết đó được tòa án thừa nhận hiệu lực pháp lý và bảo đảm thực thi bởi nguyên tắc nhà nước pháp quyền và nguyên tắc bảo vệ niềm tin công dân.

    Kết luận

    CHÚ THÍCH

    Tiếng Đức gọi là Subordinationsrechtliche Vertraege. Tiếng Anh gọi là Subordination contracts.

    Trong khi HĐHC ngang hàng không cần thiết phải bảo vệ mức cao như vậy.

    Matthias Werner, sđd, 2008, tr. 94.

    Matthias Werner, sđd, 2008, tr. 95.

    Matthias Werner, sđd, 2008, tr. 96.

    Matthias Werner, sđd, 2008, tr. 97.

    Võ Trí Hảo – Hà Thu Thủy, “Nguyên tắc bảo vệ niềm tin công dân trong hệ thống pháp luật Đức”, Tạp chí Nghề luật, 8/2007, số 3, tr. 60 – 64.

    [15] Đáng tiếc, ở Việt Nam, lý luận về nguyên tắc bảo vệ niềm tin, ngoại diên khái niệm HĐHC chưa đủ rộng, dẫn tới phủ nhận giá trị pháp lý của các thỏa thuận được xác lập trong quá trình đối thoại trong giải quyết khiếu nại. Kết cục đã xảy ra những vụ việc đau lòng như vụ án Đoàn Văn Vươn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khi Quyết Định Hành Chính Bị Vô Hiệu Hóa
  • Lỗ Hổng Lớn Trong Quản Lý Xây Dựng Tại
  • Trình Tự Khiếu Nại Quyết Định Hành Chính
  • Thi Hành Quyết Định Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Có Lập Biên Bản
  • Thủ Tục Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Không Lập Biên Bản
  • Ban Hành Văn Bản Quy Định Chi Tiết Luật, Nghị Quyết Của Quốc Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghị Quyết Của Quốc Hội Là Luật, Không Thi Hành Là Mất Chức
  • Bảo Đảm Vị Trí, Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Quốc Hội Về Quyết Định Chính Sách Dân Tộc
  • Hội Nghị Triển Khai Nghị Quyết Của Quốc Hội Phê Duyệt Đề Án Tổng Thể Phát Triển Kinh Tế
  • Nghị Quyết Của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội Về Việc Sắp Xếp Các Đơn Vị Hành Chính Ở Hai Tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi
  • Phát Huy Vai Trò Của Nhân Dân Trong Thực Hiện Nghị Quyết 54 Của Quốc Hội
  • Phó Vụ trưởng Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp THS. TRẦN VIỆT ĐỨC Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp.

    Tóm tắt: Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2021 (Luật năm 2021), việc giao và ban hành văn bản quy định chi tiết được thực hiện bởi nhiều chủ thể với nhiều hình thức văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) khác nhau. Trong đó, Quốc hội là một trong những chủ thể có thẩm quyền giao quy định chi tiết. Thực tiễn cho thấy, việc giao quy định chi tiết trong luật, nghị quyết của Quốc hội và việc ban hành văn bản quy định chi tiết của các chủ thể được Quốc hội ủy quyền vẫn còn một số hạn chế, bất cập cần được tiếp tục hoàn thiện.

    Từ khóa: ủy quyền lập pháp, lập pháp ủy quyền, văn bản quy định chi tiết.

    Abstract: According to the provisions of the Law on Promulgation of Legal Documents of 2021, the developments and issuance of detailed regulations are made by several authorized bodies with different modalities of the legal normative documents. In particular, the National Assembly is one of the authorized bodies, that possesses the authority to assign other entities to provide the detailed regulations. The practical performance shows that the assigned authority to provides the detailed provisions in laws, resolutions of the National Assembly and the issuance of detailed regulations by the bodies authorized by the National Assembly still have a number of drawbacks and shortcomings that need to be reviewed for further improvements.

    Keywords: legislative authorization, authorised legislation, detailed legal documents.

    1. Khái niệm ủy quyền lập pháp và các trường hợp được coi là ủy quyền lập pháp ở Việt Nam

    Khái niệm ủy quyền lập pháp (legislative delegation) được hiểu phổ biến hiện nay, là việc cơ quan lập pháp của quốc gia ủy quyền, hay nói cách khác là cho phép một chủ thể khác ở bên trong hoặc bên ngoài bộ máy nhà nước được ban hành pháp luật, dưới hình thức VBQPPL. Pháp luật được ban hành theo cách thức ủy quyền lập pháp cũng có hiệu lực bắt buộc đối với các chủ thể chịu tác động giống như (mặc dù không phải là ngang bằng), với pháp luật do cơ quan lập pháp ban hành; điều đó có nghĩa là pháp luật được ban hành theo ủy quyền lập pháp cũng có thể chứa đựng các nghĩa vụ hay hạn chế pháp lý buộc các chủ thể mà trước tiên là người dân phải thực hiện và việc không thực hiện hoặc thực hiện sai có thể đem lại hậu quả pháp lý bất lợi do cơ quan tư pháp áp dụng.

    Ở một số nước trên thế giới, Hiến pháp Cộng hòa Kyrgyzstan (Constitution of the Kyrgyz Republic), Luật lập pháp của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 2000, được sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Legislation Law of the People’s Republic of China (2015 Amendment) .

    Trường hợp thứ hai, Quốc hội giao Chính phủ ban hành nghị định để quy định vấn đề cần thiết thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội (loại nghị định này trước khi ban hành phải được sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội).

    Thực tiễn xây dựng, ban hành VBQPPL tại Việt Nam cho thấy, việc Quốc hội giao cho các cơ quan khác ban hành văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết của Quốc hội đã và đang diễn ra tương đối phổ biến tại hầu hết các văn bản luật, nghị quyết do Quốc hội ban hành. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, việc giao ban hành văn bản quy định chi tiết được thực hiện thiếu sự kiểm soát chặt chẽ cả về nội dung và chủ thể được giao ban hành. Thực trạng này đã phần nào làm giảm vai trò của Quốc hội với chức năng là cơ quan thực hiện quyền lập pháp. Bên cạnh đó, thời gian qua, hoạt động ban hành văn bản quy định chi tiết được thực hiện bởi các cơ quan được Quốc hội ủy quyền cũng còn nhiều hạn chế, bất cập. Do vậy, trong thời gian tới, vấn đề ủy quyền quy định chi tiết luật, nghị quyết của Quốc hội và việc ban hành văn bản quy định chi tiết theo ủy quyền cần được tiếp tục nghiên cứu, đánh giá toàn diện cả về lý luận và thực tiễn.

    2. Ban hành văn bản quy định chi tiết theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2021

    Luật năm 2021, tuy chưa trực tiếp quy định vấn đề ủy quyền lập pháp trong xây dựng pháp luật, nhưng một số quy định của Luật đã thể hiện khá rõ tư tưởng, tinh thần của ủy quyền lập pháp. Những quy định này có thể coi là tiền đề cho việc xem xét, áp dụng ủy quyền lập pháp ở Việt Nam.

    Về việc giao và ban hành văn bản quy định chi tiết, khoản 1 và khoản 2 Điều 11 của Luật năm 2021 quy định:

    (i) Quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 11 đã thể hiện tương đối rõ một số nguyên tắc quan trọng của ủy quyền lập pháp, đó là (1) việc ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội chỉ có thể được thực hiện trong trường hợp được Quốc hội giao; (2) cơ quan được giao quy định chi tiết không được ủy quyền tiếp; (3) văn bản ban hành theo ủy quyền lập pháp chỉ được quy định những nội dung được giao, không được quy định vượt quá phạm vi nội dung được giao trong văn bản ủy quyền lập pháp (văn bản được quy định chi tiết).

    (iii) Về chủ thể thực hiện ủy quyền lập pháp: dù không quy định trực tiếp tại Điều này nhưng căn cứ thẩm quyền, nội dung VBQPPL được quy định tại các Điều 19, 24, 27 và 28 của Luật năm 2021, chúng ta có thể thấy, các chủ thể được giao nhiệm vụ quy định chi tiết gồm: Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, HĐND và UBND cấp tỉnh (trong một số ít trường hợp, một nhóm chủ thể có thẩm quyền ban hành VBQPPL cũng có thể được giao liên tịch ban hành văn bản quy định chi tiết). Về nguyên tắc, cơ quan có thẩm quyền quy định chi tiết phải được xác định rõ ngay tại điều, khoản, điểm có nhu cầu ủy quyền lập pháp. Mỗi nội dung ủy quyền lập pháp chỉ trao cho một chủ thể có thẩm quyền ban hành VBQPPL để thực hiện.

    (iv) Về hình thức ủy quyền lập pháp: (1) việc ủy quyền lập pháp phải được nêu rõ trong luật, bộ luật hoặc nghị quyết của Quốc hội; (2) văn bản để thực hiện ủy quyền lập pháp (văn bản quy định chi tiết) phải được ban hành đúng thẩm quyền và đúng hình thức VBQPPL mà chủ thể nhận ủy quyền lập pháp có thẩm quyền ban hành.

    (v) Về kiểm soát ủy quyền lập pháp: Luật năm 2021 bổ sung quy định ” Dự thảo văn bản quy định chi tiết phải được chuẩn bị và trình đồng thời với dự án luật, pháp lệnh” đồng thời, kế thừa quy định của Luật Luật năm 2008 về việc yêu cầu văn bản quy định chi tiết “phải được ban hành để có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản hoặc điều, khoản, điểm được quy định chi tiết.”. Cùng với đó, việc kiểm soát hiệu lực của văn bản quy định chi tiết khi văn bản được quy định chi tiết hết hiệu lực được quy định rõ tại khoản 4 Điều 154 của Luật năm 2021, theo đó “Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực thì văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết thi hành, văn bản đó cũng đồng thời hết hiệu lực”.

    Do vậy, có thể thấy rằng, tuy chưa xác lập được một cách đầy đủ, rõ ràng cơ chế kiểm soát ủy quyền lập pháp, nhưng xét ở một khía cạnh nào đó, quy định nêu trên đã cho thấy tư tưởng kiểm soát việc ủy quyền ban hành văn bản quy định chi tiết, cụ thể là: kiểm soát nội dung văn bản quy định chi tiết ngay trong quá trình soạn thảo dự án luật, dự thảo nghị quyết (thông qua việc trình đồng thời dự thảo văn bản quy định chi tiết khi trình hồ sơ dự án luật) và kiểm soát thời điểm có hiệu lực và thời điểm hết hiệu lực của văn bản quy định chi tiết (phải có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của luật hoặc điều, khoản, điểm được quy định chi tiết và đồng thời hết hiệu lực khi đạo luật giao quy đinh chi tiết đó hết hiệu lực).

    Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, quy định của Luật năm 2021 về việc giao ban hành và ban hành văn bản quy định chi tiết dưới góc độ ủy quyền lập pháp vẫn còn một điểm bất cập sau:

    Một là, chủ thể được ủy quyền lập pháp còn khá rộng. Theo đó, vẫn còn quá nhiều văn bản có thể được xếp vào nhóm các văn bản ủy quyền lập pháp. Thực tế, việc quá nhiều chủ thể được ủy quyền ban hành văn bản quy định chi tiết là nguyên nhân dẫn đến tình trạng thiếu đồng bộ, khó kiểm soát trong ban hành VBQPPL. Nói cách khác, việc ủy quyền lập pháp cho Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, đặc biệt một số trường hợp ủy quyền cho chính quyền địa phương quy định chi tiết có thể tác động tiêu cực đến tính thống nhất trong tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước.

    Hai là, chưa có giới hạn rõ ràng về phạm vi những vấn đề giao quy định chi tiết. Với quy định Quốc hội có thể ủy quyền “những nội dung khác cần quy định chi tiết” (khoản 1 Điều 11) có thể dẫn đến cách hiểu là bất cứ vấn đề nào thuộc thẩm quyền của Quốc hội, trừ 33 nội dung mà Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định là phải “do luật định”, “theo luật định” hoặc “theo quy định của luật” thì đều có thể được ủy quyền lập pháp. Cách hiểu này sẽ dẫn đến tình trạng tùy tiện của cơ quan lập pháp trong việc xác định nội dung cần giao quy định chi tiết. Đồng thời, việc ủy quyền quá nhiều cho cơ quan hành pháp sẽ làm tăng gánh nặng, sức ép cho các cơ quan này trong việc ban hành văn bản quy định chi tiết. Do vậy, nếu thiếu sự giám sát chặt chẽ, rất có thể các cơ quan nhận ủy quyền lập pháp sẽ thực hiện quyền được trao đó không theo đúng cách thức, mục đích, yêu cầu mà Quốc hội mong muốn.

    Ba là, quy định “văn bản quy định chi tiết phải được chuẩn bị và trình đồng thời với dự án luật” chưa hợp lý vì 02 lý do chính sau đây: (1) trong quá trình soạn thảo dự án luật, nghị quyết của Quốc hội, hầu hết các cơ quan chủ trì soạn thảo mới chỉ dự kiến được những nội dung để đề xuất Quốc hội giao quy định chi tiết, trong khi đó việc quyết định nội dung nào sẽ được giao quy định chi tiết và chủ thể nào có thẩm quyền ban hành văn bản quy định chi tiết lại hoàn toàn do Quốc hội xem xét, quyết định; (2) về lý thuyết và trên thực tế đã xảy ra trường hợp dự án luật, dự thảo nghị quyết do một bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì soạn thảo nhưng trong dự thảo lại có quy định giao cho bộ, cơ quan ngang bộ khác, thậm chí địa phương ban hành văn bản quy định chi tiết. Trong những tình huống như vậy, cơ quan chủ trì soạn thảo sẽ rất khó khăn trong việc chuẩn bị các dự thảo văn bản quy định chi tiết.

    Bốn là, Luật năm 2021 chưa xác định rõ ” văn bản quy định chi tiết” là những văn bản nào. Do vậy, sẽ không dễ dàng để phân biệt rạch ròi giữa nội dung được giao quy định chi tiết với nội dung hướng dẫn thi hành, nhất là khi các nội dung này được quy định “lẫn lộn” trong cùng một văn bản với tên gọi là “nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành …”. Cùng với đó, cách thức thiết kế quy định về ủy quyền ban hành văn bản trong các VBQPPL hiện hành cũng rất khác nhau, như: “Chính phủ hướng dẫn thực hiện quy định này”, “thực hiện theo quy định của Chính phủ”, “quy định cụ thể vấn đề này tại nghị định của Chính phủ”, “Chính phủ quy định cụ thể vấn đề này”...

    3. Thực tiễn việc giao nội dung quy định chi tiết và việc ban hành văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết của Quốc hội

    Thứ nhất, số lượng điều, khoản, điểm được giao quy định chi tiết trong các luật, nghị quyết của Quốc hội thời gian qua vẫn rất lớn.

    Từ ngày 01/7/2016 đến ngày 30/6/2019 (tại các kỳ họp thứ 2, 3, 4, 5, 6 và 7 của Quốc hội khóa XIV) ]; vẫn có trường hợp nội dung giao quy định chi tiết là những vấn đề mới, khó và phức tạp ].

    Bên cạnh đó, qua rà soát một số dự án luật được xây dựng, ban hành theo quy định của Luật năm 2021, về cơ bản, các cơ quan trình dự án luật đã tuân thủ quy định về việc trình đồng thời dự thảo văn bản quy định chi tiết. Tuy nhiên, hầu hết nội dung của dự thảo văn bản quy định chi tiết mới chỉ là ý chí chủ quan của cơ quan chủ trì soạn thảo. Do vậy, một số trường hợp giữa nội dung của dự thảo văn bản quy định chi tiết được trình kèm hồ sơ dự án luật với nội dung của văn bản quy định chi tiết được cơ quan có thẩm quyền ban hành sau khi luật, nghị quyết được Quốc hội xem xét, thông qua còn có sự khác biệt khá lớn.

    Ví dụ: đối với dự án Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, Chính phủ trình kèm hồ sơ dự án Luật 01 nghị định quy định chi tiết (dự thảo gồm 33 Điều) ]; tổng số điều của 04 Nghị định này là 190 Điều Tô Văn Hòa và Nguyễn Hải Ninh (2017), Ủy quyền lập pháp – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, tr. 30, 31.

    Xem Điều 80, https://www.btg-bestellservice.de/pdf/80201000.pdf.

    Xem Điều 6, https://www.legislationline.org/documents/id/16732.

    Hiến pháp năm 2013 chỉ có quy định về việc Quốc hội ủy quyền cho Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh (khoản 2 Điều 74).

    Xem khoản 3 Điều 19 của Luật Ban hành VBQPPL năm 2021.

    ]http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.aspx?ItemID=1241&TabIndex=2&TaiLieuID=2867.

    ] Nghị định 34/2018/NĐ-CP ngày 08/3/2018 của Chính phủ về việc thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ Bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; Nghị định 38/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 của Chính phủ quy định chi tiết về đầu tư cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo; Nghị định 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; Nghị định 39/2019/NĐ-CP ngày 10/5/2019 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.

    [[19]] Lê Thị Thiều Hoa, Đánh giá chung thực trạng ủy quyền lập pháp tại Việt Nam hiện nay, Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về ủy quyền lập pháp tại Việt Nam hiện nay”, Hà Nội (2018).

    (Nguồn tin: Bài viết được đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 22 (398), tháng 11/2019.)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghị Quyết Về Công Tác Tư Pháp: Bổ Sung Chỉ Tiêu Giải Quyết Án Đối Với Hệ Thống Tòa Án
  • Kì Họp Thứ 8, Quốc Hội Khóa Xiv: Xem Xét Thông Qua Nghị Quyết Chung Về Công Tác Tư Pháp
  • Quốc Hội Chuẩn Bị Có Nghị Quyết Riêng Đầu Tiên Về Công Tác Tư Pháp
  • Nghị Quyết Quốc Hội Về Công Tác Tư Pháp
  • Nghị Quyết 96/2019/qh14 Phòng Chống Tội Phạm Và Vi Phạm Pháp Luật Công Tác Của Viện Kiểm Sát
  • Luật Lệ Quanh Ta (57) Luật Lao Động Úc

    --- Bài mới hơn ---

  • Đi Lao Động Ở Úc Hết Bao Nhiêu Tiền? Lao Động Tại Úc Mức Thu Nhập Ra Sao?
  • An Toàn Lao Động Ở Úc, Cách Xử Lý Khi Bị Bóc Lột Lao Động
  • Những Vấn Đề Cơ Bản Cần Biết Về Lao Động Ở Thụy Điển
  • Chính Sách Về Định Cư Thụy Điển Theo Diện Lao Động
  • Chung Về Làm Việc Tại Thụy Điển (Phần 1)
  • Thời gian gần đây,đài ABC thực hiện nhiều phóng sự tiết lộ tình trạng làm việc tồi tệ của nhiều người làm thuê tại các nông trại của Úc. Họ bị so sánh như những nô lệ thời hiện đại, bị bóc lột, phân biệt đối xử, thậm chí hãm hiếp.

    Trái cây mà chúng ta ăn hàng ngày mua tại các siêu thị Coles hay Woolworth đến từ những nông trại thuê mướn các lao động ngoại quốc này.

    Bên cạnh đó, 7 Eleven đứng trước cơn bão công luận khi các ký giả phanh phui một cửa hàng buộc nhân viên phải rút tiền mặt trả cho chủ sau khi nhận lương.

    Đài ABC vừa thực hiện một phóng sự, quay lén cho thấy cảnh nhân viên của một cửa hàng 7 Eleven bị buộc phải rút tiền mặt từ lương của mình ra để trả lại cho chủ nhân.

    Cụ thể, chủ nhân của họ trả lương một cách “hợp pháp” qua tài khoản ngân hàng và” đóng thuế” cho nữ nhân viên này là $21/h lao động. Thế nhưng cô này phải rút tiền ra để trả lại một nửa tiền lương cho chủ. Thực tế, nữ nhân viên này chỉ nhận $11/h mà thôi.

    Bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 năm 2010 các tiểu bang gồm có NSW, Queensland, Nam Úc và Tasmania đã chuyển giao quyền làm luật và giám sát quan hệ lao tư cho chính quyền liên bang. Luật lao động liên bang gọi là Fair Work Act 2009 nay được áp dụng trên toàn quốc.

    Ngoại trừ tại Tây Úc thì Fair Work Act chỉ áp dụng cho công nhân làm việc cho các công ty thương mại vì Hiến Pháp Úc trao quyền giám sát công ty thương mại cho chính quyền liên bang. Công nhân làm việc cho chính quyền tiểu bang hoặc các hội đồng thành phố vẫn tiếp tục nằm dưới đạo luật quan hệ lao tư tại các tiểu bang và lãnh thổ.

    Ngoài ra, một số đạo luật tại các tiểu bang vẫn tiếp tục có tầm ảnh hưởng đến quan hệ lao tư ví dụ như các đạo luật chống kỳ thị tại nơi làm việc, long service leave, bảo hiểm công nhân (workers compensation), hưu bỗng, huấn nghệ, được phép nghỉ làm để thi hành trách nhiệm tham gia bồi thẩm đoàn và các điều lệ an toàn nơi làm việc.

    Dưới Đạo luật liên bang Fair Work Act thì có 3 cơ quan công quyền giám sát quan hệ lao tư: Fair Work Australia (FWA), Fair Work Ombudsman (FWO) và Toà án Liên bang. FWA là cơ quan thay thế các ủy hội quan hệ lao tư (Industrial Relation Commissions) có quyền giải quyết các tranh chấp ví dụ như ấn định số tiền bồi thường khi cho công nhân cho nghỉ việc (redundancy pay).

    FWA cũng có quyền xét xử các vụ kiện sa thải bất công (unfair dismissal) và giám sát để bảo đảm các cuộc đình công nằm trong khuôn khô luật định và nếu cần ra lệnh đình trệ hoặc chấm dứt các cuộc đình công bất hợp pháp. Ngoài ra, FWA cũng có trách nhiệm theo dõi, giám sát và ấn định mức lương tối thiểu (hiện tại là $16.37 một tiếng hoặc $622.20 một tuần cho người lớn).

    FWO là một cơ quan độc lập được hình thành dưới Đạo luật Fair Work Act. Tổ chức này có trách nhiệm cố vấn và cung cấp thông tin về quyền hạn và trách nhiệm của chủ nhân và công nhân dưới luật lao động liên bang. Họ cũng có thể xúc tiến điều tra nếu có người khiếu nại về các trường hợp vi luật và nếu cần tiến hành truy tố phạm nhân hoặc các công ty không tuân thủ luật lao động.

    Là công nhân hay nhà thầu độc lập

    Ngày càng có nhiều công ty muốn biến công nhân của họ thành những nhà thầu độc lập (independent contractor) để bớt tốn kém và tránh né trách nhiệm pháp lý.

    Ví dụ như trong kỹ nghệ xây cất, những người thợ hồ, lót gạch, thợ điện, ống nước…trước đây làm công cho các công ty xây cất thì bây giờ phải thành lập công ty có ABN riêng. Tương tự như vậy, những người lái xe truck cho các công ty giao thông vận tải giờ đều tự làm chủ và gửi hóa đơn tính tiền sau mỗi vụ chuyên chở. Nếu là nhân công thì chủ nhân phải chịu trách nhiệm pháp lý cho họ (vicarious liability).

    Ví dụ như khi họ bất cẩn gây ra tai nạn làm tổn hại đến người khác thì chủ nhân phải chịu trách nhiệm bồi thường. Ngoài ra, thuê mướn người tốn kém nhiều hơn vì chủ nhân phải đóng tiền hưu bỗng, bảo nhiểm công nhân, trả annual leave, sick leave, long service leave…Nếu là nhà thầu độc lập thì chủ nhân không chịu trách nhiệm pháp lý và không phải đóng những số tiền vừa kể.

    Không phải lúc nào cũng dễ dàng phân biệt được giữa công nhân và nhà thầu độc lập. Để trả lời câu hỏi này thì tòa án dựa vào một số tiêu chuẩn gồm có:

    1. Điều khoản hợp đồng giữa hai bên thế nào?
    2. Chủ nhân có kiểm soát tiến trình hoặc công tác làm việc hay không?
    3. Cách thức trả lương thế nào, hàng giờ, hàng tuần hoặc sau khi công việc đã xong?
    4. Chủ nhân có cung cấp dụng cụ để thi hành công tác hay không?
    5. Có mặc đồng phục của công ty không?
    6. Công nhân có thể thuê người làm phụ hoặc thế hay không?
    7. Công nhân có cơ hội kiếm lời hoặc nguy cơ bị lỗ hay không?
    8. Công nhân có quyền nhận thêm việc của người khác hay không?
    9. Ai chịu trách nhiệm đóng bảo hiểm?

    Mỗi trường hợp phụ thuộc vào những yếu tố riêng biệt. Ví dụ như một người lái xe đạp giao hàng (bicycle courier) được trả lương dựa trên số lượng hàng giao nhưng phải mặc đồng phục công ty và tính lệ phí giao hàng theo sự chỉ định của công ty thì được xem là người làm công.

    Trong khi đó,người khác lái xe truck giao hàng nhưng phải tự sắm xe truck và có thể mướn người khác lái giùm thì được coi là nhà thầu độc lập. Một người thợ hồ làm việc cho một công ty xây cất được trả lương dựa theo số ngày làm việc là một công nhân nhưng một người thợ điện vừa làm chỗ này vừa làm chỗ khác và có mướn thêm nhân viên phụ việc thì được coi là nhà thầu độc lập.

    10 tiêu chuẩn lao động

    Đạo luật FairWork Act 2009 đặt ra 10 tiểu chuẩn lao động được áp dụng trên toàn quốc. Thứ nhất, thời gian làm việc của công nhân toàn thời tối đa là 38 tiếng một tuần nhưng chủ nhân có thể yêu câu làm overtime một cách vừa phải và hợp lý. Công nhân nào đã làm việc trên 12 tháng và có con nhỏ thì có thể xin chủ nhân cho phép làm việc trong giờ giấc thuận tiện (flexible working hours).

    Nói về quyền lợi lao động thì thông thường không có sự phân biệt giữa công nhân làm việc toàn thời và bán thời ngoại trừ công nhân bán thời thì được hưởng theo tỷ lệ. Riêng công nhân làm việc bất thường (casual employees) thì không được hưởng những quyền lợi nêu trên.Để bù lại, luật pháp ấn định họ được trả thêm tiền phụ trội (casual loading) khoảng 25%.

    Trong thời gian gần đây thì có sự xuất hiện của các công ty chuyên cung cấp công nhân (labour hire agency). Chủ nhân không có trách nhiệm trực tiếp với công nhân ngoại trừ trách nhiệm bảo đảm an toàn nơi làm việc. Mối quan hệgiữa labour hire agency và công nhân có thể là chủ nhân/ công nhân hoặc có thể là independent contractor. Đa số labour hire agency đều thuê mướn công nhân dưới dạng bất thường để tránh né trách nhiệm và giảm thiểu chi phí tốn kém.

    Sa thải bất công

    Bất cứ ai khi bị đuổi việc đều có quyền đệ đơn khiếu kiện nếu họ cho rằng đã bị sa thải bất công. Thời hạn làm việc của họ phải hội đủ tiêu chuẩn tức là trên 12 tháng nếu chủ nhân là tiểu thương và 6 tháng trong mọi trường hợp khác.Tiểu thương được định nghĩa là các doanh nghiệp có không quá 15 công nhân bao gồm cả công nhân làm việc bán thời và bất thường. Luật sa thải bất công chỉ áp dụng cho công nhân có mức lương dưới mức lợi tức cao (high income threshold) hiện tại khoảng $130,000.

    Để quyết định là sự sa thải có bất công hay không thì FWA cứu xét những yếu tố gồm có:

    1. Có lý do chính đáng để sa thải công nhân hay không ví dụ như đương sự có tạo xáo trộn hay làm ảnh hưởng đến môi trường làm việc an toàn của những công nhân khác hay không?
    2. Công nhân bị sa thải có được thông báo trước hay không?
    3. Công nhân có cơ hội giải thích hoặc trả lời lý do bị sa thải hay không?
    4. Nếu quyết định sa thải dựa trên tiêu chuẩn hoặc hiệu quả việc làm thì công nhân có được cảnh báo trước hay chưa?

    Quyết định sa thải sẽ được chấp nhận nếu dựa trên những dữ kiện và bằng chứng rõ ràng chớ không phải là những thành kiến hoặc có yếu tố kỳ thị. Trừ khi công nhân có những hành vi sai trái nghiêm trọng thì FWA cho rằng họ nên được có cơ hội sửa đổi.

    Đối với các công nhân người Việt nam thì đôi khi cũng bị một số thiệt thòi trước hết là ngôn ngữ.Hoặc có lúc gặp phải một người foreman, supervisor hoặc manager có máu kỳ thị.Tuy là luật pháp ấn định một số biện pháp bảo vệ nhưng nếu mướn luật sư để kiện ra tòa thì không tránh được tốn kém về thời gian, tiền bạc và ảnh hưởng không ít đến đời sống hàng ngày. Nếu công nhân gia nhập làm thành viên của nghiệp đoàn thì sẽ có lợi vì nghiệp đoàn có thể đứng ra đại diện và can thiệp. Khi gặp trở ngại nơi làm việc, công nhân nên tránh có những phản ứng nóng nảy có thể dẫn đến hậu quả không tốt hoặc bị sa thải mà hãy tìm đến sự giúp đỡ của những cơ quan như nghiệp đoàn hoặc Fair Work Ombudsman để không bị đối xử bất công và trái luật tại nơi làm việc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nơi Nhận Bảo Hiểm Xã Hội Ở Mỹ Đức Theo Quy Định
  • Đức Sửa Đổi Luật, Người Lao Động Có Thu Nhập Cao Sẽ Dễ Bị Sa Thải Hơn
  • Luật Nhập Cư Lao Động Lành Nghề Của Đức: Cơ Hội Cho Lao Động Việt Nam (Kỳ Cuối)
  • Đức Sửa Đổi Luật Lao Động Giúp Người Sử Dụng Lao Động Dễ Sa Thải Nhân Viên Hơn
  • Cách Tính Thuế Dành Cho Người Lao Động Ở Đức
  • Những Luật Lệ Mới Ở Canada Có Hiệu Lực Trong Năm 2021

    --- Bài mới hơn ---

  • Canada Ban Hành Luật Mới Về Visa Thăm Thân Người Việt Được Ở Lại 3
  • Mỹ: Gia Đình Tung Video Gây Sốc Cảnh Sát Bắn Chết Người Da Màu Ở Charlotte
  • Quy Trình Mua Nhà Ở Calgary Canada Mà Mọi Người Cần Biết
  • Quy Trình Đào Tạo Luật Tại Pháp Và Đức
  • Đào Tạo Luật Và Nghề Luật Ở Cộng Hòa Liên Bang Đức
  • TOÀN CANADA

    Thay đổi về thuế liên bang

    Mức khấu trừ cá nhân cơ bản (tức là mức thu nhập mà hầu hết người Canada có thể kiếm được miễn thuế) sẽ tăng vào ngày 1/1, lên tới $13229. Mức thu nhập miễn thuế này sẽ được tăng dần trong hơn bốn năm cho tới khi lên tới $15000 vào năm 2023.

    Cũng bắt đầu từ ngày 1/1, phí bảo hiểm thất nghiệp (EI) cho người lao động sẽ giảm nhẹ. Mức đóng góp EI hàng năm tối đa cho một người lao động sẽ giảm $3.86 xuống còn $856.36 và đóng góp tối đa của hãng sở sẽ giảm $5.41 xuống còn $1,198.90 mỗi nhân viên.

    Dịch vụ viễn thông và Internet

    Một bộ quy tắc ứng xử của Ủy ban Phát thanh Truyền hình Canada (CRTC) dành cho các hãng cung cấp dịch vụ Internet, như Bell và Rogers, bắt buộc phải có các hợp đồng và chính sách dễ hiểu hơn, thông tin rõ ràng hơn về giá, ‘bảo vệ chống sốc hóa đơn’ thông qua các thông báo và các quy tắc về hủy bỏ hợp đồng thân thiện với người tiêu dùng hơn. Bộ quy tắc này có hiệu lực từ ngày 30/1/2020.

    Thay đổi Đạo luật Ly hôn

    Những thay đổi này bao gồm các tiêu chí được cập nhật để xác định lợi ích tốt nhất cho con trong các trường hợp phân định quyền nuôi con, cũng như các biện pháp xử lý bạo lực gia đình khi sắp xếp việc nuôi dạy con cái.

    Đạo luật Ly hôn áp dụng cho các cặp vợ chồng đang làm thủ tục ly hôn, trong khi luật của các tỉnh bang và lãnh thổ áp dụng cho tất cả các trường hợp chia tay khác của các cặp vợ chồng, bao gồm cả những trường hợp chia tay của các cặp chưa kết hôn và các cặp sống chung theo thông luật (common-law couple).

    Thay đổi luật xây dựng

    Những thay đổi về Bộ luật Xây dựng Quốc gia Canada cho phép các công ty xây dựng và kinh doanh địa ốc được xây các tòa nhà bằng gỗ có chiều cao tối đa 12 tầng. Các quy định mới tăng gấp đôi chiều cao cho các tòa nhà có cấu trúc chịu tải chính được cấu tạo từ gỗ cứng đặc hoặc gỗ chế biến kỹ thuật.

    Theo những thay đổi có hiệu lực từ ngày 1/6/2020, những tổ chức giao dịch tiền ảo phải đăng ký với chính phủ liên bang và đáp ứng các yêu cầu về danh tánh khách hàng, lưu giữ hồ sơ và báo cáo giống như các tổ chức tài chính, hội tín dụng, sòng bạc và các tổ chức khác.

    Trả công đẻ mướn và hiến tặng trứng, tinh trùng

    Đạo luật tu chính Đạo luật Sinh sản của Con người có Hỗ trợ, có hiệu lực từ ngày 9/6/2020, có các quy định rõ ràng về mức thù lao cho người đẻ mướn và những người hiến tặng trứng và tinh trùng, trong đó có tiền đi lại, ăn ở, chăm sóc những người phụ thuộc hoặc vật nuôi và các khoản khác. Luật trước đây, được ban hành năm 2004, đã không định nghĩa các khoản chi tiêu hợp pháp và bất hợp pháp.

    Cải tổ hệ thống phúc lợi trẻ em người bản địa

    Đạo luật Tôn trọng Trẻ em, Thanh thiếu niên và Gia đình Người Bản địa sẽ có hiệu lực trọn vẹn vào ngày 1/1/2020. Luật này nhằm mục đích cải tổ hệ thống phúc lợi trẻ em người bản địa của Canada. Hệ thống này đã bị phê bình trong nhiều năm qua là không phù hợp và kỳ thị.

    Những thay đổi về luật này đã được hình thành với góp ý của Hội đồng Các Bộ tộc Người bản địa (AFN) và các chuyên gia trên toàn Canada, và AFN nói rằng các quy định mới là “nhất quán” với Tuyên ngôn của Liên Hợp Quốc về Quyền của Người bản địa.

    BRITISH COLUMBIA

    Tăng lương tối thiểu

    Từ ngày 1/6/2020, mức lương tối thiểu ở tỉnh bang này sẽ tăng lên tới $14.60 mỗi giờ, từ mức hiện tại là $13.85. Vào tháng 6/2021, mức lương tối thiểu dự kiến ​​sẽ tăng lên tới $15.20 mỗi giờ.

    Không còn phí bảo hiểm y tế

    B.C. xóa bỏ phí bảo hiểm y tế cho cư dân của tỉnh bang kể từ ngày 1/1. Chính phủ cho biết việc bỏ phí bảo hiểm của Chương trình Dịch vụ Y khoa (Medical Service Plan) sẽ tiết kiệm cho cá nhân tới $900 và gia đình tới $1800 mỗi năm.

    Chương trình Đầu tư Định cư British Columbia BC

    Quy định mới về hút thuốc điện tử (vaping)

    Tỉnh bang này sẽ ban hành những quy định nghiêm ngặt hơn về bán và quảng bá các sản phẩm hút thuốc điện tử do ngày càng có nhiều lo ngại về ảnh hưởng của hút thuốc điện tử đối với sức khỏe.

    Trong số các quy định mới: thuế mua bán hàng hóa dịch vụ (sales tax) của tỉnh bang đối với các sản phẩm hút thuốc điện tử sẽ tăng đáng kể vào ngày 1/1, từ 7% lên tới 20%.

    Minh bạch về chủ sở hữu doanh nghiệp và chủ đất

    Các thay đổi về Đạo luật Doanh nghiệp bắt buộc hồ sơ minh bạc về doanh nghiệp phải bao gồm tên hợp pháp, quốc tịch và địa chỉ của các chủ sở hữu trực tiếp và gián tiếp của doanh nghiệp, thay vì chỉ nêu tên cho một công ty được đánh số. Đạo luật Minh bạch Chủ sở hữu Đất bắt buộc công khai tất cả các hồ sơ.

    ALBERTA

    Thuế carbon mới

    Chính phủ liên bang sẽ bắt đầu đánh thuế carbon liên bang đối với Alberta vào ngày 1/1. Người Alberta sẽ đóng $20 mỗi tấn CO2 cho tới tháng 4/2020, và khi đó thuế này sẽ tăng lên tới $30 mỗi tấn.

    Như vậy nay người Alberta sẽ đủ điều kiện được hoàn thuế carbon khi họ làm hồ sơ khai thuế thu nhập. Các mức hoàn thuế sẽ như sau:

    Người thành niên độc thân hoặc người thành niên đầu tiên trong một cặp vợ chồng: $444

    Người thành niên thứ hai trong một cặp vợ chồng hoặc con đầu của một người cha/mẹ đơn thân: $222

    Mỗi trẻ em dưới 18 tuổi: $111

    Mức chuẩn cho một gia đình bốn người: $888

    Những thay đổi về phân chia tài sản theo luật gia đình

    Vào ngày 1/1, một số thay đổi về luật gia đình của tỉnh bang sẽ tạo điều kiện dễ dàng hơn cho những người sống chung nhưng không kết hôn phân chia tài sản của họ hơn nếu họ chia tay.

    Đạo luật Tài sản Hôn nhân được tu chính để áp dụng cho cả “những người thành niên sống chung phụ thuộc lẫn nhau” lẫn những cặp kết hôn hợp pháp. Những thay đổi khác về Đạo luật này còn có việc làm rõ các quy tắc phân chia tài sản và khi nào các cặp có thể ký các thỏa thuận sở hữu tài sản và phân chia tài sản.

    Tuổi nhập học mẫu giáo

    Đạo luật Tu chính Giáo dục của Alberta, có hiệu lực từ ngày 1/9/2020, chuẩn hóa độ tuổi nhập học cho học sinh mẫu giáo trên toàn tỉnh bang. Trẻ em phải được 5 tuổi trước ngày 31/12. Đạo luật cũng cho phép các hội đồng học khu cung cấp các chương trình thay thế bên ngoài ranh giới địa lý của họ.

    Đạo luật bảo vệ học sinh bị các dị ứng nguy hiểm tính mạng

    Các hội đồng học khu phải thiết lập các chính sách sốc phản vệ để giảm rủi ro, truyền đạt thông tin cho học sinh và phụ huynh, huấn luyện nhân viên và lập hồ sơ về các học sinh bị sốc phản vệ, cùng nhiều nhiệm vụ khác. Trường học phải có sẵn bút tiêm EpiPen tại chỗ.

    Bảo hiểm lao động ở trang trại

    Theo những thay đổi về Đạo luật An toàn và Tự do Trang trại có hiệu lực từ ngày 30/1/2020, các Trang trại có ít hơn năm nhân viên không còn cần phải có bảo hiểm lao động. Những nơi cần bảo hiểm hiện có thể chọn giữa Hội đồng Bảo hiểm Lao động của tỉnh bang hoặc một hãng bảo hiểm tư nhân.

    SASKATCHEWAN

    Phạt nặng hành vi lái xe phân tâm

    Bắt đầu từ ngày 1/2/2020, tỉnh bang sẽ tăng đáng kể các mức phạt cho hành vi lái xe phân tâm (distracted driving).

    Mức phạt cho người vi phạm lần đầu sẽ tăng hơn gấp đôi, từ mức hiện tại $280 lên tới $580. Tài xế bị phán quyết có tội cũng sẽ bị trừ bốn điểm bằng lái.

    Lần vi phạm lái xe phân tâm thứ nhì trong cùng một năm sẽ bị phạt $1400, bị trừ bốn điểm bằng lái và ngay lập tức bị giam xe trong một tuần. Lần vi phạm lần thứ ba trong cùng năm sẽ khiến bị phạt $2100.

    Thay đổi về các mức hoàn thuế carbon liên bang

    Chính phủ liên bang đã điều chỉnh các mức hoàn thuế carbon cho cư dân của các tỉnh bang không áp dụng mô hình định giá carbon riêng của tỉnh bang. Đối với Saskatchewan, các mức hoàn thuế carbon cho năm 2021 (mà cư dân phải xin hưởng trong hồ sơ khai thuế thu nhập năm 2021), như sau:

    • Người thành niên độc thân hoặc người thành niên đầu tiên trong một cặp vợ chồng: $405
    • Người thành niên thứ hai trong một cặp vợ chồng hoặc con đầu của một người cha/mẹ đơn thân: $202
    • Mỗi trẻ em dưới 18 tuổi: $101
    • Mức chuẩn cho một gia đình bốn người: $809

    MANITOBA

    Thay đổi về các mức hoàn thuế carbon liên bang

    Đối với cư dân Manitoba, các mức hoàn thuế carbon cho năm 2021 (mà cư dân phải xin hưởng trong hồ sơ khai thuế thu nhập năm 2021), như sau:

    • Người thành niên độc thân hoặc người thành niên đầu tiên trong một cặp vợ chồng: $243
    • Người thành niên thứ hai trong một cặp vợ chồng hoặc con đầu của một người cha/mẹ đơn thân: $121
    • Mỗi trẻ em dưới 18 tuổi: $61
    • Mức chuẩn cho một gia đình bốn người: $486

    ONTARIO

    Chấm dứt bao bảo hiểm cho chi phí y tế ở nước ngoài

    Từ ngày 1/1, chính quyền Ontario không còn bao bảo hiểm cho chi phí y tế phát sinh ở nước ngoài. Như vậy có nghĩa là cư dân Ontario bị bệnh khi đi nước ngoài không còn được hưởng khoản bao bảo hiểm tối đa $400/ngày cho dịch vụ cấp cứu nội trú và tối đa $50/ngày cho các dịch vụ cấp cứu ngoại trú (như MRI hoặc chụp CAT) mà từ trước tới nay được OHIP bao.

    Chính quyền tỉnh bang đã biện hộ cho quyết định của mình với lý do là mức bao bảo hiểm của OHIP là quá ít ỏi và không hữu hiệu, do chi phí chăm sóc y khoa ở nước ngoài cao – nhất là ở Mỹ – mà thường cần phải có bảo hiểm du lịch tư nhân.

    Hiệp hội Người Canada đi xa tránh tuyết (Canadian Snowbird Association) đang kiện quyết định này của chính quyền tỉnh bang.

    Cho phép dùng e-scooter (xe tay ga mini chạy điện)

    Trong một chương trình thí điểm năm năm, chính quyền Ontario sẽ để các thành phố / thị trấn tự quyết định có cho phép e-scooter (xe tay ga mini chạy điện) lưu thông trên đường sá của địa phương hay không.

    Hiện nay e-scooter chỉ được phép chạy trong khuôn viên tài sản tư nhân ở Ontario.

    Chương trình thí điểm bắt đầu vào ngày 1/1. Người lái e-scooter phải ít nhất 16 tuổi và phải đội mũ bảo hiểm.

    Chính quyền tỉnh bang vẫn sẽ cho phép quảng bá sản phẩm hút thuốc điện tử trong các cửa hàng chuyên biệt và cửa hàng cần sa, chỉ dành cho những người từ 19 tuổi trở lên.

    Cho phép dẫn chó vào khu phục vụ ngoài trời của nhà hàng

    Bắt đầu từ ngày 1/1, Ontario sẽ cho các nhà hàng và quán bar được chọn có cho phép khách dẫn chó vào khu phục vụ ngoài trời (patio), nơi phục vụ các loại thực phẩm “có nguy cơ thấp” (như đồ ăn nhẹ đóng gói và bia). Động thái này nằm trong những thay đổi được đưa ra trong Luật 132, còn được gọi là Đạo luật Tốt hơn cho Người dân, Thông minh hơn cho Kinh doanh.

    Thay đổi về các mức hoàn thuế carbon liên bang

    Đối với cư dân Ontario, các mức hoàn thuế carbon cho năm 2021 (mà cư dân phải xin hưởng trong hồ sơ khai thuế thu nhập năm 2021), như sau:

    • Người thành niên độc thân hoặc người thành niên đầu tiên trong một cặp vợ chồng: $224
    • Người thành niên thứ hai trong một cặp vợ chồng hoặc con đầu của một người cha/mẹ đơn thân: $112
    • Mỗi trẻ em dưới 18 tuổi: $56
    • Mức chuẩn cho một gia đình bốn người: $448

    QUEBEC

    Tuổi hợp pháp được dùng cần sa

    Kể từ ngày 1/1, độ tuổi hợp pháp tối thiểu để sở hữu hoặc mua cần sa ở Quebec sẽ được nâng lên tới 21. Đây là độ tuổi hợp pháp cao nhất để mua cần sa ở Canada, so với độ tuổi hợp pháp là 19 ở phần lớn các tỉnh bang của Canada.

    “Bài kiểm tra giá trị” dành cho di dân

    Bắt đầu từ ngày 1/1, di dân kinh tế muốn định cư tại Quebec sẽ phải thi đậu “bài kiểm tra giá trị” của tỉnh bang. Bài kiểm tra gây tranh cãi sẽ bao gồm các câu hỏi về tinh thần thế tục ở Quebec, các biểu tượng tôn giáo, hôn nhân đồng giới và các quyền giới tính.

    Bài kiểm tra sẽ không áp dụng cho di dân là người tị nạn hoặc tới Canada thông qua các chương trình đoàn tụ gia đình, vì những người đó thuộc thẩm quyền tài phán của chính phủ liên bang.

    Thay đổi về Đạo luật Tiêu chuẩn Lao động

    Các hãng giới thiệu việc làm và tuyển dụng lao động nước ngoài tạm thời từ ngày 1/1/2020 phải có giấy phép hoạt động và phải bảo đảm người lao động có đầy đủ giấy tờ cần thiết. Cùng với các yêu cầu khác, các hãng này phải trả lương cho người lao động không thấp hơn mức lương của người lao động tại công ty thân chủ.

    NEW BRUNSWICK

    Chấm dứt kiểm định xe hàng năm

    Kể từ ngày 1/1, tỉnh bang này sẽ không còn bắt buộc người lái xe đem xe cá nhân của họ đi kiểm định hàng năm. Từ nay, xe bắt buộc phải được kiểm định hai năm một lần. Chi phí kiểm định một chiếc xe cũng sẽ tăng từ $35 lên tới $45.

    NOVA SCOTIA

    Thay đổi về trợ cấp hỗ trợ thu nhập

    Vào ngày 1/1, tỉnh bang áp dụng các thay đổi để tăng số tiền được hưởng của những người ăn trợ cấp hỗ trợ thu nhập. Mức tăng sẽ từ 2% tới 5%, tùy thuộc vào hoàn cảnh sống và số người trong gia đình của người hưởng trợ cấp.

    Thay đổi này là kết quả của “Mức Hộ gia đình Tiêu chuẩn” mới, thay thế các khoản trợ cấp cá nhân và nơi ở cho những người hưởng trợ cấp hỗ trợ thu nhập.

    Cấm túi nylon

    Nova Scotia nằm trong nhóm các tỉnh bang sẽ cấm hầu hết các túi nylon sử dụng một lần tại quầy tính tiền ở cửa hàng vào mùa thu năm 2021. Những nơi bán lẻ vẫn sẽ được phép sử dụng túi nylon cho cá sống và các mặt hàng số lượng lớn, và cũng sẽ có các trường hợp miễn trừ cho những nơi phát chẩn thực phẩm và tổ chức từ thiện.

    Lệnh cấm này sẽ có hiệu lực vào ngày 30/10/2020.

    Cấm sản phẩm hút thuốc điện tử có hương vị

    Nova Scotia trước đây đã tuyên bố sẽ là tỉnh bang đầu tiên cấm sản phẩm hút thuốc điện tử có hương vị và dung dịch vaping. Lệnh cấm này nằm trong những thay đổi luật lệ có hiệu lực từ ngày 1/4/2020.

    NEWFOUNDLAND AND LABRADOR

    Thay đổi về bảo hiểm xe

    Đạo luật tu chính Đạo luật Bảo hiểm Xe cho phép giảm phí bảo hiểm cho xe có gắn lốp xe mùa đông, cho phép các hãng bảo hiểm lắp đặt công nghệ có thể theo dõi thói quen lái xe, và các khoản khấu trừ (deductible) cho các trường hợp đau được tăng gấp đôi từ $2500 lên tới $5000.

    Cấm túi nylon

    Cũng như Nova Scotia và Prince Edward Island, tỉnh bang này sẽ cấm dùng túi nylon trong hoạt động bán lẻ. Mặc dù chưa ấn định ngày chính xác để thực thi lệnh cấm này, chính quyền tỉnh bang nói rằng, vào giữa năm 2021, khách hàng nên mang túi có thể tái sử dụng của mình khi đi mua sắm tại siêu thị và các cửa hàng bán lẻ khác.

    Quy định mới về xử lý vấn đề quấy rối ở nơi làm việc

    Các quy định mở rộng của tỉnh bang về vấn đề quấy rối ở nơi làm việc có hiệu lực vào ngày 1/1. Những thay đổi này bao gồm các quy định mới về huấn luyện cho hãng sở và người lao động, cũng như “một cách thức an toàn và bí mật” để người lao động nộp đơn khiếu kiện về các vụ quấy rối.

    Tổng hợp từ The Canadian Press, CTV, Maclean’s, 3/1/2020. Theo Canada Info.

    American Plus Group

    Tư vấn Mua bán nhà bên Mỹ & Định cư Mỹ – Canada – Châu Âu

    Liên hệ: Tầng 18.09, Tòa nhà OT2 – Sài Gòn Royal, 34 – 35 Bến Vân Đồn, Phường 12, Quận 4

    Hotline: 091 390 4477 – 094 806 4444

    Fanpage: facebook.com/muanhamy.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Luật Lệ Mới Có Hiệu Lực Ở Canada Trong Năm 2021
  • Các Chương Trình Cử Nhân Luật Về Nghiên Cứu Pháp Luật Ở Toronto Ở Canada
  • Hệ Thống Chính Trị Và Pháp Luật
  • Theo Học Luật Ở Canada 2021
  • Tham Quan Little Saigon Ở Cabram Atta
  • Luật Mới California Ảnh Hưởng Đến Nghề Nail Của Người Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Tham Quan Little Saigon Ở Cabram Atta
  • Theo Học Luật Ở Canada 2021
  • Hệ Thống Chính Trị Và Pháp Luật
  • Các Chương Trình Cử Nhân Luật Về Nghiên Cứu Pháp Luật Ở Toronto Ở Canada
  • Một Số Luật Lệ Mới Có Hiệu Lực Ở Canada Trong Năm 2021
  • Hôm 11 Tháng Chín, 2021, Quốc Hội tiểu bang California thông qua một đạo luật bắt các công ty như Uber và Lyft phải coi những người tài xế tham gia thương vụ của hãng như những công nhân chứ không như những “cộng tác viên” làm khoán nữa.

    Quốc Hội California muốn bênh vực những người lao động phục vụ trên thị trường thường được gọi là “gig economy”; chữ “gig job” có nghĩa là nghề làm khoán, không giờ giấc ấn định, mà cũng không có mức lương tối thiểu; làm nhiều, lãnh tiền nhiều, không làm không lương. Quy chế “gig job” đối nghịch với quy chế “công nhân thường xuyên (permanent jobs).

    Nghề làm khoán lại không được hưởng quyền lợi lao động nào cả.

    Đạo luật mới được Thượng Viện tiểu bang California thông qua với 29 phiếu thuận, 11 phiếu chống, và sẽ được áp dụng tại mọi công ty, mặc dù nhiều công ty đang vận động xin được miễn.

    Thống đốc California, ông Gavin Newsom, đã đồng ý dự luật trong Tháng Chín này và dự kiến sẽ ký ban hành ngay sau khi dự luật được Quốc Hội thông qua (việc lưỡng viện thông qua đó được coi như chỉ là một hình thức) không chuyên chở một trở ngại nào cả.

    Luật mới sẽ được áp dụng kể từ ngày đầu năm tới, 1 Tháng Giêng, 2021; mọi người làm việc trong cơ sở mọi thương vụ đều được coi là công nhân chứ không còn là tư nhân độc lập, làm khoán nữa, nếu công ty kiểm soát cách họ làm việc, hoặc công việc họ làm là một phần thương vụ của công ty.

    Đạo luật mới của California có thể gây ảnh hưởng đến nhiều tiểu bang khác, nhất là 3 tiểu bang New York, Washington State, và Oregon, tại đó đã có sẵn những cuộc vận động tương tự nhưng chưa kết quả.

    Thành phố New York đã ấn định lương tối thiểu cho tài xế lái xe chở mướn, tuy nhiên tài xế Uber vẫn làm khoán chứ chưa được hưởng quy chế công nhân, với những quyền lợi nghỉ phép hàng năm, hưởng lương những giờ làm phụ trội, và quyền lợi y tế,…

    Tại California, đạo luật mới sẽ ảnh hưởng đến ít nhất một triệu công nhân, những người đã kết thúc việc làm gia công và nhượng quyền thương mại kéo dài hàng thập niên, khiến mối quan hệ giữa người lao động và chủ nhân trở nên mật thiết hơn.

    Cho đến nay, nhiều công nhân bị xếp vào hạng làm khoán (contractor), không được hưởng quyền lợi “lương tối thiểu” và bảo hiểm thất nghiệp (unemployment insurance).

    Nhật báo The New York Time viết, “Kể từ nay, những người lái tắc xi, lái xe giao đồ ăn, lao công, thợ nail, công nhân xây cất, và chủ sở hữu nhượng quyền thương mại (franchise owners) đều có thể được hưởng quy chế công nhân (employees). Tờ báo Mỹ không nêu lên nghề thợ tóc (nhưng quy chế của hai nghề đó giống nhau) thợ tóc, thợ nail đều theo quy chế làm khoán; làm nhiều hưởng lương nhiều, làm ít lãnh ít tiền.”

    Lực lượng công nhân của Uber và Lyft là vài trăm ngàn người lái xe tại California, việc làm khoán của họ – không cần quyền lợi lao động, như lương tối thiểu, nghỉ phép thường niên,… nhưng lại thích hợp với cả chủ nhân, lẫn người làm công. Hai hãng này cảnh cáo chính phủ là sự can thiệp không đúng cách của luật pháp chỉ đưa đến việc giết chết thương vụ họ tạo ra với sự hưởng ứng của tài xế, những người không đòi hỏi lương tối thiểu, không cần quyền lợi của công nhân, vì họ đã là công nhân của một hãng xưởng khác, chỉ lái xe mướn trong giờ nghỉ việc, hoặc là những người lớn tuổi, đã hồi hưu, làm thêm để có chút lợi tức phụ trội

    Đạo luật mới, còn được gọi là Assembly Bill 5 (Luật Số 5 của Quốc Hội), nguyên là dự luật do nữ Dân Biểu Dân Chủ Lorena Gonzalez thảo ra, vì bà Gonzalez cho là công nhân bị bóc lột. Đồng ý với “tác phẩm” của bà Gonzalez, bà Nghị Sĩ Maria Elena Durazo nhận định, “Những công ty tự xưng là gig companies hãnh diện với quan niệm của họ,” làm khoán, giá rẻ, để cung cấp tiện nghi xê dịch nhanh chóng, với giá nhẹ nhàng cho công chúng,… nhưng việc họ không đóng thuế Social Security hay thuế Medicare, thì quả là không đúng. Hơn nữa, việc họ trả rẻ công sức của người lao động cũng không có gì đáng hãnh diện cả.”

    Hãng Uber không được quyền hãnh diện, nhưng bà Durazo hãnh diện. Bà nói, “Hôm nay, chúng ta đang vẽ ra tương lai cho nền kinh tế California.”

    Anh tài xế Rebecca Stack-Martinez lái xe Uber thuộc nhóm “Gig Workers Rising,” (nhóm công nhân làm khoán) viết trên mạng, kêu gọi các bạn đồng nghiệp của anh lên tiếng trả lời quý vị nghị sĩ, dân biểu tiểu bang.

    Cái khó của quý bà, quý cô làm nail, làm tóc không khó đến mức mất nghiệp như những người lái xe của 2 hãng Uber và Lyft, nhưng cũng không dễ. Cho đến giờ này nghề làm tóc, làm nail của người gốc Việt được tổ chức theo lối “gig business,” làm khoán, làm “ăn chia.” Cô thợ kiếm được trăm bạc, chia cho cô chủ 50% hay một tỉ lệ nào đó, để cô chủ trả tiền mướn tiệm, tiền điện nước, tiền thuế tiệm…; sau đó thuế cá nhân của ai, nấy lo.

    Sang năm các tiệm tóc, tiệm nail tại California phải đổi từ công thức ăn chia sang công thức chủ nhân và công nhân, với những luật lệ lương tối thiểu, bảo hiểm công nhân trong lúc làm việc, bảo hiểm công nhân khi họ thất nghiệp,…

    Những tốn kém đó khiến chủ nhân không dám mướn nhiều người, như giờ này họ đang mướn, và họ cũng dè dặt trước trách nhiệm trả lương tối thiểu cho công nhân, khiến người thợ nail, thợ tóc không kiếm được nhiều tiền như hiện nay.

    Họ có xin miễn áp dụng luật mới vào nghề của họ như 2 hãng Uber và Lyft đang xin không? Việc đó rất công phu và tốn kém, lại không dễ thực hiện, vì khó khăn trong việc mưu tìm sự đồng thuận của hàng ngàn tiệm tóc, tiệm nail đang hoạt động tại California.

    Dù sao thì hai nghề làm tóc, làm nail vẫn tiếp tục nuôi sống vài ngàn gia đình tại tiểu bang California, nhưng chắc chắn lợi tức của cô thợ tóc, thợ nail sẽ giảm xuống, vì có thêm một nhân vật khác đứng giữa số tiền khách trả và số tiền cô thợ được lãnh, nhân vật đó là ông hay bà chủ tiệm.

    Đành chịu thôi. Mỹ là xứ sở của luật pháp mà!

    (Nguyễn Đạt Thịnh)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Pastila De Limbă. Cum Se Pronunță Corect Numele Derivate Din Meserii, Precum Rotariu Sau Ciubotariu
  • Tìm Luật Sư Bào Chữa Ở Bình Dương
  • Văn Phòng Luật Sư Ở Bình Dương, Uy Tín
  • Tudorel Stoica Este Un Fotbalist De Legendă
  • Mituri Din Brăila. Fabuloasele Legende Şi Poveşti Născute De Oraşul De La Dunăre
  • Các Luật Sư Của South Bay Dự Đoán Số Vụ Phá Sản Sẽ Gia Tăng Khi Tiền Kích Thích Cạn Kiệt

    --- Bài mới hơn ---

  • Vietnamville :: Tin Tức :: Văn Hóa
  • Cuộc Sống Ở Vùng San Jose Nói Riêng Và Ở Mỹ Nói Chung
  • Các Nhà Bảo Tồn Đấu Tranh Để Cứu Cựu Tòa Án San Jose Khỏi Phá Hủy
  • Có Mẹ Nào Ở San Jose Chỉ Giúp Em Thủ Tục Li Dị Với
  • San Jose Sôi Nổi Tranh Cử
  • Các luật sư của South Bay đang phải chuẩn bị cho làn sóng phá sản mới từ các cá nhân và doanh nghiệp nhỏ đã cạn kiệt tiền trợ cấp thất nghiệp và tiền kích thích liên bang.

    Số lượng các trường hợp được nộp tại bộ phận San Jose của Tòa án Phá sản Hoa Kỳ có từ chối nhanh chóng trong năm năm qua – giảm mạnh hơn 35% xuống còn 2,718 trường hợp vào năm ngoái so với 4,238 trường hợp năm 2021. Xu hướng giảm đó kéo dài đến năm 2021 với 1,391 trường hợp được nộp trong tám tháng đầu năm so với 1,845 trường hợp trong cùng thời kỳ. vào năm 2021.

    “Hiện tại nó đang yên lặng,” luật sư phá sản của Los Gatos, Julie Cliff nói với San José Spotlight. “Nhưng hãy chuẩn bị cho làn sóng.”

    Chuẩn bị sẵn sàng có nghĩa là biết phá sản không hề rẻ – án phí cơ bản có thể lên tới hàng nghìn đô la và phí luật sư tiêu chuẩn cho các cá nhân và doanh nghiệp nhỏ hy vọng sẽ tổ chức lại và thoát khỏi tình trạng phá sản không nợ là 20,000 đô la, Cliff nói. Nhưng cũng có thể tránh khai phá sản nếu con nợ phản ứng đủ sớm.

    Cliff nói: “Tư vấn phá sản hoàn toàn miễn phí. “Không tốn một xu để đến gặp một vài luật sư phá sản và nhận một số lời khuyên tài chính.”

    Tỷ lệ thất nghiệp toàn tiểu bang ở California đã tăng trên 16% trong tháng 13.3 và tháng XNUMX và chỉ giảm nhẹ kể từ đó – xuống XNUMX% vào tháng trước. Một nghiên cứu gần đây của Liên doanh Thung lũng Silicon cho thấy tỷ lệ thất nghiệp trong khu vực thấp hơn toàn tiểu bang, với South Bay đạt đỉnh 11.6% vào tháng 9.3 và giảm xuống XNUMX% vào tháng XNUMX.

    Nhưng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp của tiểu bang thường chỉ kéo dài 26 tuần, với khả năng kéo dài thêm 13 tuần thông qua chương trình Bồi thường Thất nghiệp Khẩn cấp Đại dịch. Đối với những người lao động bị dịch chuyển mất việc vào tháng XNUMX khi coronavirus bắt đầu tàn phá nền kinh tế và khi nhiều doanh nghiệp buộc phải đóng cửa, thời gian không còn nhiều.

    Sam Taherian, một đối tác tại Công ty Luật Fuller ở San Jose, cho biết anh ấy đã nhận thấy sự gia tăng các cuộc gọi từ những công nhân bị sa thải, những người đã dựa vào bảo hiểm thất nghiệp 600 đô la mỗi tuần từ Đạo luật CHĂM SÓC đã hết hạn vào ngày 31 tháng XNUMX.

    Ông nói, một số doanh nghiệp nhỏ và cá nhân có thể tổ chức lại theo Chương 11 hoặc 13 của bộ luật phá sản, nếu họ có thể thương lượng phương án giải quyết các khoản nợ của mình với các chủ nợ để giảm số tiền nợ hoặc kéo dài thời hạn trả nợ.

    Tuy nhiên, khi các hóa đơn chồng chất và không còn sự hỗ trợ của chính phủ để giữ chúng tồn tại, Taherian cho biết hầu hết các nhân viên bị sa thải không thể quay lại làm việc và các doanh nghiệp nhỏ không thể mở cửa trở lại sẽ đơn giản hoạt động.

    Taherian nói với San José Spotlight: “Đối với một doanh nghiệp gạch và vữa nhỏ điển hình, khoản mục chi phí cố định lớn nhất là tiền thuê của họ. “Nếu họ không thể trả hợp đồng thuê đó một cách sinh lợi, thì việc tái tổ chức không phải là một khả năng và họ phải từ bỏ hoạt động kinh doanh của mình”.

    Tracy Tran cho biết cô lo lắng điều đó có thể xảy ra với công việc kinh doanh mà cô làm chủ cùng chồng, La Orquidea Salon và Spa ở Los Gatos. Ngoại trừ hai ngày Vào tháng Bảy, Tran cho biết tiệm nail đã bị đóng cửa theo lệnh y tế công cộng của tiểu bang kể từ tháng Ba. Để tiếp tục kinh doanh, họ đã phải sa thải hơn 20 nhân viên.

    Thống đốc Gavin Newsom đã công bố một bộ quy tắc mới để các doanh nghiệp mở cửa trở lại vào tuần trước. Tiệm cắt tóc và tiệm cắt tóc tuân theo các nguyên tắc đó có thể mở cửa trở lại ở Quận Santa Clara để phục vụ trong nhà vào ngày 31 tháng XNUMX. Các tiệm làm móng không thể mở cửa.

    Tran nói với San José Spotlight: “Chúng tôi muốn mở cửa trở lại. “Nhưng nếu nó không xảy ra sớm, tôi không biết liệu chúng ta có làm được không.”

    Linda Do, chủ của Blossom Nail Spa, cho biết các lệnh y tế công cộng của tiểu bang đã không công bằng đối với các tiệm làm móng ngay từ đầu. Do có các địa điểm ở San Jose và Campbell – và mặc dù cô ấy đã chi 30,000 đô la để cải tạo không gian của mình ở San Jose để phù hợp với các quy định COVID-19 của tiểu bang, nó vẫn chưa mở cửa trở lại.

    Do cho biết cô đã sa thải hơn 50 công nhân và nợ gần 150,000 đô la tiền thuê nhà quá hạn. Do phải mất nhiều năm, cô ấy mới có thể trả lại được hết. Tuy nhiên, cô hy vọng sẽ tránh được phá sản.

    “Tôi lo lắng rằng tôi có thể không bao giờ thoát khỏi điều này nếu chúng tôi không thể mở cửa trở lại”, Do nói với San José Spotlight. “Toàn bộ ngành có thể bị xóa sổ.”

    Cliff cho biết những người đang coi phá sản là một lựa chọn nên biết rằng việc trì hoãn nó quá lâu có thể là một thảm họa.

    “Đừng đợi cho đến khi bạn hết tiền,” luật sư phá sản Los Gatos nói. “Nếu bạn giảm đến đồng đô la cuối cùng của mình, bạn sẽ gặp phải vấn đề thứ hai vì bạn thậm chí không đủ khả năng nộp đơn phá sản.”

    Liên lạc với Adam F. Hutton tại [email được bảo vệ] hoặc theo @adamfhutton trên Twitter.

    --- Bài cũ hơn ---

  • San Jose Đặt Tên Cho Luật Sư Thành Phố Mới, Người Phụ Nữ Thứ Hai Đảm Nhận Vai Trò Này
  • Nguyễn Hữu Hạnh : “tiền Hội Ngộ” Và Ngày Họp Mặt Truyền Thống Nq Kỳ 9
  • Tường Trình Buổi Ra Mắt Sách “thiền Dưới Ánh Sáng Khoa Học” Tại San José
  • Vai Trò Của Luật Sư Trong Vụ Án Hình Sự
  • Vai Trò Của Luật Sư Trong Giải Quyết Vụ Án Hình Sự
  • Một Số Từ Vựng Tiếng Anh Chuyên Ngành Luật Thông Dụng

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Định Pháp Luật Về Tên Tiếng Anh Của Văn Phòng Đại Diện Chuẩn Nhất
  • Người Đại Diện Theo Pháp Luật Là Gì?
  • Trung Tâm Giáo Dục Thường Xuyên Tiếng Anh Là Gì?
  • Nội Dung Môn Học Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật
  • Tư Vấn Pháp Luật Thường Xuyên
  • VIỆT – ANH

    – Điều: Article

    – Khoản: Clause

    – Điểm: Point

    – Khoản 1 Điều này: Clause 1 of this Article

    – Đã nêu tại (quy định tại) Khoản 1 Điều này: Prescribed in Clause 1 of this Article

    – Quy định: To Provide That (quy định rằng)

    Eg: a clause which provides that the tenant shall be held responsible for repairs: điều khoản quy định rằng người thuê có trách nhiệm sửa chữa

    – Theo quy định tại Điều 131 Bộ luật dân sự: As stipulated in Article 131 of the Civil Code (nếu dẫn từ một văn bản khác)

    Hoặc: Under Article 131 of the Civil Code

    – Quy định của pháp luật: Legislation, Regulation, provisions of law

    – hợp đồng bị vô hiệu: contract is invalid (invalidated)

    – hủy bỏ hợp đồng: rescind the contract

    – cố ý gây nhầm lẫn: intentionally make mistake

    – lừa dối: deception

    – Cơ quan thi hành án: Judgment-executing Body; Judgment Enforcement Agencies

    – Viện kiểm sát: Procuracy

    – Viện kiểm sát cùng cấp: Procuracy of the same level

    – Đình chỉ giải quyết vụ án: To stop the resolution of the case

    – Tạm đình chỉ giải quyết vụ án: To suspend the resolution of the case

    – Tiền án phí: court fees

    – Thừa kế theo pháp luật: Inheritance at law

    – Người được thừa kế theo pháp luật: Heir(s) at law

    – Thừa kế theo di chúc: Testamentary inheritance

    – Người được thừa kế theo di chúc: Testamentary heir(s), heir under a will

    – Thừa kế thế vị: Inheritance by substitution

    – Chủ sở hữu có quyền bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác phù hợp với quy định của pháp luật đối với tài sản: Owners shall have the right to sell, exchange, donate, lend, bequeath, abandon or dispose of their property in other forms in accordance with the provisions of law.

    – Người Việt Nam định cư ở nước ngoài: overseas Vietnamese

    – Đòi tài sản: reclaim the property

    – Bản tiếng Việt sẽ được sử dụng: The Vnese version would pvail.

    – Y án: uphold

    – Nhà chung cư: condominiums

    – Giấy triệu tập / Trát hầu tòa: subpoena, summons (summons có S nhưng là danh từ số ít)

    – Tống đạt: send

    – Văn bản tố tụng: procedural documents

    – Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp: Business Registration Certificate

    – Công ty TNHH: Limited Liability Company (LLC)

    (Ở Việt Nam còn dùng Company Limited)

    – Thành viên góp vốn: Capital Contributing Member hoặc Capital Contributing Partner.

    – Phạt vi phạm (hợp đồng): Sanction against violation.

    – Bên bị vi phạm: Violated party

    – Đơn khởi kiện: Petition (or Lawsuit Petition)

    – Đơn khiếu nại: Complaint

    – Lời tuyên án: Verdict

    – Bị cáo: Defendant

    – Phiên tòa tạm hoãn, tạm ngừng: The court’s adjourned

    – Luận cứ bào chữa: Defense argument

    – Chấm dứt thực hiện: terminate the performance of

    – Đơn phương chấm dứt thực hiện giao dịch dân sự: unilaterally terminate the performance of the civil transactions

    – Hủy bỏ: annul = declare invalid

    – Đơn đề nghị, bản kiến nghị: motion

    – Đại diện theo pháp luật: repsentative at law

    – Vụ án dân sự: Civil case

    – Việc dân sự: Civil matter

    – Thụ lý: Accept

    – Thẩm quyền: Jurisdiction

    – Tiền thuê nhà: Rental

    – Ngành nghề kinh doanh: Business lines

    – Hợp pháp hóa lãnh sự: consular legalization

    – Chứng nhận lãnh sự: Consular Certification

    – Giấy tờ, tài liệu được miễn chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự: Papers and documents exempted from consular certification and legalization

    – Tình trạng: Marital status

    – Người độc thân: Single

    – Cho con nuôi: to place (my child) with (someone) for adoption.

    Eg: I want to place my child, Nguyen Tan Thinh, permanently with Le Van Vinh and Bach Thi Thai for adoption.

    – Cha mẹ cho con nuôi: Placing parent(s)

    – Cha mẹ nhận con nuôi: Adoptive parent(s)

    – Người dự kiến là cha mẹ nuôi: Prospective adoptive parent(s)

    – Tài sản chung: Joint property; Shared property; Common property.

    – Trách nhiệm chung: Joint liabilities.

    – Phí hoa hồng: Commission

    – Buổi lấy lời khai: Deposition

    – Khai man, lời khai gian: Perjury

    – Sự điều tra, thẩm tra (của Tòa án): Inquisition

    – Khấu hao: Amortize

    – Bản khai, bản tự khai: Written testimony

    – Đương sự: Involved parties

    – Sự cấp dưỡng, nuôi dưỡng: Alimentation

    – Thời hiệu: Prescriptive period

    – Ủy quyền: Authorization, Mandate, Procuration

    – Người ủy quyền: Mandator

    – Người được ủy quyền: Authorized person, Mandatary

    – Căn cước công dân: Citizen Identity Card

    – Cục trưởng Cục cảnh sát ĐKQL cư trú và DLQG về dân cư: Director of Police Department of residence registration and management and national database on population.

    – Hình thức: Formality (Vd: Hình thức của di chúc: Formalities of wills)

    – Có hiệu lực: to come into force (Vd: 2021 Criminal Code coming into force as of January 01, 2021)

    – Yêu cầu phản tố: Counter-claims

    – Hòa giải: Mediation

    – Lấn chiếm, xâm lấn, xâm phạm: Encroachment

    – Người nuôi con: Child custodian

    – Giấy từ chối quyền hưởng di sản thừa kế: Disclaimer of inheritance

    – Di sản thừa kế: Bequeathed estate

    – Phân chia di sản: Estates distribution

    – Ban hành (một đạo luật): Promulgate

    – Thu hồi (đất): Recover

    – Viết tắt công ty TNHH: Co., Ltd (Anh) hoặc LLC (Mỹ)

    – Phần quyền: Share of the ownership rights

    – Đủ điều kiện: Conform

    – Phần vốn góp: Stake

    Stake means the total value of assets that a member/partner contributes or promises to contribute to a limited liability company or partnership. Stake holding means the ratio of a member/partner’s stake to charter capital of the limited liability company or partnership.

    – Tỉ lệ vốn góp: Stake holding

    – Tranh chấp: Dispute

    – Giải quyết: Settle

    – Tranh chấp phải được giải quyết tại Tòa án: Dispute must be settled by court

    – Cơ quan có thẩm quyền: Competent authority

    – Chấp hành viên: Enforcer

    Eg: căn nhà do bố vợ anh ta đứng tên = the house is in his father-in-law’s name

    – Đứng tên: in somebody’s name

    – Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép: The testator was of sound mind when he or she made the will; and he or she was not deceived, threatened or coerced into making the will;

    – Evading responsibilities to a third person: trốn tránh trách nhiệm với người thứ ba

    – Từ bỏ (quyền lợi): disclaim

    Eg: Từ chối nhận di sản: disclaimer of inheritance

    – Sự từ bỏ (quyền lợi): disclaimer

    – Dự án đầu tư xây dựng nhà ở: Project for housing construction

    – Bản án: Judgment

    – Quyết định (của Tòa án): Decision

    ANH – VIỆT

    – Dân tộc: Ethnic group

    – Cease and Desist: thư đề nghị chấm dứt hành vi vi phạm (cease) và không lặp lại hành vi đó (desist).

    – Injunction: lệnh của Tòa cấm hoặc buộc làm một việc gì đó.

    – Sanction: hình phạt

    – Acrimony: Sự gay gắt. Eg: To avoid acrimony and litigation in the unlikely event that the mariage ends.

    – Joint tenants: Những người cùng hưởng dụng; Những người cùng thuê chung. Eg: The assets will be registered in both names in equal shares as joint tenants.

    – Jeopardy: Tình trạng nguy hiểm, hoàn cảnh hiểm nghèo.

    – Subpoena: Trát hầu tòa.

    – Felony: Tội ác, trọng tội.

    – Deposition: Lời chứng, lời khai, sự cung cấp bằng chứng.

    – Affidavit: Bản khai có tuyên thệ.

    + The court condemns the man to pay to the woman for her living.

    – Condemn: Xử, Buộc, Phạt, Kết án

    – Arraignment: sự buộc tội, sự tố cáo; sự thưa kiện

    – Prenuptial contract: hợp đồng trước hôn nhân

    – Prenuptial agreement: an agreement made by a couple before they marry concerning the ownership of their respective assets should the marriage fail.

    – Waiver: Miễn trừ

    – Perjury: Khai man, lời khai gian (ví dụ khi đã thề sẽ khai đúng sự thật (under the oath) mà sau đó bị phát hiện là không đúng thì có thể bị truy tố về tội perjury).

    – Reciprocity: Sự nhân nhượng, sự trao đổi lẫn nhau, sự có đi có lại (give and take).

    – Indemnification: Sự bồi thường, tiền bồi thường

    – Intestate: Người chết không để lại di chúc

    – Default:

    Eg: It will have to restructure its debts to avoid default The deteriorating economy pushed defaults to almost $20 billion.

    (Noun): Sự thất bại trong việc hoàn thành nghĩa vụ, đặc biệt là nghĩa vụ trả nợ hoặc nghĩa vụ có mặt tại Tòa án.

    Eg: Some had defaulted on student loans. Eg: The company is already in default on its loans. She is in default.

    (Verb): Thất bại trong việc hoàn thành nghĩa vụ, đặc biệt là nghĩa vụ trả nợ hoặc nghĩa vụ có mặt tại Tòa án.

    The information in this e-mail and in any attachments is confidential, legally privileged and intended solely for the named recipient and reference given. The reader of this message (if not the correct recipient) is hereby notified that any dissemination, distribution, copying or disclosure of this e-mail, attachments or contents is strictly prohibited. If you have received this e-mail in error, please immediately notify us by telephone on …………………… In the unlikely event that any unauthorised and offensive mail is received, via our e-mail system, please destroy it, accept our apologies and contact ………………….. with details of the sender, so we can stop any recurrence. Any incoming e-mail will be deemed not to be received or communicated to us until it is actually processed and read by the human recipient. Neither ………………….. nor the sender accepts any responsibility for viruses and it is your responsibility to scan the e-mail attachments (if any).

    (Phrases): In default: Không trả được nợ hoặc không có mặt tại Tòa.

    Witness statement: I certify that this declaration was signed in my psence by the person named above. I declare that I am satisfied as to the identity of the client. ĐỌC THÊM: TỔNG HỢP TỪ VỰNG CHUYÊN NGÀNH LUẬT THEO BẢNG CHỮ CÁI

    – Phần ghi chú bảo mật cuối thư thường gặp trong email nước ngoài:

    – Mẫu lời xác nhận khi làm chứng chữ ký:

    Nguồn: https://langmaster.edu.vn/tong-hop-tu-vung-chuyen-nganh-luat-theo-bang-chu-cai-b10i290.html

    A

    Activism (judicial) : Tính tích cực của thẩm phán

    Actus reus : Khách quan của tội phạm

    Adversarial process : Quá trình tranh tụng

    Alternative dispute resolution (ADR) : Giải quyết tranh chấp bằng phương thức khác

    Amicus curiae (“Friend of the court”) : Thân hữu của tòa án

    Appellate jurisdiction == Thẩm quyền phúc thẩm

    Arraignment == Sự luận tội

    Arrest: bắt giữ

    Accountable ( aj): Có trách nhiệm

    Accountable to … Chịu trách nhiệm trước …

    Accredit (v ): ủy quyền, ủy nhiệm, ủy thác, bổ nhiệm

    Acquit ( v): xử trắng án, tuyên bố vô tội

    Act and deed ( n): văn bản chính thức (có đóng dấu)

    Act as amended ( n): luật sửa đổi

    Act of god: thiên tai, trường hợp bất khả kháng

    Act of legislation: sắc luật

    Affidavit: Bản khai

    Argument: Sự lập luận, lý lẽ

    Argument against: Lý lẽ phản đối ( someone’ s argument )

    Argument for: Lý lẽ tán thành

    B

    Bail == Tiền bảo lãnh

    Bench trial == Phiên xét xử bởi thẩm phán

    Bill of attainder == Lệnh tước quyền công dân và tịch thu tài sản

    Bill of information == Đơn kiện của công tố

    Be convicted of: bị kết tội

    Bring into account: truy cứu trách nhiệm

    C

    Commit: phạm (tội, lỗi). Phạm tội

    Crime: tội phạm

    Client: thân chủ

    Civil law == Luật dân sự

    Class action == Vụ khởi kiện tập thể

    Collegial courts == Tòa cấp cao

    Common law == Thông luật

    Complaint == Khiếu kiện

    Concurrent jurisdiction == Thẩm quyền tài phán đồng thời

    Concurring opinion == Ý kiến đồng thời

    Corpus juris == Luật đoàn thể

    Court of appeals == Tòa phúc thẩm

    Courtroom workgroup == Nhóm làm việc của tòa án

    Criminal law == Luật hình sự

    Cross-examination == Đối chất

    Certificate of correctness: Bản chứng thực

    Certified Public Accountant: Kiểm toán công

    Chief Executive Officer Tổng Giám Đốc

    Child molesters: Kẻ quấy rối trẻ em

    Class action lawsuits: Các vụ kiện thay mặt tập thể

    Columnist: Bỉnh bút gia ( là cái quái gì nhỉ?)

    Conduct a case: Tiến hành xét sử

    Congress: Quốc hội

    Constitutional Amendment: Tu chính hiến Pháp

    Constitutional rights: Quyền hiến định

    D

    Damages == Khoản đền bù thiệt hại

    Defendant: bị cáo.

    Depot: kẻ bạo quyền

    Detail: chi tiết

    Deal (with): giải quyết, xử lý.

    Dispute: tranh chấp, tranh luận

    Declaratory judgment == Án văn tuyên nhận

    Defendant == Bị đơn, bị cáo

    Deposition == Lời khai

    Discovery == Tìm hiểu

    Dissenting opinion == Ý kiến phản đối

    Diversity of citizenship suit == Vụ kiện giữa các công dân của các bang

    Decline to state: Từ chối khai

    Delegate: Đại biểu

    Democratic: Dân Chủ

    Designates: Phân công

    E

    Enbanc (“In the bench”or “as a full bench.”) ==Thủ tục tố tụng toàn thẩm (Toàn thể các quan tòa)

    Equity == Luật công bình

    Ex post facto law == Luật có hiệu lực hồi tố

    Election Office: Văn phòng bầu cử

    F

    Federal question == Vấn đề liên bang

    Felony == Trọng tội

    Fine: phạt tiền

    Financial Investment Advisor: Cố vấn đầu tư tài chính

    Financial Services Executive: Giám đốc dịch vụ tài chính

    Financial Systems Consultant: Tư vấn tài chính

    Fiscal Impact : Ảnh hưởng đến ngân sách công

    Forfeitures Phạt nói chung

    Free from intimidation: Không bị đe doạ, tự nguyện.

    Fund/funding: Kinh phí/cấp kinh phí

    G

    Grand jury == Bồi thẩm đoàn

    General Election: Tổng Tuyển Cử

    General obligation bonds: Công trái trách nhiệm chung

    Government bodies: Cơ quan công quyền

    Governor: Thống Đốc

    H

    Habeas corpus == Luật bảo thân

    Health (care) coverage: Bảo hiểm y tế

    High-ranking officials: Quan chức cấp cao ( Ex:General secretary Nong Duc Manh )

    Human reproductive cloning: sinh sản vô tính ở người

    I

    Impeachment == Luận tội

    Indictment == Cáo trạng

    Inquisitorial method == Phương pháp điều tra

    Interrogatories == Câu chất vấn tranh tụng

    Independent: Độc lập

    Initiative Statute: Đạo Luật Do Dân Khởi Đạt

    Initiatives: Đề xướng luật

    Insurance Consultant/Actuary: Tư Vấn/Chuyên Viên Bảo Hiểm

    J

    Judgment == Án văn

    Judicial review == Xem xét của tòa án

    Jurisdiction == Thẩm quyền tài phán

    Justiciability == Phạm vi tài phán

    Justify: Giải trình

    Juveniles: Vị thành niên

    L

    Law School President: Khoa Trưởng Trường Luật

    Lawyer: Luật Sư

    Lecturer: Thuyết Trình Viên ( Phải dẻo mỏ, tự tin, body, face chuẩn không cần chỉnh)

    Libertarian: Tự Do

    Line agency: Cơ quan chủ quản

    Lives in: Cư ngụ tại

    Lobbying: Vận động hành lang

    Loophole: Lỗ hổng luật pháp

    M

    Magistrate == Thẩm phán hành chính địa phương, thẩm phán tiểu hình

    Mandatory sentencing laws == Các luật xử phạt cưỡng chế

    Mens rea == Ý chí phạm tội, yếu tố chủ quan của tội phạm

    Merit selection == Tuyển lựa theo công trạng

    Misdemeanor == Khinh tội

    Moot == Vụ việc có thể tranh luận

    Member of Congress: Thành viên quốc hội

    Mental health: Sức khoẻ tâm thần

    Middle-class: Giới trung lưu

    Monetary penalty: Phạt tiền

    N

    Nolo contendere (“No contest.”) == Không tranh cãi

    Natural Law: Luật tự nhiên

    O

    Opinion of the court == Ý kiến của tòa án

    Oral argument == Tranh luận miệng

    Ordinance-making power == Thẩm quyền ra các sắc lệnh tạo bố cục

    Original jurisdiction == Thẩm quyền tài phán ban đầu

    Order of acquital: Lệnh tha bổng

    Organizer: Người Tổ Chức

    P

    Per curiam == Theo tòa

    Peremptory challenge == Khước biện võ đoán, phản đối suy đoán

    Petit jury (or trial jury) == Bồi thẩm đoàn

    Plaintiff == Nguyên đơn

    Plea bargain == Thương lượng về bào chữa, thỏa thuận lời khai

    Political question == Vấn đề chính trị

    Private law == Tư pháp

    Pro bono publico == Vì lợi ích công

    Probation == Tù treo

    Public law == Công pháp

    Paramedics Hộ lý

    Parole Thời gian thử thách

    Party: Đảng

    Peace & Freedom: Hòa Bình & Tự Do

    Political Party: Đảng Phái Chính Trị

    Political platform: Cương lĩnh chính trị

    Polls: Phòng bỏ phiếu

    Popular votes: Phiếu phổ thông

    Precinct board: ủy ban phân khu bầu cử

    Primary election Vòng bầu cử sơ bộ

    Proposition: Dự luật

    Prosecutor: Biện lý

    Public Authority: Công quyền

    Public records: Hồ sơ công

    R

    Recess appointment == Bổ nhiệm khi ngừng họp

    Real Estate Broker: Chuyên viên môi giới Địa ốc

    Republican: Cộng Hòa

    Reside: Cư trú

    Retired: Đã về hưu

    Reversible error == Sai lầm cần phải sửa chữa

    Rule of 80 == Quy tắc 80

    Rule of four == Quy tắc bốn người

    S

    Self-restraint (judicial) == Sự tự hạn chế của thẩm phán

    School board: Hội đồng nhà trường

    Secretary of the State: Thư Ký Tiểu Bang

    Senate: Thượng Viện

    Shoplifters: Kẻ ăn cắp vặt ở cửa hàng

    Small Business Owner: Chủ doanh nghiệp nhỏ

    State Assembly: Hạ Viện Tiểu Bang

    State custody: Trại tạm giam của bang

    State Legislature: Lập Pháp Tiểu Bang

    State Senate: Thượng viện tiểu bang

    Statement: Lời Tuyên Bố

    Sub-Law document: Văn bản dưới luật

    Superior Court Judge: Chánh toà thượng thẩm

    Senatorial courtesy == Quyền ưu tiên của thượng nghị sĩ

    Sequestration (of jury) == Sự cách ly (bồi thẩm đoàn)

    Socialization (judicial) == Hòa nhập (của thẩm phán)

    Standing == Vị thế tranh chấp

    Stare decisis,the doc trine of (“Stand by what has been decided”) == Học thuyết về ” tôn trọng việc đã xử”

    Statutory law == Luật thành văn

    Supervisor: Giám sát viên

    T

    Three-judge district courts == Các tòa án hạt với ba thẩm phán

    Taxable personal income: Thu nhập chịu thuế cá nhân

    Taxpayers: Người đóng thuế

    The way it is now: Tình trạng hiện nay

    Top Priorities: Ưu tiên hàng đầu

    Transparent: Minh bạch

    Treasurer: Thủ Quỹ

    Three-judge panels (of appellate courts) == Ủy ban ba thẩm phán (của các tòa phúc thẩm)

    Tort == Sự xâm hại, trách nhiệm ngoài hợp đồng

    Trial de novo == Phiên xử mới

    U

    Unfair business: Kinh doanh gian lận

    Unfair competition: Cạnh tranh không bình đẳng

    United States (US.) Senator: Thượng nghị sĩ liên bang

    1. Army Four-Star General: Tướng Bốn Sao Lục Quân Hoa Kỳ
    2. Congressional Repsentative: Dân Biểu Hạ Viện Liên Bang
    3. House of Repsentatives: Hạ Viện Liên Bang
    4. Senate: Thượng Viện Liên Bang
    5. Treasurer: Bộ Trưởng Bộ Tài Chánh Hoa Kỳ

    Y

    Yes vote: Bỏ phiếu thuận

    Year term: Nhiệm kỳ ( Ex: four-year term )

    V

    Venue == Pháp đình

    Voir dire == Thẩm tra sơ khởi

    Violent felony: Tội phạm mang tính côn đồ

    Volunteer Attorney: Luật Sư tình nguyện

    Voter Information Guide: Tập chỉ dẫn cho cử tri

    W

    Warrant == Trát đòi

    Writ of certiorari == Lệnh chuyển hồ sơ lên tòa cấp trên, lệnh lấy lên xét xử lại

    Writ of mandamus == Lệnh thi hành, lệnh yêu cầu thực hiện

    Glossary of the 2021 Civil Procedure Code

    What Proposition… would do? Dự Luật điều chỉnh vấn đề gì?

    What They Stand For? Lập Trường của họ là gì?

    Nguồn: http://vietnamlawmagazine.vn/glossary-of-the-2015-civil-procedure-code-5936.html

    Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp

    Evidence in a civil case or matter is any matter of fact which is handed over or produced to the court by the parties, agencies, organizations or other inpiduals in the litigation process or collected by the court according to the order and procedures pscribed by this Code and used by the court as the basis for ascertaining objective details of the case as well as whether the parties’ claims or protests are well-grounded and lawful

    Civil proceeding-conducting agencies include:

    a/ Courts;

    b/ Procuracies.

    Civil proceeding-conducting persons include:

    a/ Chief justices, judges, people’s assessors, verifiers and court clerks;

    b/ Chief procurators, procurators and examiners.

    Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm.

    Cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn.

    tranh tụng trong xét xử

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đơn Vị Thể Chế (Institutional Unit) Và Khu Vực Thể Chế (Institutional Sector) Là Gì?
  • Thể Chế Là Gì? Tìm Hiểu Khái Niệm Thể Chế Là Gì?
  • Muốn Tiếng Anh Trở Thành Ngôn Ngữ Thứ Hai Ở Việt Nam: Phải Thể Chế Bằng Luật Pháp
  • Chuyên Viên Tư Vấn Tiếng Anh Là Gì? Tiềm Năng Của Nghề Tư Vấn
  • Tổng Hợp Từ Vựng Một Số Nghề Nghiệp Trong Tiếng Anh Thông Dụng (Có Hình Ảnh)
  • Luận Văn: Giải Quyết Xung Đột Pháp Luật Về Hợp Đồng, Hot

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Tập Xác Định Cấu Trúc Quy Phạm Pháp Luật, Quan Hệ Pháp Luật
  • Một Số Ý Kiến Trong Việc Xác Định Quan Hệ Pháp Luật Tranh Chấp
  • Vướng Mắc Trong Việc Xác Định Quan Hệ Pháp Luật Tranh Chấp
  • Giáo Trình Pháp Luật Đại Cương: Khái Quát Về Luật Hình Sự Việt Nam
  • Chính Sách Pháp Luật Hình Sự Đối Với Các Tội Phạm Về Chức Vụ
  • , ZALO 0932091562 at BÁO GIÁ DV VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

    Published on

    Luận văn thạc sĩ ngành luật: Giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng, cho các bạn có thể tham khảo làm đề tài nghiên cứu của mình

    1. 1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT ĐẶNG THÁI HƯNG GI¶I QUYÕT XUNG §éT PH¸P LUËT VÒ HîP §åNG Chuyên ngành: Luật Quốc tế Mã số: 60 38 01 08 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN LAN NGUYÊN HÀ NỘI – 2014
    2. 2. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nghiên cứu nêu trong Luận văn chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Do đó, tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƢỜI CAM ĐOAN Đặng Thái Hưng
    3. 4. 2.3. Thực trạng giải quyết xung đột pháp luật về năng lực chủ thể giao kết hợp đồng …………………………………………………………….. 58 2.3.1. Phƣơng thức giải quyết xung đột pháp luật về năng lực chủ thể giao kết hợp đồng ……………………………………………………………………. 58 2.3.2. Thực trạng các quy định giải quyết xung đột pháp luật về năng lực chủ thể giao kết hợp đồng …………………………………………………… 60 KẾT LUẬN CHƢƠNG 2…………………………………………………………………….. 64 Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM TRONG GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG…………………………………………………………………………… 65 3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng ……………………………………. 65 3.1.1. Yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng ………………………………………………… 65 3.1.2. Quan điểm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng ………………………………………………………… 68 3.2. Tiếp tục hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng ……………………………………………………… 71 3.2.1. Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng……………………………………………………….. 71 3.2.2. Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giải quyết xung đột pháp luật về nội dung hợp đồng………………………………………………………… 72 3.2.3. Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giải quyết xung đột pháp luật về năng lực chủ thể giao kết hợp đồng…………………………………. 75 KẾT LUẬN CHƢƠNG 3…………………………………………………………………….. 77 KẾT LUẬN………………………………………………………………………………………. 78 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………….. 80
    4. 5. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BLDS : Bộ luật Dân sự BLDS 2005 : Bộ luật Dân sự của Quốc hội nƣớc Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam số 33/2005/QH11 ngày 14/6/2005 Công ƣớc Viên 1980 : Công ƣớc của Liên Hợp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Vienna, 1980) Quy tắc Roma I : Quy tắc số 593/2008 về Luật áp dụng đối với nghĩa vụ hợp đồng (Quy tắc Roma I) XĐPL : Xung đột pháp luật
    5. 8. 3 của pháp luật Việt Nam trong mối tương quan so sánh với pháp luật một số nước trên thế giới”; Luận văn thạc sỹ của Lê Thu Hƣờng về “Một số vấn đề pháp luật và thực tiễn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài”; Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Mai Hƣơng về “So sánh chế định giao kết hợp đồng theo pháp luật Việt Nam và pháp luật Hoa Kỳ”, … Các công trình nghiên cứu nhƣ: Nguyễn Tiến Vinh: “Bàn về việc hoàn thiện các quy định trong Phần VII “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài” (Tạp chí Nhà nƣớc và Pháp luật, số 5/2003, tr.45252); Đỗ Văn Đại: “Tư pháp Quốc tế Việt Nam và vấn đề dẫn chiếu trong lĩnh vực hợp đồng” (Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 10/2003, tr. 64271), .v.v… Các sách chuyên khảo nhƣ: “Giáo trình Luật Thương mại quốc tế”, của Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội do PGS. TS Nguyễn Bá Diến chủ biên, 2005, .v.v… Các công trình về xung đột pháp luật của nƣớc ngoài nhƣ: Conflict of laws (Michael Freeman, Published by the University of London Press, 2004); Yeo Tiong Min, Professor of Law, School of Law, Singapore Management University: “The conflict of laws”, .v.v… Tóm lại, đã có rất nhiều đề tài, công trình nghiên cứu về xung đột pháp luật, một số vấn đề về quy phạm xung đột và việc áp dụng quy phạm xung đột trong thực tiễn nhất là trong lĩnh vực hôn nhân gia đình, thừa kế có yếu tố nƣớc ngoài và mua bán hàng hóa quốc tế. Tuy nhiên, trong tất cả các công trình nêu trên và theo tác giả đƣợc biết thì chƣa có một công trình nào chỉ tập trung nghiên cứu chuyên sâu, phân tích, đánh giá một cách có hệ thống và tổng thể đối với quy phạm xung đột về hợp đồng tại Việt Nam. Do đó, đề tài “Giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng” nhằm mục đích nghiên cứu một cách chuyên sâu, tổng hợp, khái quát, đánh giá một cách
    6. 12. 7 Tuy nhiên, khái nhiệm “xung đột pháp luật” (conflict of laws) trong tƣ pháp quốc tế lại đƣợc hiểu theo ý nghĩa hoàn toàn khác. Thuật ngữ này thuộc chuyên ngành tƣ pháp quốc tế đƣợc sử dụng ở một quốc gia với mục đích dùng để giải quyết các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nƣớc ngoài. Ví dụ nhƣ việc ký kết hợp đồng giữa một công ty X của Việt Nam và công ty Y của Hoa Kỳ. Trong quá trình thực hiện hợp đồng có phát sinh tranh chấp thì câu hỏi đặt ra là hệ thống pháp luật nƣớc nào sẽ đƣợc áp dụng để giải quyết tranh chấp. Một ví dụ khác là việc đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam và công dân Hàn Quốc thì pháp luật quốc gia nào sẽ đƣợc áp dụng để việc đăng ký kết hôn phù hợp với quy định pháp luật của Việt Nam và Hàn Quốc. Theo định nghĩa trong Giáo trình Tƣ pháp Quốc tế của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội do chúng tôi Nguyễn Bá Diến định nghĩa thì “Xung đột pháp luật là hiện tượng có hai hay nhiều hệ thống pháp luật cùng tham gia điều chỉnh một quan hệ Tư pháp Quốc tế cụ thể và giữa các hệ thống pháp luật này có sự khác biệt về các quy định khi giải quyết vấn đề” . Theo định nghĩa của Giáo trình Luật Tƣ pháp quốc tế của Bùi Thị Thu “Xung đột pháp luật là một tình huống pháp lý hoặc một quan hệ pháp lý khi phát sinh có thể chịu sự điều chỉnh của hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau” . Các quốc gia trên thế giới đã ký kết nhiều điều ƣớc quốc tế đa phƣơng nhƣ: Công ƣớc Viên 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Công ƣớc Paris 1883 về bảo hộ sở hữu công nghiệp, Công ƣớc Bec-nơ 1886 về bảo hộ
    7. 16. 11 quyền tác giả, Công ƣớc 1980 của Liên hợp quốc về vận tải hàng hóa đa phƣơng thức quốc tế, … Bên cạnh đó, quy phạm thực chất thống nhất còn đƣợc ghi nhận trong các tập quán quốc tế (nhất là trong lĩnh vực thƣơng mại và hàng hải quốc tế nhƣ Tập quán thƣơng mại quốc tế (Incorterm), Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (The Uniform Customs and Practice for Documentary Credits – UCP), .v.v… Các quy phạm thực chất trong luật của quốc gia (luật quốc nội): Trong phạm vi quốc gia, các quy phạm thực chất đƣợc quy định trong các văn bản pháp luật của quốc gia. Các quy phạm này cũng đồng thời là các quy phạm đƣợc quy định trong các điều ƣớc quốc tế. Các quy phạm thực chất này trực tiếp điều chỉnh các quan hệ đã đƣợc các quốc gia thống nhất áp dụng và đƣợc dùng để điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nƣớc ngoài. Ví dụ ở Việt Nam hiện nay, các quy phạm thực chất đƣợc quy định trong văn bản luật nhƣ Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Đầu tƣ, Bộ luật Hàng hải, Luật Hàng không Dân dụng Việt Nam, .v.v… Tóm lại, phƣơng pháp thực chất có những ƣu điểm sau: Thứ nhất, giải quyết trực tiếp quan hệ dân sự có yêu tố nƣớc ngoài và thƣờng đƣợc áp dụng trong một lĩnh vực cụ thể nhất định (nhƣ mua bán hàng hóa, sở hữu trí tuệ, đầu tƣ, .v.v…) Thứ hai, sử dụng đối với các bên tham gia vào một quan hệ cụ thể và chỉ đối với quốc gia là thành viên của điều ƣớc quốc tế đó và trong nhiều trƣờng hợp chỉ áp dụng với một chủ thể cụ thể và chủ thể này thƣờng biết trƣớc các điều kiện pháp lý khi tham gia vào quan hệ dân sự có yếu tố nƣớc ngoài đó. Thứ ba, việc thực thi đƣợc nâng cao do các quy phạm thực chất trong các điều ƣớc quốc tế đã đƣợc nội luật hóa thành các quy phạm pháp luật của quốc gia.
    8. 17. 12 1.1.3. Các hệ thuộc luật cơ bản Các hệ thuộc luật là các nguyên tắc chọn luật áp dụng đối với mỗi quan hệ dân sự trong tƣ pháp quốc tế. Mỗi quy phạm xung đột đều có phần hệ thuộc của mình. Các quốc gia trong hệ thống pháp luật của mình đều xây dựng và áp dụng các quy phạm xung đột dựa trên các nguyên tắc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức phù hợp với truyền thống pháp lý của quốc gia đó. Xu hƣớng phổ biến của quốc tế trong việc điều chỉnh loại quan hệ xã hội đƣợc đề cập trong phạm vi của quy phạm xung đột. Các hệ thuộc cơ bản sau đây thƣờng đƣợc dùng để điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nƣớc ngoài. (1) Hệ thuộc luật nhân thân (lex personalis): là hệ thống pháp luật của nƣớc mà cá nhân hoặc pháp nhân mang quốc tịch hoặc có nơi cƣ trú. Đây là hệ thuộc luật đƣợc áp dụng phổ biến nhất để điều chỉnh các loại quan hệ dân sự có yếu tố nƣớc ngoài bao gồm: xác định năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự của các bên đƣơng sự là thể nhân, pháp nhân, quan hệ về hôn nhân và gia đình nhƣ điều kiện kết hôn, ly hôn, quan hệ nhân thân giữa tài sản của vợ hoặc chồng, thừa kế đối với di sản là bất động sản … Hệ thuộc luật nhân thân có hai dạng cơ bản là luật quốc tịch (lex nationalis) và luật nơi cƣ trú (lex domicilii): (*) Luật quốc tịch là luật quốc gia mà đƣơng sự mang quốc tịch, ví dụ theo Khoản 1 Điều 762 BLDS 2005 quy định “Năng lực hành vi dân sự của ngƣời nƣớc ngoài đƣợc xác định theo pháp luật của nƣớc mà ngƣời đó là công dân, trừ trƣờng hợp pháp luật của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quy định khác”. (*) Luật nơi cƣ trú là luật của quốc gia mà ở đó đƣơng sự có nơi cƣ trú ổn định (nơi cƣ trú ở đây là nơi thƣờng trú), ví dụ Điều 772 BLDS 2005 quy định trong quan hệ giao dịch dân sự đơn phƣơng, quyền và nghĩa vụ của bên
    9. 18. 13 tự nguyện thực hiện quan hệ giao dịch dân sự đơn phƣơng đƣợc xác định theo pháp luật của nƣớc nơi cƣ trú hoặc nơi có hoạt động chính của bên đó. (2) Hệ thuộc luật quốc tịch của pháp nhân (lex societalis) là luật của quốc gia mà pháp nhân mang quốc tịch. Hệ thuộc này thƣờng đƣợc dùng để xác định quy chế pháp luật của pháp nhân nhƣ: năng lực pháp luật của pháp nhân, tƣ cách chủ thể của pháp nhân, giải quyết vấn đề tài sản của pháp nhân trong trƣờng hợp pháp nhân tổ chức lại hay chấm dứt hoạt động. Tuy nhiên, hiện nay các quốc gia vẫn chƣa thống nhất đƣợc các dấu hiện xác định quốc tịch của pháp nhân. Các quốc gia theo hệ thống luật Châu Âu lục địa sử dụng phƣơng pháp xác định quốc tịch của pháp nhân theo nơi có trụ sở chính của pháp nhân hoặc trung tâm quản lý. Các quốc gia theo hệ thống luật Anh Mỹ và các quốc gia Châu Mỹ La-tinh xác định quốc tịch của pháp nhân theo nơi đăng ký điều lệ hoặc nơi thành lập của pháp nhân. Trong khi đó các quốc gia Hồi giáo lại xác định quốc tịch của pháp nhân thực tế tiến hành hoạt động kinh doanh. (3) Hệ thuộc luật nơi có vật hoặc tài sản (lex rei sitae): là pháp luật đƣợc áp dụng đối với nơi có tài sản. Hệ thuộc này thƣờng đƣợc áp dụng đối với quan hệ sở hữu và thừa kế có yếu tố nƣớc ngoài, đặc biệt là giải quyết quan hệ sở hữu đối với tài sản là bất động sản. (4) Luật nơi thực hiện hành vi (lex loci actus): là pháp luật của nƣớc mà hành vi đã đƣợc thực hiện. Hệ thuộc luật nơi thực hiện hành vi gồm có các dạng cơ bản sau: (*) Luật nơi giao kết hợp đồng (lex loci contractus): là hệ thuộc của pháp luật nơi giao kết hợp đồng. Hệ thuộc luật nơi giao kết hợp đồng đƣợc áp dụng nhằm xác định tính hợp pháp của hợp đồng đƣợc giao kết. Hợp đồng đƣợc giao kết ở quốc gia nào thì áp dụng pháp luật của quốc gia đó. Ví dụ, Việt Nam áp dụng hệ thuộc luật nơi giao kết hợp đồng để xác định hình thức
    10. 19. 14 của hợp đồng thể hiện trong Khoản 1 Điều 770 BLDS 2005 “Hình thức của hợp đồng phải tuân theo pháp luật của nơi giao kết hợp đồng”. Việc xác định thời điểm và nơi ký kết hợp đồng có ý nghĩa quan trọng trong trƣờng hợp hợp đồng đƣợc giao kết vắng mặt. Nhất là trong điều kiện khoa học kỹ thuật phát triển nhƣ hiện nay, các bên có thể ký kết hợp đồng thông qua thƣ điện tử, fax, điện tín, … Trên thế giới có hai trƣờng phái phổ biến để xác định thời điểm và nơi ký kết hợp đồng là: Thuyết tiếp thu: có nghĩa là hợp đồng coi nhƣ đƣợc ký kết khi bên chào hàng nhận đƣợc chấp nhận vô điều kiện chào hàng. Thuyết tiếp thu thƣờng đƣợc áp dụng tại các nƣớc Châu Âu lục địa nhƣ Pháp, Đức và Đông Âu. Thuyến tống phát: có nghĩa là hợp đồng đƣợc coi là đã ký kết khi bên nhận chào hàng chấp nhận vô điều kiện chào hàng và gửi chấp nhận chào hàng vô điều kiện này cho bên chào hàng. (5) Hệ thuộc luật nơi thực hiện hợp đồng (lex regit actum): là pháp luật của nƣớc nơi thực hiện hợp đồng đƣợc ƣu tiên áp dụng đối với hợp đồng đó. Theo đó, hợp đồng đƣợc thực hiện tại quốc gia nào thì pháp luật của quốc gia đó sẽ đƣợc áp dụng để điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên. Hệ thuộc này thƣờng đƣợc áp dụng để giải quyết XĐPL về hợp đồng. Pháp luật Việt Nam quy định tại Khoản 1 Điều 769 BLDS 2005 “Quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng đƣợc xác định theo pháp luật của nƣớc nơi thực hiện hợp đồng, nếu không có thỏa thuận khác”. (6) Hệ thuộc luật nơi thực hiện nghĩa vụ (lex loci solutionis): là pháp luật của quốc gia nơi có nghĩa vụ chính phải thực hiện nhằm mục đích giải quyết những tranh chấp phát sinh từ hợp đồng. Hệ thuộc này dùng để giải quyết XĐPL về nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng . Sau này, thuật ngữ hợp đồng đƣợc các nƣớc phƣơng Tây kế thừa và phát triển và sử dụng chính thức thuật ngữ “hợp đồng”, tiếng Anh là “contract”, tiếng Pháp là “contrat”. Bên cạnh việc thống nhất sử dụng thuật ngữ “hợp đồng” trong các văn bản pháp lý, chúng ta cần phải làm rõ nội hàm của khái niệm “hợp đồng”. Các luật gia từ thời kỳ La Mã đã đặt ra những điều kiện cơ bản để hợp đồng có hiệu lực nhƣ sau: phải có ý chí và sự thể hiện ý chí của các bên tham gia giao dịch; xác định rõ ràng nội dung của hợp đồng; hành vi, công việc trong hợp đồng phải đƣợc thực hiện; đáp ứng những điều kiện về mặt hình thức nhất định . Theo qui định tại Điều 1378 BLDS 1994 của Bang Québec (Canada): “Hợp đồng là sự thống nhất ý chí, theo đó một hoặc nhiều chủ thể phải thực hiện những cam kết đã định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác” . Định nghĩa “hợp đồng” cũng đƣợc qui định tại Điều 1-201 Bộ luật Thƣơng mại Thống nhất Hoa Kỳ (Uniform Commercial Code of United State of America): “Hợp đồng là tổng hợp các nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ sự „thỏa thuận‟ của các bên…”. Văn bản Pháp điển xuất bản lần hai (Restatement 2nd) có nêu một định nghĩa cụ thể hơn: hợp đồng là “một hay một tập hợp các cam kết mà nếu vi phạm những cam kết này thì bị buộc phải thực hiện bằng sự cƣỡng chế của pháp luật, hoặc nói cách khác pháp luật công nhận việc thực hiện những cam kết này là một nghĩa vụ”. Trong Bách Khoa toàn thƣ về pháp luật của Hoa Kỳ cũng có định nghĩa hợp đồng: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai thực thể pháp lý, tạo ra một sự ràng buộc nghĩa vụ nhằm để làm một việc, hoặc để không làm một việc, giao một vật xác định”. Định nghĩa này thể hiện rõ ràng hơn bản chất và mục đích cơ bản của khái niệm hợp đồng và nội dung của nó cũng phù hợp hơn với các định nghĩa về hợp đồng của nhiều quốc gia khác trên thế giới . Thuật ngữ “hợp đồng” chỉ xuất hiện và sử dụng chủ yếu tại Việt Nam kể từ khi Việt Nam trở thành thuộc địa của thực dân Pháp vào giữa thế kỷ 19 trở đi. Trong đời sống thực tế, Việt Nam thƣờng sử dụng các thuật ngữ thay thế cho thuật ngữ hợp đồng: giao kèo, cam kết, giao ƣớc, khế ƣớc, văn tự, văn khế, tờ ƣng thuận, … Trong Quốc Triều Hình luật của thời Lê thƣờng sử dụng các thuật ngữ nhƣ: mua, bán, cầm, cho đƣợc gọi chung là Văn khế . Khái niệm về hợp đồng lần đầu tiên xuất hiện tại Pháp lệnh về Hợp đồng Dân sự năm 1991. Điều 1 của Pháp lệnh về Hợp đồng Dân sự đã đƣa ra định nghĩa về hợp đồng nhƣ sau: “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê, vay, mƣợn, tặng cho tài sản; làm hoặc không làm một việc, dịch vụ hoặc các thoả thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng”. Định nghĩa này khá dài và sử dụng phƣơng pháp liệt kê chi tiết nên rất dễ đến thiếu sót và có khả năng không điều chỉnh đƣợc tất cả các mối quan hệ xã hội có thể xuất hiện trong tƣơng lai. Chính vì vậy, định nghĩa này đã bị thay thế bằng định nghĩa về hợp đồng quy định tại Điều 394 Bộ luật Dân sự 1995 “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Định nghĩa này vẫn đƣợc giữ nguyên theo Điều 388 BLDS 2005. Có thể dễ dàng thấy rằng, qui định tại Điều 388 BLDS 2005 cũng gần giống nhƣ qui định của Luật hợp đồng của Trung Quốc (1999) và đặc biệt là hoàn toàn giống với qui định tại khoản 1 Điều 420 Bộ luật Dân sự Nga (1994). Tóm lại, từ các định nghĩa trên ta có thể kết luận hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên tham gia giao kết hợp đồng, là kết quả của quá trình thƣơng thảo, đàm phán và thống nhất ý chí giữa các bên để làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ đối với nhau, trừ những quyền và nghĩa vụ mà pháp luật có qui định là không thể thay đổi hoặc chấm dứt bằng thỏa thuận của các bên, chủ thể của hợp đồng phải có từ hai bên trở lên.
    11. 29. 24 xác định trong các quan hệ dân sự dựa trên cơ sở quốc tịch, nơi xác lập giao dịch hoặc nơi có tài sản. Trên thực tế quan hệ dân sự rất đa dạng và phong phú. Khái niệm hợp đồng có yếu tố nước ngoài Để xác định hợp đồng trong nƣớc và hợp đồng có yếu tố nƣớc ngoài thì cần phải căn cứ vào “yếu tố nƣớc ngoài” của hợp đồng. Điều này sẽ có ý nghĩa đối với việc xác định luật điều chỉnh đối với hợp đồng đó. Nếu hợp đồng trong nƣớc chỉ chịu điều chỉnh sự điều chỉnh của hệ thống luật trong nƣớc thì các hợp đồng có yếu tố nƣớc ngoài sẽ chịu sự điều chỉnh của không chỉ một hệ thống pháp luật mà còn chịu sự điều chỉnh của rất nhiều hệ thống pháp luật khác nhau. Hiện nay, chƣa có cách hiểu thống nhất giữa các hệ thống pháp luật cũng nhƣ trong các điều ƣớc quốc tế đối với hợp đồng có yếu tố nƣớc ngoài. Một hợp đồng có yếu tố nƣớc ngoài thƣờng đƣợc căn cứ và các yếu tố chủ thể (các bên cƣ trú, trụ sở hoặc có quốc tịch khác nhau), khách thể (đối tƣợng hợp đồng) và sự kiện pháp lý của quan hệ hợp đồng đó (nơi xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt hợp đồng) nhƣ đã nêu cụ thể ở phần yếu tố nƣớc ngoài bên trên. Mỗi quốc gia đều xây dựng hệ thống pháp luật về hợp đồng để điều chỉnh hợp đồng có yếu tố nƣớc ngoài (hay còn gọi là hợp đồng quốc tế) và dẫn đến sự không giống nhau giữa các quốc gia. Điều này có thể bắt nguồn từ hệ thống pháp luật khác nhau (hệ thống civil law và commom law) hoặc do điều kiện, hoàn cảnh kinh tế khác nhau. Tuy nhiên, hợp đồng có yếu tố nƣớc ngoài thƣờng xuất hiện trên phạm vi quốc tế nên trƣớc hết cần phải xem xét trên bình diện quốc tế mà cụ thể ở đây là các điều ƣớc quốc tế. Công ƣớc Viên 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế quy định: “Công ƣớc này áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có trụ sở thƣơng mại tại các quốc gia khác nhau. a. Khi các quốc gia này là các quốc gia thành viên của Công ƣớc, hoặc
    12. 30. 25 b. Khi theo các quy tắc tƣ pháp quốc tế thì luật áp dụng là luật của các nƣớc thành viên công ƣớc. Sự kiện các bên có trụ sở thƣơng mại tại các quốc gia khác nhau không tính đến nếu sự kiện này không xuất phát từ hợp đồng, từ các mối quan hệ đã hình thành hoặc vào thời điểm ký hợp đồng giữa các bên hoặc là từ việc trao đổi thông tin giữa các bên. Quốc tịch của các bên, quy chế dân sự thƣơng mại của họ, tính chất dân sự hay thƣơng mại của hợp đồng không đƣợc xét tới khi xác định phạm vi áp dụng của công ƣớc.” Nguyên tắc hợp đồng thƣơng mại quốc tế (UNIDROIT): Khái niệm hợp đồng quốc tế đƣợc hiểu theo nghĩa rộng nhất có thể là một loại giao dịch pháp lý không thuần túy phát sinh trong phạm vi lãnh thổ quốc gia mà là một quan hệ vƣợt ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia hay đó là “các hợp đồng đòi hỏi sự lựa chọn giữa pháp luật của các quốc gia khác nhau” hoặc là “những quan hệ hợp đồng có ảnh hƣởng đến lợi ích thƣơng mại quốc tế”. Công ƣớc Lahaye 1964 về thống nhất Luật mua bán quốc tế những động sản hữu hình quy định: “Công ƣớc này đƣợc áp dụng đối với hợp đồng mua bán các động sản hữu hình giữa các bên có trụ sở ở các quốc gia khác nhau trong các trƣờng hợp sau: a. Vào thời điểm giao kết hợp đồng có thỏa thuận rằng đối tƣợng của hợp đồng sẽ đƣợc chuyển quy biên giới. b. Khi chào hàng hoặc chấp nhận chào hàng đƣợc lập ở các nƣớc khác nhau. c. Việc chuyển giao tài sản đƣợc thực hiện ở nƣớc ngoài so với nơi thực hiện hành vi chào hàng và chấp nhận chào hàng. Nếu một trong các bên không có trụ sở, thì sẽ áp dụng luật cứ trú của họ. Việc áp dụng công ƣớc không phụ thuộc vào quốc tịch của các bên.” Điều 1 Quy tắc Roma I quy định “Quy tắc áp dụng cho nghĩa vụ hợp
    13. 34. 29 Nhƣ đã đề cập ở trên, hợp đồng phải nằm trong khuôn khổ quy định của pháp luật. Việc các bên lựa chọn một hệ thống pháp luật quốc gia để điều chỉnh hợp đồng nhằm đảm bảo hợp đồng đƣợc các bên phù hợp với quy định của pháp luật và đƣợc đƣợc pháp luật bảo vệ trong quá trình thực hiện hợp đồng. Trên thực tế, do đặc điểm các bên trong hợp đồng có yếu tố nƣớc ngoài đến từ các quốc gia khác nhau nên các bên không thể hiểu một cách toàn diện và đầy đủ đối với hệ thống pháp luật của quốc gia là bên kia trong hợp đồng. Vì vậy, việc lựa chọn duy nhất một hệ thống pháp luật quốc gia để điều chỉnh hợp đồng có thể mang đến nhiều rủi ro do việc một trong các bên không có sự hiểu biết về pháp luật của quốc gia bên kia. Ngoài ra, có thể có những quy định không rõ ràng và có thể tuy là sự không tin tƣởng vào hệ thống pháp luật của quốc gia đó trong việc giải quyết các tranh chấp nếu có xuất phát từ hợp đồng. Vì vậy, ngoài việc lựa chọn một hệ thống pháp luật quốc gia thì các bên có thể tìm đến các điều ƣớc quốc tế trong lĩnh vực hợp đồng vốn đƣợc thừa nhận rộng rãi trên thế giới. Điều ước quốc tế trong lĩnh vực hợp đồng Các bên trong hợp đồng có yếu tố nƣớc ngoài có thể lựa chọn các điều ƣớc quốc tế để làm luật điều chỉnh hợp đồng. Việc lựa chọn các điều ƣớc quốc tế về hợp đồng đáp ứng đƣợc yêu cầu của các bên vì nguồn luật này đƣợc xây dựng trên cơ sở đồng thuận, có tính khách quan và đƣợc các quốc gia tham gia ký kết hợp đồng công nhận . Cụ thể ở đây là các hệ thuộc luật nào sẽ đƣợc áp đối với các quan hệ dân sự, kinh doanh, thƣơng mại, lao động, hôn nhân và gia đình có yếu tố nƣớc ngoài giữa các quốc gia ký kết với nhau. Hiện tại Việt Nam đã ký kết nhiều hiệp định tƣơng trợ tƣ pháp và pháp lý với nhiều quốc gia khác trên thế giới nhƣ với Nga, Lào, Trung Quốc, Pháp, Mông Cổ, Cu Ba, Hung-ga-ri, Bun-ga-ri, An-giê-ri, Đài Loan-Trung Quốc, Kazakhstan, Cam-pu-chia, Triều Tiên, U-crai-na, Ấn Độ, Anh … Đây sẽ là nguồn luật quan trọng để giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng. Ví dụ nhƣ trong hầu hết các hiệp định tƣơng trợ tƣ pháp về dân sự và thƣơng mại đƣợc ký kết giữa Việt Nam và các quốc gia khác đều quy định áp dụng hệ thuộc luật hợp đồng (lex contractus) hoặc luật nơi giao kết hợp đồng (lex loci contractus) hoặc luật nơi có tài sản (lex rei sitae) . Tập quán quốc tế Trong trƣờng hợp pháp luật quốc gia hoặc các điều ƣớc quốc tế điều chỉnh đối với hợp đồng có yếu tố nƣớc ngoài thì một nguồn luật thƣờng đƣợc các bên trong hợp đồng có yếu tố nƣớc ngoài lựa chọn để giải quyết là tập quán quốc tế. Tập quán quốc tế đƣợc coi là luật giữa các thƣơng nhân (lex mercatoria). Việc lựa chọn tập quán trong hợp đồng có yếu tố nƣớc ngoài xuất phát từ việc thực tiễn giao dịch thƣơng mại giữa các thƣơng nhân thƣờng rất phức tạp, có thể các bên trong hợp đồng là từ hai quốc gia nhƣng việc thực hiện hợp đồng lại xảy ra ở nhiều quốc gia khác nhau, thực tiễn thƣơng mại luôn thay đổi và đi trƣớc pháp luật quốc gia và điều ƣớc quốc tế, ví dụ nhƣ trƣờng hợp một công ty Hoa Kỳ và một công ty Việt Nam ký hợp đồng mua bán gạo và địa điểm giao hàng có thể ở Hồng Kông và Singapore. Trong khi pháp luật quốc gia luôn có tính ổn định lâu dài và đƣợc xây dựng trên cơ sở trình độ phát triển kinh tế xã hội của quốc gia đó và có những điểm đặc thù ở mỗi quốc gia. Vì vậy, các thƣơng nhân cùng nhau tự xây dựng và hình thành thói
    14. 41. 36 nƣớc ngoài. Các nguồn luật này bao gồm là pháp luật của quốc gia của chủ thể tham gia vào quan hệ hợp đồng, các điều ƣớc quốc tế và tập quán quốc tế. Ngoài ra, Chƣơng này cũng đƣa ra định nghĩa về xung đột pháp luật trong lĩnh vực hợp đồng. Xung đột pháp luật về hợp đồng xẩy ra từ khi các chủ thể bắt đầu thiết lập quan hệ kinh doanh cho đến tiến tới giao kết hợp đồng. Các vấn đề xung đột pháp luật chủ yếu về hợp đồng là xung đột về hình thức, nội dung và chủ thể của hợp đồng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguyên Tắc Giải Quyết Xung Đột Pháp Luật Về Hợp Đồng
  • Xung Đột Pháp Luật Trong Hợp Đồng Thương Mại Quốc Tế (2)
  • Bài 21: Pháp Luật Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
  • Khái Niệm, Đặc Điểm, Phân Loại Và Hiệu Lực Của Quy Phạm Xung Đột
  • Quy Phạm Xung Đột Là Gì
  • Ai Huu Luat Khoa Viet Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Điểm Chuẩn Khoa Luật Đại Học Quốc Gia Hà Nội 2021,2019
  • Khoa Luật Đại Học Quốc Gia Hà Nội
  • Ngưỡng Điểm Ứng Tuyển Vào Khoa Luật Đh Quốc Gia Hà Nội 2021
  • Ngành Luật Có Những Khoa Nào?
  • Khoa Luật Đh Quốc Gia Hà Nội
  • Mười năm không gặp tưởng chừng như đã...”

    Vậy mà thấm thóat tôi rời trường luật đã trên 40 năm. Khi ra trường, tôi không mấy quan tâm đến việc không còn gặp bạn bè và các thầy ở trường luật. Tôi say sưa lao vào cuộc sống mới, nghề nghiệp mới bên cạnh gia đình mới. Nhưng sau ngày mất nước, rồi di cư qua Mỹ, tôi mới dần dần thấm thía với nổi buồn mất quê hương, mất nhà, mất cửa, mất thầy, mất bạn và cứ ngỡ sẽ mãi mãi xa cách tất cả và mọi người.

    Nhưng rồi nhờ cơ duyên đưa đẩy, tôi đã gặp lại được nhiều gương mặt thân thương từ trường luật qua Hội Ái Hữu Luật Khoa. Tôi đã tìm lại được nhiều kỷ niệm của thời xa xưa. Tôi đã tìm lại được tuổi trẻ vô tư. Và tôi đã được may mắn làm quen thêm rất nhiều người trong giới luật khoa qua các sinh hoạt của Hội. Và tôi đã bắt giữ lại được một số kỷ niệm thật vui, thật đáng quý qua các hình ̉anh tôi đã chụp được trong các buổi gặp mặt của anh em luật khoa.

    Ngồi xem lại từng tấm ảnh, tôi ngậm ngùi thương tiếc các bạn hiền đã vỉnh viễn ra đi, tôi xót xa nghĩ đêń các bạn còn lại nhưng tuổi đã cao, tóc đã bạc, sức khỏe đã kém không còn cùng anh em ăn uống, ca hát, đấu láo hay “cãi lộn”. Tôi so sánh từng tấm ảnh và nhủ thầm: sao mọi người thay đổi quá vậy? Tất cả những cảm giác khó chịu vì giận hờn, vì bất đồng ý kiến, vì đố kỵ tiêu tan khi nhìn lai những tấm ảnh củ: sao lúc đó vui thế, sao đẹp thế, sao hay thế v…v….Tôi thèm muốn sống lại những kỷ niệm đó một lần, một lần nữa thôi. Có được không hả các bạn?

    Tôi đã đọc đâu đó:

    Trăm năm trước thì ta chưa gặp Trăm năm sau biết gặp lại không Cuộc đời sắc sắc không không Thôi thì hãy sống hết lòng với nhau

    Mời các bạn bấm vào các Album Luật Khoa dưới đây để xem các hình ảnh xưa của Luật Khoa và cùng nhau sống lại những quá khứ thật đẹp của chúng ta:

    HỌP MẶT LUẬT KHOA NAM CALI NGÀY 16 THÁNG 8 NĂM 2021

     HỌP MẶT TẾT TRUNG THU CÙA AHLKVN ngày 07/09/2016

    HÌNH ẢNH ĐAI HỘI MỪNG XUÂN MẬU TUẤT

    HÌNH ẢNH ĐẠI HÔI LUẬT KHOA HẺ 2021

    

    MỜI XEM SLIDE SHOW & VIDEO

    ….Qua những hình ảnh của Dại Hội LK Hè 2021 bên California dược tổ chức Chủ

    Nhật vừa qua,thì ở bên VN này ,ngay sáng nay ngày 31.7 ,chúng tôi cũng có một

    buổi Họp Mặt gồm ba TP nhân dịp TP Lê Trong Duật từ Anh Quốc về thăm VN

    Xin gởi kèm ảnh dể chị tùy nghi : Ngoài 2 chúng tôi,có TP Dỗ Hữu Phúc )…

    TP Hoàng Mạnh Hải

    Tang lễ LS Nguyễn Bích Ngọc

    (xin bấm vào đây để xem)

    Xin bấm vào đây để xem:

    Video Gsư Vũ Quốc Thúc nói về 2 tập Hồi Ký cùa mình

    Hợp mặt LK tại Washington DC

    Nhân dịp anh TP Lê Trọng Duật từ Anh quốc về lại thăm VN.Từ trái sang phải là các anh: L.T.Duât, chúng tôi ản…..LS Nguyễn Thế Kỳ,Dỗ Hữu Phúc và H.M.Hải. 

    Nhân dịp anh TP Phạm Văn Phú về VN.Từ trái sang phải là các anh: H.M.Hải, Dỗ Hữu Phúc, Phạm Văn Phú và Phạm Quốc Toản. 

    Nhân dịp anh TP Dặng Dình Long về VN. Từ trái sang phài là các anh Dỗ Hữu Phúc,Phạm Quốc Toản,Trần Thành Dô va chúng tôi Ngồi dối diện không có trong hình là anh D.D.Long.

    Nhân dịp anh TP Nguyển Hồng Nhuận Tâm về VN.Từ trái sang phải là các anh Phạm Quốc Toản….Nguyễn H.N.Tâm,H.M.Hải……..

    Nhân dịp TP Lê Trọng Duật từ Anh Quốc về VN.Từ trái sang phải là các anh : Lê Trọng Duật,Phạm Quốc Toản,…và H.M.Hai………..

    

    

    LS Nguyễn Bích Ngọc

    LS Nguyễn Viết Đĩnh

    LS Lê Công Tâm

    LK Phan Lý Phượng

    Khóa 1962 với GS Nguyễn Huy Đẩu

    Hình ảnh Hợp mặt LK Hè 2013 ṭai Westminster, Nam Cali

    Hình các TPTòa QS họp mặt tại Cali năm 2009

    Từ trái sang phải: Đặng Minh Sơn, Đinh Công Dinh, Lê Văn Quới, Hà Ngọc Phúc Lưu, Nguyễn Văn Mai

    Từ trái sang phải: Lê Văn Quới, Nguyễn Như Tuấn, ĐặngTrọng San, Nguyễn Ngọc Ánh, Đặng Minh Sơn, Nguyễn Hữu Thụy, Đinh Công Dinh, Nguyễn Anh Tuấn, Hùynh Khắc Sử, Nguyễn Quốc Súy

    Giáo sư Vũ QuốcThúc

    HÌNH ẢNH TÒA ÁN SƠ THẨM LONG XUYÊN DO TP LÊ THẾ HIỀN GỞI

    Giáo sư Vũ Quố́c Thúc và Phu Nhân

    Tôi xin chuyển đến Hội AHLK làm tài liệu mấy tấm hình sinh hoạt tại Tòa Sơ Thẩm Long Xuyên vào những năm đầu Thập Kỷ 70 lúc tôi giử chức vụ Chánh Án tại đây: Hình Phiên Tòa Đại Hình năm 1974 với ông Hội Thẩm Tòa Thượng Thẩm SaiGon Trần Thiên Duc ngồi ghế Chánh Thẩm và hai Phụ Thẩm Lê Thế Hiên/Chánh Án Tòa Sơ Thẩm Long Xuyên, Lê Quang Phuc/Ch́anh Án Tòa Sơ Thẩm Châu Đốc. Ông Phó Chưởng Lý Tòa Thượng Thẩm Saigon Nguyễn Mạnh Nhu ngổi ghế Cêng Tố. Đây là phiên tòa Đại Hình chót xử tại Tòa Sơ Thẩm Long Xuyên trước ngày Chế Độ VNCH mất vào tháng 4/1975. Ông Phó Chưởng Lý Nguyễn Mạnh Nhu đã mất sau những năm tháng tù đảy với CS cũng như Ông Bộ Trưởng Bộ Tư Pháp VNCH Thẩm Phán Dương Đức Thụy. Ông Hội Thẩm Trần Thiện Đức thì tôi không nghe tin tức gì. Ông CA/Tòa ST Châu Đốc Lê Quang Phuc hiện đang dịnh cư tại Thủ Phủ Sacramento Bang California.

    Kính chúc Ông Hội Trưởng và Ban điều hành hội AHLK đầy đủ sức khỏe và tinh thẩn điều hành hội. Thân kính.

    Lê Thế Hiển.

    HỌP MẶT ĐÓN TIẾP LS TRẦN THANH HIỆP

    HỌP MẶT ĐÓN TIẾP

    GSƯ NGUYỄN VĂN CANH

    Nhân dịp GS Nguyễn Văn Canh đến Bolsa thuyết trình về chủ quyến của VN đối với 2 hoàng đảo Hoàng Sa, Trường Sa và tham vọng bành trướng của Trung Quốc ngày 7/6/09, Anh Trần Như Tráng và AHLKVN mời GS Canh một chầu phở ở Nguyễn Hụê.

    AHLKVN HỌP MẶT ĐÓN MỪNG

    GS VŨ THỊ VIỆT HƯƠNG VÀ PHU QUÂN

    TỪ PHÁP ĐẾN THĂM NAM CALI

    Phó nhòm: Trần Như Tráng.

    Ls Đoàn Thanh Liêm và LS Trần Thanh Hiệp gặp nhau ở Philadelphia

    HỌP MẶT ĐÓN MỪNG

    LS NGUYỄN THỊ HÒAN VÀ PHU QUÂN

    TỪ MINNESOTA ĐẾN THĂM CALI

    ̣ĐẠI HỘI LUẬT KHOA 2009

    Chủ Tịch Hội AHLKVN chào mừng quan khách

    ( Xin bấm vào hình trên để xem các hình ảnh Đại Hội Luật Khoa 2009 Phần 1)

    ( Xin bấm vào hình trên để xem các hình ảnh Đại Hội Luật Khoa 2009 Phần 2)

    AHLKVN sẽ còn cho đăng thêm rất nhiều hình ảnh xưa của LK. Xin quý vị đón xem.

    LS Tạ Quang Trung

    Tòa Án ĐàLạt

    LS Ngô Tằng Giao và LS Hoàng Cơ Long

    GIA ĐÌNH LUẬT SƯ LÊ CHÍ HIẾU, VỢ LS NGUYỄN THỊ CHÂU VÀ

    HAI CON LS TRACY TRANG LÊ VÀ LS JONATHAN MINH LÊ

    LS TÔN TỊNH PHẤN

    Thẻ Luật sư của LS Nguyễn Thị Tuyết Mai

    Hình trên vừa được Giáo sư Tạ Văn Tài chuyển đến để tặng các cựu sinh viên LK

    Từ trái sang phải:

    LS Lê văn Lưu, LS Phạm Thi Hiền, LS Hoàng Thị Thân, LS Hoàng Cơ Môn, LS Nguyễn Khắc Hùng Lập sau Lễ Tuyên Thệ Luật Sư Tập Sự

    ̣( Hình do LS Hoàng Thị Thân gởi để chia sẽ với các bạn LK)

    Bàn thờ LS Đoàn Văn Tiên

    Anh em LK tụ tập tại nhà quàn Peek Family để tiển đưa LS Đòan Văn Tiên

    Xin bấm vào hình trên để xem toàn bộ hình ành Lễ An Táng LS Đoàn Văn Tiên

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tâm Sự Của Một Cựu Sinh Viên Luật Khoa Sài Gòn
  • Đề Thi 2021 Luật Dân Sự Hp2 Lớp Quản Trị Luật 39
  • Đề Thi Môn Luật Dân Sự Học Phần 2 Lớp Hình Sự Khóa 39
  • Câu Hỏi Ôn Thi Luật Dân Sự 1
  • Ngành Học Mới Tại Dtu Năm 2021: Luật Học