Kiểm Tra Văn Bản Pháp Luật Theo Nguồn Tin

--- Bài mới hơn ---

  • Giới Thiệu Sách Chỉ Dẫn Áp Dụng Các Văn Bản Pháp Luật Về Sở Hữu Trí Tuệ
  • Đăng Ký Sở Hữu Trí Tuệ Năm 2021 Như Thế Nào?
  • Chứng Thực Văn Bản Song Ngữ: Quy Định Rõ Sẽ Hết Cảnh Dân Chạy Lòng Vòng
  • Gỡ Rối Quy Định Chứng Thực “giấy Tờ, Văn Bản Song Ngữ”
  • Cập Nhật 11 Luật Bắt Đầu Có Hiệu Lực Từ 01/01/2021
  • Luật sư Nguyễn Thanh Hà, chủ tịch SBLAW đã có phần trao đổi với các cán bộ pháp chế của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn tại Hội nghị tập huấn kiểm tra văn bản pháp luật.

    Đặt vấn đề

    Là các phương thức cụ thể để triển khai hoạt động kiểm tra văn bản, kiểm tra văn bản theo các nguồn thông tin, kiểm tra văn bản theo chuyên đề, địa bàn, theo ngành, lĩnh vực đóng vai trò là hoạt động hậu kiểm, nhằm đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và tính khả thi của văn bản quy phạm pháp luật sau khi được ban hành và có hiệu lực trong thực tiễn, góp phần xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, minh bạch, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

    Thực tế cho thấy, kiểm tra văn bản theo các nguồn thông tin có ý nghĩa quan trọng không chỉ trong công tác kiểm tra văn bản mà còn trong quản lý nhà nước. Đây được xem là một phương thức để Nhà nước, cơ quan hành chính nhà nước “lắng nghe”, tiếp nhận và giải quyết phản hồi của nhân dân về chất lượng, hiệu quả quản lý nhà nước bằng pháp luật đã được thực hiện thông qua việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Ngược lại, về phía nhân dân, nó cũng là phương thức để nhân dân thực hiện quyền “dân bàn”, “dân kiểm tra” trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

    Đối với chính công tác kiểm tra văn bản, kiểm tra văn bản theo các nguồn thông tin giúp hoạt động này gần gũi hơn với người dân và doanh nghiệp, gần gũi hơn với từng địa phương, từng ngành đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của tổ chức và công dân.

      KIỂM TRA VĂN BẢN THEO NGUỒN THÔNG TIN

    Khái niệm Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật theo các nguồn thông tin

    Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật theo các nguồn thông tin là cách gọi ngắn gọi của phương thức kiểm tra văn bản khi nhận được yêu cầu, kiến nghị của các cơ quan, tổ chức, cá nhân phản ánh về văn bản có dấu hiệu trái pháp luật – là một trong ba phương thức kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật – được quy định tại khoản 2 Điều 106 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (có hiệu lực từ ngày 01/7/2016).

    Nguồn thông tin phục vụ công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật (sau đây gọi là nguồn thông tin) gồm:

    (i) Các phương tiện thông tin đại chúng (bao gồm: Báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử) và cổng thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức Việt Nam và

    (ii) Phản ánh của các cơ quan, tổ chức, cá nhân (trực tiếp phản ánh hoặc gửi văn bản yêu cầu, kiến nghị qua đường bưu điện hoặc qua thư điện tử).

    Nội dung thông tin được sử dụng trong hoạt động kiểm tra văn bản theo phương thức này là phản ánh về văn bản hoặc nội dung có dấu hiệu trái pháp luật của văn bản. Cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản có trách nhiệm tiếp nhận những phản ánh này, xem xét, xác định tính chính xác của thông tin và xác định văn bản gốc, chứa đựng nội dung trái pháp luật được phản ánh để thực hiện kiểm tra văn bản theo quy trình luật định.

    Từ những phân tích trên, có thể thấy kiểm tra văn bản theo các nguồn thông tin là việc cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản thực hiện xem xét, đối chiếu quy định của pháp luật hoặc văn bản có dấu hiệu trái pháp luật theo phản ánh của cơ quan, tổ chức, công dân hoặc thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng, cổng thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức Việt Nam với văn bản làm căn cứ pháp lý nhằm phát hiện những nội dung trái pháp luật, kịp thời xử lý nhằm đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản trong hệ thống pháp luật.

      Đối tượng của hoạt động kiểm tra văn bản theo các nguồn thông tin

    Là một phương thức của hoạt động kiểm tra văn bản, nên kiểm tra văn bản theo các nguồn thông tin cũng có đối tượng là các văn bản quy phạm pháp luật và văn bản có chứa quy phạm pháp luật. Điểm đặc biệt trong đối tượng kiểm tra theo phương thức này và cũng chỉ với phương thức này mới thực hiện được chính là việc kiểm tra đối với văn bản có chứa quy phạm pháp luật.

    Căn nguyên của khác biệt này xuất phát từ chính bản chất của văn bản có chứa quy phạm pháp luật. Như chúng ta đều biết, văn bản có chứa quy phạm pháp luật thực chất là văn bản hành chính cá biệt nhưng lại chứa quy tắc xử sự chung. Vì là văn bản cá biệt, nên nó chỉ được phát hành đến những chủ thể cụ thể thuộc đối tượng điều chỉnh của văn bản, không được phổ biến, tuyên truyền rộng rãi và đặc biệt, không được gửi đến cơ quan có thẩm quyền kiểm tra như văn bản quy phạm pháp luật. Chính vì thế, chỉ những chủ thể này mới có đầy đủ điều kiện phát hiện được nội dung có thể là nội dung trái pháp luật của văn bản. Pháp luật về kiểm tra văn bản cho phép những chủ thể này phản ánh trực tiếp nội dung đã phát hiện tới cơ quan có thẩm quyền kiểm tra để văn bản này được thực hiện kiểm tra theo quy trình.

    Ngoài ra, đối với văn bản quy phạm pháp luật, để huy động tối đa sự tham gia của nhân dân vào quá trình quản lý nhà nước, mặt khác, trong nhiều tình huống, việc kiểm tra loại văn bản này của cơ quan có thẩm quyền kiểm tra không theo kịp “tốc độ” ban hành văn bản nên việc tiếp nhận thông tin kiểm tra để thực hiện đối với đối tượng này vẫn được thực hiện.

      Đặc trưng của hoạt động kiểm tra văn bản theo các nguồn thông tin

    Hoạt động kiểm tra văn bản theo các nguồn thông tin có các đặc trưng cơ bản sau:

    3.1. Có sự tham gia rộng rãi của cộng đồng dân cư, các phương tiện thông tin đại chúng, cơ quan, tổ chức vào hoạt động kiểm tra văn bản: Như trên đã phân tích, hoạt động kiểm tra văn bản theo các nguồn thông tin được thực hiện trên cơ sở thông tin phục vụ công tác kiểm tra văn bản được một hoặc nhiều đối tượng gồm: các phương tiện thông tin đại chúng, cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản, từ đó phát sinh hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản. Chính vì vậy, sự tham gia rộng rãi của của cộng đồng dân cư, các phương tiện thông tin đại chúng, cơ quan, tổ chức là đặc trưng cơ bản của kiểm tra văn bản theo các nguồn thông tin.

    3.2. Có tính lợi ích, tính phức tạp, nhạy cảm: Qua theo dõi, tổng hợp những văn bản được kiểm tra, xử lý theo các nguồn thông tin cho thấy, phần lớn các văn bản được phản ánh để thực hiện kiểm tra, xử lý bằng phương thức này đều do nội dung của văn bản này đã ảnh hưởng trực tiếp tới quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể nên chính những chủ thể này phải phản ánh với cơ quan có thẩm quyền kiểm tra để thực hiện biện pháp “tự vệ”. Việc phản ánh này là một việc đúng đắn, được pháp luật ghi nhận.

    3.3. Xử lý phải nhanh chóng, triệt để: Kiểm tra văn bản theo các nguồn thông tin mang tính đại chúng, việc kiểm tra, phát hiện và xử lý kịp thời nội dung trái pháp luật của văn bản góp phần giảm bức xúc của dư luận xã hội, tạo lòng tin của cơ quan, tổ chức, công dân vào nhà nước và pháp luật. Ngoài ra, việc xử lý nhanh chóng, triệt để cũng xuất phát từ việc tham gia đông đảo của lực lượng xã hội vào hoạt động kiểm tra này, các cơ quan/người ban hành văn bản cũng chịu sức ép nhất định từ các đối tượng trên. Vì vậy, việc xử lý nhanh chóng, triệt để cũng là một yêu cầu, đặc trưng của phương thức kiểm tra văn bản này.

    3.4. Có “tâm lý đám đông”: Tâm lý đám đông ở đây muốn nói đến một hiện tượng tâm lý xã hội, xảy ra đối với các đối tượng chịu sự tác động của văn bản pháp luật, các đối tượng khác, báo chí, một số phương tiện truyền thông… trước một quy phạm phạm pháp luật hay văn bản do cơ quan nhà nước ban hành. Hầu hết những đối tượng trên cùng có một cách hiểu, một cách phản ứng giống nhau. Tuy nhiên, việc này chỉ do một số người “khêu” lên, các đối tượng khác mặc dù chưa nghiên cứu kỹ lưỡng cũng đồng loạt nhất trí và có những phản ứng, thậm chí bức xúc tương tự. Thực tế cho thấy, một số văn bản đã bị xã hội phản ứng không tốt và cho rằng sai trái, tuy nhiên, khi thực hiện kiểm tra thì văn bản không có nội dung trái pháp luật, mặc dù có thể có một vài nội dung chưa hợp lý, khả thi. Vì vậy, cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra văn bản cần hết sức thận trọng khi kiểm tra văn bản theo các nguồn thông tin, không nên chủ quan, tin tưởng vào các “phát hiện”, các “phản ánh”… vì có thể văn bản được phản ánh không có sai phạm mà bị trở thành “tâm điểm” do tâm lý đám đông. Chỉ có thể coi đó đơn thuần là “nguồn thông tin”, chưa thể kết luận điều gì đối với nội dung của văn bản đó.

    4.MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ KIỂM TRA VĂN BẢN THEO NGUỒN THÔNG TIN Từ kết quả kiểm tra vản bản theo các nguồn thông tin, chúng tôi có một số đánh giá như sau:

    Về thể chế: Thể chế hiện hành về kiểm tra, xử lý văn bản có thể được đánh giá là một hệ thống thể chế khá đầy đủ, từ quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đến Nghị định hướng dẫn. Hệ thống quy định này đã đặt nền móng cho việc triển khai công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật trên thực tiễn. Những năm qua, để tổ chức triển khai nhiệm vụ này, hệ thống cơ quan kiểm tra văn bản đã được thành lập từ trung ương đến địa phương, đã thực hiện kiểm tra hàng vạn văn bản quy phạm pháp luật và văn bản có chứa quy phạm pháp luật, góp phần bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, công dân, góp phần xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật…

    Về tổ chức, biên chế, cộng tác viên và các điều kiện bảo đảm khác: Với hệ thống tổ chức cơ quan Tư pháp từ trung ương tới địa phương và đội ngũ cộng tác viên thuộc các ngành, các lĩnh vực đã giúp triển khai hiệu quả công tác kiểm tra văn bản nói chung, kiểm tra văn bản theo các nguồn thông tin được toàn diện và hiệu quả.

    Kiểm tra văn bản theo các nguồn thông tin ngày càng phát huy và khẳng định vai trò đối với công tác hoàn thiện pháp luật cũng như bảo vệ lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân. Hiện nay, người dân và doanh nghiệp rất quan tâm đến hình thức kiểm tra văn bản này, coi đây như là một “cứu cánh”, là một “kênh” để phản ánh những vướng mắc, những dấu hiệu trái pháp luật của văn bản, là “kênh” để thông qua đó, yêu cầu cơ quan nhà nước hủy bỏ các quy định trái pháp luật nhằm khắc phục việc thực hiện những quy định trái gây ra những thiệt hại cho cá nhân hay doanh nghiệp.

    Về thể chế: Thể chế về kiểm tra văn bản là một nhánh trong hệ thống thể chế về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tuy vậy, hệ thống thể chế nhánh chưa có sự gắn kết với hệ thống văn bản pháp luật về xây dựng, hoàn thiện nói chung và đặc biệt là chưa có sự gắn kết với hệ thống pháp luật về xây dựng văn bản, về kiểm soát thủ tục hành chính và theo dõi thi hành pháp luật. Đây là những hoạt động có mối quan hệ khăng khít và chịu ảnh hưởng, tác động lẫn nhau. Chính thể chế chung như vậy đã dẫn tới một thực tế là hoạt động kiểm tra văn bản theo các nguồn thông tin không “tận dụng” được thông tin từ hoạt động thẩm định, hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính và hoạt động theo dõi thi hành pháp luật. Trong những hoạt động này, chỉ có kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động mà ở đó người có thẩm quyền kiểm tra có quyền ra thông báo, yêu cầu người, cơ quan đã ban hành văn bản xử lý văn bản hoặc nội dung trái pháp luật trong văn bản đã được thực hiện; trong khi kết thúc các hoạt động thẩm định, kiểm soát thủ tục hành chính và theo dõi thi hành pháp luật, cơ quan có thẩm quyền chỉ có thể đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền xem xét nội dung chưa phù hợp đã được phát hiện. Do vậy, có thể nói, kiểm tra văn bản là “điều kiện bảo đảm” tính khả thi của các đề nghị đã được thực hiện khi tiến hành các hoạt động khác trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật.

    Mặt khác, cũng do chưa có sự gắn kết, liên thông với các hoạt động xây dựng pháp luật, nên nội dung kiểm tra và nội dung thẩm định còn chưa phù hợp; những cách hiểu khác nhau về tính hợp pháp trong thẩm định và trong kiểm tra văn bản còn gây ra những tranh cãi không đáng có trong thực tiễn triển khai các hoạt động này.

    Trong hoạt động kiểm tra văn bản theo các nguồn thông tin: Cần xác định rằng, đây là những phương thức kiểm tra văn bản đặc thù, kết quả của phương thức này tác động mạnh mẽ tới đời sống kinh tế – xã hội và hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Do đó, cần có quy định riêng, đặc thù, đáp ứng được yêu cầu, đặc trưng của nó, tuy vậy, quy định hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu này. Chẳng hạn:

    Đối với kiểm tra văn bản theo các nguồn thông tin, các văn bản được kiểm tra theo phương thức này và phát hiện có dấu hiệu trái pháp luật thì quy trình xử lý đối với những văn bản này đòi hỏi phải được tiến hành nhanh, gọn và triệt để, đặc biệt là đối với công văn hành chính có chứa quy phạm pháp luật. Vì thế, quy trình xử lý phải nhanh hơn và hình thức xử lý phải “mạnh” hơn đối với các văn bản khác. Điều này đòi hỏi phải quy định thẩm quyền rộng hơn cho cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra văn bản nhằm nâng cao hơn nữa giá trị của thông báo kiểm tra (thậm chí có thể quy định thẩm quyền đình chỉ thi hành đối với những văn bản cá biệt có chứa quy phạm pháp luật cho Trưởng đoàn kiểm tra liên ngành). Mặt khác, cần có quy định về quy trình tiếp nhận thông tin; cơ chế phối hợp giữa các cơ quan trong xử lý thông tin; trách nhiệm và hình thức công bố văn bản trái pháp luật đã được kiểm tra theo phương thức này; trách nhiệm cung cấp thông tin, kết quả kiểm tra, hình thức xử lý đối với những văn bản đã được phát hiện qua phương thức kiểm tra này; việc lưu trữ hồ sơ, kết quả kiểm tra văn bản theo các nguồn thông tin…

    Ngoài ra, pháp luật hiện hành về kiểm tra, xử lý văn bản cũng chưa có quy định cụ thể vấn đề xử lý trách nhiệm của cơ quan/người ban hành văn bản trái pháp luật trong việc tự kiểm tra, xử lý văn bản do mình ban hành khi nhận được yêu cầu/phản ánh; xử lý trách nhiệm trong trường hợp không tuân thủ việc kiểm tra văn bản, gửi văn bản để kiểm tra; kiểm tra không phát hiện nội dung trái pháp luật; không kiểm tra văn bản; không xử lý văn bản trái pháp luật theo thẩm quyền; quy định cụ thể về thi đua, khen thưởng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích trong kiểm tra, xử lý văn bản, đặc biệt là thành tích trong phát hiện và kiến nghị xử lý văn bản có dấu hiệu trái pháp luật…

    Về tổ chức, biên chế, đội ngũ cộng tác viên và các điều kiện bảo đảm khác: Với tổ chức chưa thống nhất giữa các Bộ (có Bộ có cán bộ chuyên trách, có Bộ có bộ phận trong tổ chức pháp chế…) hay giữa các địa phương (có nơi là phòng kiểm tra văn bản, có nơi ghép với xây dựng pháp luật, có nơi ghép với theo dõi thi hành pháp luật, có nơi ghép với tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật), số lượng biên chế còn mỏng, nhiều cán bộ trẻ, chưa có kinh nghiệm; lại thêm đội ngũ cộng tác viên hoạt động hình thức “đánh trống ghi tên”, hiệu quả hoạt động thấp; lượng kinh phí bố trí không đáp ứng yêu cầu của công tác kiểm tra văn bản nói chung chứ chưa kể đến kinh phí cho công tác kiểm tra văn bản theo các nguồn thông tin nói riêng gặp rất nhiều khó khăn. Cụ thể là:

    Một số Bộ, ngành và địa phương bố trí biên chế làm công tác kiểm tra văn bản QPPL còn hạn chế, thậm chí có Sở Tư pháp mới chỉ bố trí được 01 công chức là công tác này (Sở Tư pháp Khánh Hòa). Có Sở Tư pháp chưa thành lập được phòng riêng làm công tác kiểm tra văn bản mà giao nhiệm vụ này cho Phòng xây dựng văn bản phụ trách (Thái Bình, Nam Đinh, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Phú Yên, KonTum…). Nhiều Sở Tư pháp mới chỉ bố chí 02 biên chế cho làm công tác kiểm tra, theo dõi thi hành pháp luật (Điện Biên, Bắc Ninh, Bình Phước, Bắc Kạn, Hà Nam, Hà Giang, Tuyên Quang…) Trình độ chuyên môn chưa đồng đều, đặc biệt là ở cấp huyện, xã. Hầu hết các Sở, ngành chưa thành lập được phòng pháp chế theo quy định tại Nghị định số 55/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế

    Các Bộ, ngành và địa phương bố trí kinh phí cho công tác này còn chưa đồng đều, ở một số nơi còn thấp; một số Bộ, ngành và địa phương (đặc biệt là cấp huyện) chưa được cấp kinh phí độc lập phục vụ công tác này gây khó khăn khi triển khai công việc, chẳng hạn như: Bộ Khoa học và công nghệ năm 2012 và 2013 không được cấp kinh phí; Bắc Ninh, Hà Nam, Nam Định… không được cấp kinh phí riêng cho công tác kiểm tra văn bản.

    Hầu hết các Bộ, ngành và địa phương chưa xây dựng được hệ cơ sở dữ liệu phục vụ công tác kiểm tra, xử lý văn bản; việc củng cố, phát triển đội ngũ cộng tác viên kiểm tra văn bản còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.

    Về công tác kiểm tra văn bản:

    Mặc dù kiểm tra văn bản theo các nguồn thông tin có ý nghĩa hết sức quan trọng và vai trò to lớn trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, ổn định đời sống xã hội, song, việc chú trọng triển khai công tác này trên thực tế còn nhiều hạn chế, bất cập. Việc triển khai kiểm tra văn bản theo các phương thức này mới chủ yếu được thực hiện tại Bộ Tư pháp; quá trình triển khai thực tiễn chưa có sự gắn kết giữa kiểm tra văn bản với thẩm định, kiểm soát thủ tục hành chính, theo dõi thi hành pháp luật, rà soát văn bản quy phạm pháp luật; chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa trung ương với địa phương; việc xử lý văn bản trái pháp luật đã được phát hiện còn chưa kịp thời, chưa triệt để, nhiều trường hợp còn mang tính đối phó nên các văn bản trái pháp luật này vẫn được áp dụng, dẫn đến tác động tiêu cực, thậm chí gây bức xúc trong xã hội.

    Năng lực, kỹ năng nghiệp vụ của cán bộ, công chức, cộng tác viên làm công tác kiểm tra văn bản còn hạn chế nên việc tác nghiệp kiểm tra chủ yếu tập trung vào thể thức và kỹ thuật trình bày mà chưa đi sâu vào nội dung văn bản; chưa chú trọng kiểm tra những văn bản thuộc các lĩnh vực kinh tế – xã hội có nhiều bức xúc được dư luận quan tâm.

    3.1. Nguyên nhân khách quan:

    Trong những năm gần đây, sự suy giảm của nền kinh tế thế giới đã tác động mạnh mẽ tới kinh tế trong nước, làm cho đời sống kinh tế, xã hội thay đổi, giá cả tăng trong khi thu nhập công chức không theo kịp, vì vậy, một làn sóng chảy máu chất xám từ môi trường “công” sang môi trường “tư” đã làm giảm một số lượng đáng kể cán bộ, công chức có chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, có bề dày kinh nghiệm và khả năng làm việc chuyên môn cao;

    Mặt khác, cũng do chịu ảnh hướng của kinh tế thế giới một số chủ trương, chính sách của nhà nước, của Chính phủ áp dụng cho cán bộ, công chức làm việc trong lĩnh vực này chưa có điều kiện để thực hiện (như chính sách đãi ngộ đối với công chức làm công tác pháp chế được quy định tại Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế). Do vậy, chưa “giữ chân” được công chức giàu kinh nghiệm, giỏi chuyên môn và chưa thu hút được lực lượng lao động được đào tạo chính thống, bài bản, có năng lực, trình độ “đầu quân” cho công tác này;

    Một nguyên nhân khách quan khác, (thực chất cũng là một điều tín hiệu đáng mừng, đánh tự hào cho toàn Ngành nhưng cũng đang đặt ra cho chúng ta những thách thức rất lớn, trong đó có thách thức đối với công tác kiểm tra văn bản nói chung, kiểm tra văn bản theo các nguồn thông tin, theo chuyên đề, địa bàn, theo ngành, lĩnh vực), thời gian gần đây, “công tác Tư pháp đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ, đánh dấu sự phát triển vượt bậc của toàn Ngành cả về vị trí và tổ chức bộ máy”, đã được Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao thêm nhiều nhiệm vụ mới, quan trọng. Mặc dù đây là một tín hiệu rất đáng tự hào, song với số biên chế gần như không thay đổi, việc được giao thêm nhiều nhiệm vụ mới đã tạo thêm “gánh nặng” công việc cho từng đơn vị, từng công chức trong toàn Ngành.

    Thêm nữa, với sự tin tưởng lớn lao, Quốc hội, Chính phủ, cơ quan, tổ chức, nhân dân, xã hội lại càng đặt ra những đòi, yêu cầu ngày càng cao hơn, khắt khe hơn. Chính vì vậy, yêu cầu đối với công tác tư pháp nói chung, công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật nói riêng và đặc biệt là hoạt động kiểm tra văn bản theo các nguồn thông tin là “cây cầu nối thân thiện” giữa Nhà nước và công dân lại càng đứng trước những thách thức mới, lớn lao; đòi hỏi từng cán bộ, công chức phải không ngừng sáng tạo, nỗ lực nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc. Thời gian qua, đội ngũ cán bộ, công chức toàn ngành đã rất nỗ lực, song đây là vấn đề có tính chất lâu dài, không thể một sớm, một chiều mà thể đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi đó.

    4.2. Nguyên nhân chủ quan:

    Bên cạnh những nguyên nhân khách quan ảnh hưởng tới hiệu quả công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật đã được phân tích ở trên, những tồn tại, hạn chế của công tác kiểm tra văn bản theo các nguồn thông tin còn xuất phát từ nguyên nhân chủ quan, nội tại của chính công tác này và đây là những nguyên nhân chính, tác động trực tiếp tới hiệu quả công tác này:

    Nhận thức của một số Lãnh đạo Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các cấp về vị trí, vai trò của công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật nói chung và công tác kiểm tra văn bản theo các nguồn thông tin có lúc, có nơi còn chưa triệt để, chưa coi trọng đúng với giá trị của công tác này trong tiễn; thậm chí còn có thái độ né tránh, chưa quan tâm đầu tư con người, cơ sở vật chất, bộ máy cho công tác này;

    Một nguyên nhân khác và là nguyên nhân chính đã được phân tích ở trên đó là những hạn chế trong hệ thống thể chế về kiểm tra văn bản nói chung và hạn chế trong thể chế kiểm tra văn bản theo các nguồn thông tin.

    Mặc dù đã có hệ thống thể chế từ Luật đến hệ thống quy chế nội bộ, song hệ thống thể chế này chưa đầy đủ, như: chưa có quy định đặc thù cho phương thức kiểm tra đặc thù, chưa quy định cơ chế phối hợp, trách nhiệm phối hợp, chế tài phù hợp khi không thực hiện phối hợp trong thẩm định, kiểm tra, kiểm soát thủ tục hành chính, rà soát, theo dõi thi hành pháp luật và kiểm tra văn bản, phối hợp giữa các cơ quan trung ương, phối hợp giữa trung ương và địa phương; hoặc đã có quy định nhưng chưa đủ mạnh, như: quy định về thẩm quyền xử lý, giá trị của kết luận về văn bản trái pháp luật, chưa quy định cụ thể trách nhiệm khi không xử lý văn bản đúng thời hạn, trách nhiệm của cơ quan, người đã tham mưu ban hành văn bản trái pháp luật; chưa có cơ chế đánh giá hiệu quả hoạt động giữa các cơ quan có thẩm quyền kiểm tra để tạo môi trường học hỏi lẫn nhau, đồng thời, xem xét thi đua khen thưởng; hoặc quy định về kinh phí và các điều kiện bảo đảm chưa đáp ứng yêu cầu của công tác này…

    Đây chính là nguyên nhân cơ bản, tác động tới mọi lĩnh vực. Khi khi pháp luật đã quy định rõ ràng, chế tài đủ mạnh thì mọi tồn tại, hạn chế sẽ được giải quyết, kể cả nhận thức. (Dù nhận thức chưa đạt nhưng dưới sức mạnh pháp lý, người thừa hành cũng phải làm theo và lâu dần có thể thay đổi nhận thức). Chính vì vậy, yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thêm một bước nữa thể chế cho công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật nói chung, kiểm tra văn bản theo các nguồn thông tin, theo địa bàn, theo ngành, lĩnh vực – Dù Luật và Nghị định hướng dẫn công tác này mới có hiệu lực (01/7/2016). Nó còn cấp thiết hơn khi Hiến pháp 2013 đã có hiệu lực, những quy định về quyền con người, quyền công dân được ghi nhận ngày càng mạnh mẽ và rõ ràng hơn, các thẩm quyền về xử lý văn bản được quy định trong Hiến pháp và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, các luật về tổ chức cũng đang được sửa đổi để đảm bảo phù hợp với Hiến pháp mới. Nhiệm vụ này được đặt lên vai Bộ Tư pháp-Cơ quan giúp Chính phủ quản lý nhà nước thống nhất trên toàn quốc về công tác này. Đặc biệt, Bộ Tư pháp là cơ quan chủ trì soạn thảo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản hướng dẫn thi hành, đồng thời, thẩm định các Luật, Nghị định do các Bộ khác có thẩm quyền trình, do vậy Bộ Tư pháp cần có cái nhìn tổng thể để đưa những quy định đồng bộ vào những văn bản này nhằm đảm bảo tính khả thi cao nhất trong quá trình triển khai./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xử Lý Trách Nhiệm Người Ban Hành Văn Bản Trái Pháp Luật
  • Cần Xử Lý Nghiêm Người Ban Hành Văn Bản Trái Pháp Luật
  • “tình Trạng Ban Hành Văn Bản Trái Pháp Luật Có Chiều Hướng Gia Tăng”
  • Phát Hiện Hơn 5.600 Văn Bản Trái Pháp Luật: Trăn Trở Của Cơ Quan “tuýt Còi”
  • 26 Văn Bản Trái Pháp Luật Do Bộ Trưởng, Thủ Trưởng Cơ Quan Ngang Bộ Ký: Ai Chịu Trách Nhiệm?
  • Nội Dung Kiểm Tra Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Hệ Thống Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Theo Luật Mới (Sửa Đổi) Có Hiệu Lực Từ 01/01/2021
  • Thẩm Quyền, Hình Thức, Nội Dung Của Văn Bản Pháp Luật
  • 2 Văn Bản Pháp Quy Của Bộ Tài Chính Có Hiệu Lực Từ Tháng 8
  • Đề Tài: Hệ Thống Văn Bản Pháp Quy Trong Lĩnh Vực Chất Thải Rắn, 9Đ
  • Trả Lời Của Bộ Tư Pháp Về Thế Nào Là Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật, Văn Bản Quy Định Chi Tiết
  • Điều 3 Nghị định 40/2010/NĐ-CP Về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật. Nội dung kiểm tra văn bản bao gồm.

    Nội dung kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật:

    Điều 3 Nghị định 40/2010/NĐ-CP Về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật. Nội dung kiểm tra văn bản bao gồm:

    Nội dung kiểm tra văn bản là việc xem xét, đánh giá và kết luận về tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản theo các nội dung được quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 03 tháng 6 năm 2008 (sau đây gọi tắt là Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật) và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ngày 03 tháng 12 năm 2004 (sau đây gọi tắt là Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân).

    Văn bản hợp hiến, hợp pháp là văn bản bảo đảm đủ các điều kiện sau đây:

    * Ban hành đúng căn cứ pháp lý.

    – Có căn cứ pháp lý cho việc ban hành;

    – Những văn bản làm căn cứ pháp lý đó đã được ký ban hành, thông qua vào thời điểm ban hành văn bản được kiểm tra.

    * Ban hành đúng thẩm quyền.

    Thẩm quyền ban hành văn bản bao gồm: thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội dung.

    – Thẩm quyền về hình thức là việc cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản theo đúng hình thức đã được quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân.

    * Nội dung của văn bản phù hợp với quy định của pháp luật.

    – Văn bản được ban hành theo thẩm quyền phải phù hợp với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; các văn bản do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên;

    – Văn bản quy phạm pháp luật không quy định lại các nội dung đã được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật khác và bảo đảm thống nhất giữa văn bản hiện hành với văn bản mới được ban hành của cùng một cơ quan;

    – Văn bản do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ khác ban hành phải phù hợp với văn bản của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quản lý nhà nước về lĩnh vực đó;

    Văn bản do các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành phải bảo đảm yêu cầu không làm cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

    * Văn bản được ban hành đúng trình tự, thủ tục, thể thức và kỹ thuật trình bày theo quy định của pháp luật.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tính Khả Thi Của Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Của Chính Quyền Địa Phương
  • Hiệu Lực Theo Thời Gian Của Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Quy Định Về Hiệu Lực Và Cách Thức Áp Dụng Văn Bản Pháp Luật
  • Hiệu Lực Theo Thời Gian Của Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Là Gì ?
  • #1 Những Sai Sót Thường Gặp Của Người Tư Vấn Pháp Luật Bằng Lời Nói
  • Luận Văn: Kiểm Tra, Xử Lý Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật, Hay

    --- Bài mới hơn ---

  • Nội Dung Giám Sát, Kiểm Tra Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Trình Tự Thực Hiện Tự Kiểm Tra Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Của Vụ Pháp Chế
  • Hội Nghị Tập Huấn Công Tác Xây Dựng Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Của Bộ Nội Vụ Năm 2021
  • Một Số Khó Khăn, Vướng Mắc Trong Quá Trình Thi Hành Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Năm 2021 Và Đề Xuất, Kiến Nghị
  • Bàn Về Ngoại Lệ Của Quy Định Trong Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • , DOWNLOAD ZALO 0932091562 at BẢNG BÁO GIÁ DỊCH VỤ VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

    Published on

    Luận văn thạc sĩ ngành luật: Kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật ở Bộ Nội Vụ, cho các bạn tham khảo làm đề tài nghiên cứu

    1. 1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT TRẦN VĂN KHIÊM KIỂM TRA, XỬ LÝ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT Ở BỘ NỘI VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Hà Nội – 2021
    2. 2. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT TRẦN VĂN KHIÊM KIỂM TRA, XỬ LÝ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT Ở BỘ NỘI VỤ Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật Mã số : 60380101 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: chúng tôi Phạm Hồng Thái Hà Nội – 2021
    3. 3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƢỜI CAM ĐOAN Trần Văn Khiêm
    4. 4. LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện viết Luận văn, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn về thời gian, tƣ liệu, song, đƣợc sự giúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáo Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, Học viện Hành chính Quốc gia, Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật – Bộ Tƣ pháp cũng nhƣ các cán bộ, công chức Bộ Nội vụ, học viên đã hoàn thành Luận văn “Kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật ở Bộ Nội vụ”, theo đúng thời gian và yêu cầu của nhà Trƣờng. Với tình cảm trân trọng và biết ơn, tôi xin trân thành cảm ơn đến: – Ban chủ nhiệm Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, các thầy, cô giáo, cán bộ, viên chức các Phòng của Khoa. – Đặc biệt, tôi xin cám ơn chúng tôi Phạm Hồng Thái đã tận tình hƣớng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn; – Các đồng nghiệp công tác tại Bộ Tƣ pháp, Bộ Nội vụ đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu này; Trong quá trình làm đề tài, bản thân tôi đã cố gắng tìm hiểu tài liệu, học hỏi kinh nghiệm để tổng hợp, đánh giá. Tuy nhiên, Luận văn không tránh khỏi những hạn chế, rất mong nhận đƣợc sự góp ý của các thầy, cô giáo, các anh, chị và các bạn. Trân trọng!
    5. 6. 2.1. Khái quát chung về Bộ Nội vụ……………………………………………………………………….. 41 2.2. Văn bản QPPL do Bộ, cơ quan ngang bộ, HĐND và UBND cấp tỉnh ban hành thuộc lĩnh vực quản lý nhà nƣớc của Bộ Nội vụ. ………………………… 44 2.2.1.VBQPPL không đúng căn cứ pháp lý……………………………………………………………. 45 2.2.2.VBQPPL không đúng thẩm quyền ……………………………………………………………….. 47 2.2.3.VBQPPL không phù hợp với văn bản đƣợc áp dụng làm căn cứ ban hành………………………………………………………………………………………….52 2.2.4.VBQPPL không đƣợc ban hành đúng trình tự, thủ tục, thể thức, kỹ thuật trình bày ………………………………………………………………………………………56 2.3. Hoạt động kiểm tra, xử lý VBQPPL của Bộ Nội vụ từ năm 2007 đến nay………………………………………………………………………………………………. 59 2.3.1. Xây dựng, hoàn thiện thể chế………………………………………………………………………. 59 2.3.2. Tổ chức tập huấn, bồi dƣỡng nghiệp vụ và kiện toàn tổ chức biên chế, xây dựng đội ngũ cộng tác viên ……………………………………………………………………………. 61 2.3.3. Xây dựng hệ cơ sở dữ liệu phục vụ kiểm tra VBQPPL…………………………………… 61 2.3.4. Bố trí kinh phí, nhân lực cho hoạt động kiểm tra, xử lý VBQPPL. ………………….. 61 2.4. Những kết quả đạt đƣợc và những hạn chế trong kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật ở Bộ Nội vụ………………………………………………………………. 64 2.4.1. Kết quả và nguyên nhân……………………………………………………………………………… 64 2.4.1.1. Kết quả đạt đƣợc……………………………………………………………………………. 64 2.4.1.2. Nguyên nhân của kết quả ………………………………………………………………. 71 2.4.2. Hạn chế và nguyên nhân…………………………………………………………………………….. 72 2.4.2.1. Hạn chế trong hoạt động kiểm tra, xử lý VBQPPL …………………………….72 2.4.2.2. Nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động kiểm tra, xử lý VBQPPL …………………………………………………………………………………………………..74 Kết luận chƣơng 2…………………………………………………………………………….80 Chƣơng 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA, XỬ LÝ VBQPPL CỦA BỘ NỘI VỤ……………………………..82 3.1. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về kiểm tra, xử lý VBQPPL4 …………………. 82 3.2. Tăng cƣờng năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác kiểm tra, xử lý VBQPPL ở Bộ Nội vụ4………………………………………………………………… 87 3.3. Tăng cƣờng sự phối hợp giữa các cơ quan trong hoạt động kiểm tra, xử lý VBQPPL4…………………………………………………………………………………………………. 88 3.4. Bảo đảm sự tham gia rộng rãi của các tổ chức chính trị – xã hội, của các phƣơng tiện thông tin đại chúng và của mọi tầng lớp nhân dân 4………………………. 88
    6. 7. 3.5. Củng cố, kiện toàn tổ chức, biên chế và thực hiện chế độ đãi ngộ thích hợp đối với ngƣời làm công tác kiểm tra văn bản4……………………………………………………….. 89 3.6. Thực hiện tốt việc xây dựng và quản lý hệ cơ sở dữ liệu phục vụ cho công tác kiểm tra, xử lý văn bản trong phạm vi thẩm quyền đƣợc giao4 ……………… 91 3.7. Bố trí kinh phí kiểm tra và thực hiện tốt chế độ báo cáo công tác kiểm tra VBQPPL4 ………………………………………………………………………………………. 93 Kết luận chƣơng 34 …………………………………………………………………………………….91 KẾT LUẬN4 ……………………………………………………………………………………95 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO14………………………………………..99
    7. 8. DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT HĐND Hội đồng nhân dân QPPL Quy phạm pháp luật UBND Ủy ban nhân dân VBQPPL Văn bản quy phạm pháp luật
    8. 9. 1 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Hiến pháp năm 2013 khẳng định Nhà nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân (Điều 2). Xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền đòi hỏi thực hiện quản lý đời sống xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cƣờng pháp chế. Đảng và Nhà nƣớc ta xác định: “quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật ( Điều 8). Để quản lý xã hội bằng pháp luật, các cơ quan Nhà nƣớc đã ban hành nhiều Bộ luật, Luật và các văn bản quy phạm pháp luật trên tất cả các lĩnh vực của đời sống nhà nƣớc và xã hội, nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý và hội nhập quốc tế. Đảng và Nhà nƣớc ta luôn xác định: “Nâng cao năng lực quản lý và điều hành của Nhà nƣớc theo pháp luật, tăng cƣờng pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ luật, kỷ cƣơng” . Nhƣ vậy, từ khái niệm này, chúng ta có thể thấy, văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có những đặc điểm sau đây: Một là, do cơ quan nhà nƣớc ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền. Hai là, đƣợc ban hành theo đúng hình thức, trình tự, thủ tục quy định đối với từng hình thức văn bản. Ba là, có chứa các quy tắc xử sự chung, đƣợc áp dụng nhiều lần, đối với mọi đối tƣợng hoặc một nhóm đối tƣợng, có hiệu lực trong phạm vi toàn quốc hoặc từng địa phƣơng. Văn bản quy phạm pháp luật không chỉ đích danh một sự việc cụ thể mà chỉ dự liệu trƣớc những điều kiện, hoàn cảnh xảy ra, khi đó con ngƣời tham gia các quan hệ xã hội mà văn bản điều chỉnh phải tuân theo quy tắc xử sự nhất định. Bốn là, đƣợc Nhà nƣớc bảo đảm thực hiện bằng biện pháp nhƣ tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục và các biện pháp về tổ chức, hành chính, kinh tế. Trong trƣờng hợp cần thiết, Nhà nƣớc có thể áp dụng biện pháp cƣỡng chế bắt buộc thi hành và quy định chế tài đối với ngƣời vi phạm (chế tài hình sự, chế tài hành chính, chế tài dân sự,…). b) Văn bản QPPL do Bộ, cơ quan ngang bộ ban hành. Điều 2 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 quy định hệ thống VBQPPL hiện nay gồm: Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội; Lệnh, quyết định của Chủ tịch nƣớc; Nghị định của Chính phủ; Quyết định của Thủ tƣớng Chính phủ; Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thông tƣ của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Thông tƣ của Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Thông tƣ của Bộ trƣởng, Thủ trƣởng cơ quan ngang bộ; Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nƣớc; Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan trung ƣơng của tổ chức chính trị – xã hội; Thông tƣ liên tịch giữa Chánh
    9. 18. 10 án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trƣởng, Thủ trƣởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa các Bộ trƣởng, Thủ trƣởng cơ quan ngang bộ; Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân (gồm: Nghị quyết của Hội đồng nhân dân; Quyết định, Chỉ thị của Ủy ban nhân dân). Đối với Bộ, cơ quan ngang bộ, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 quy định: Chỉ có Bộ trƣởng, Thủ trƣởng cơ quan ngang bộ mới có thẩm quyền ban hành VBQPPL. Đây là thẩm quyền của ngƣời đứng đầu Bộ, cơ quan ngang bộ. Hình thức VBQPPL do Bộ trƣởng, Thủ trƣởng cơ quan ngang bộ ban hành là thông tƣ (Thông tƣ của Bộ trƣởng, Thủ trƣởng cơ quan ngang bộ) và thông tƣ liên tịch (Thông tƣ liên tịch giữa Bộ trƣởng, Thủ trƣởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa các Bộ trƣởng, Thủ trƣởng cơ quan ngang bộ). Tuy nhiên, có thể thấy định nghĩa về VBQPPL nói chung cũng nhƣ VBQPPL của Bộ trƣởng, Thủ trƣởng cơ quan ngang bộ nói riêng chƣa thực sự đáp ứng yêu cầu của việc thực thi pháp luật. Bởi vì, trên thực tế, dù đã có định nghĩa, nhƣng vẫn thƣờng gặp khó khăn khi xác định một văn bản cụ thể có phải là VBQPPL hay không vì, chƣa có tiêu chí xác định thế nào là quy tắc xử sự chung. Đây là vấn đề thƣờng gặp khi tiến hành kiểm tra VBQPPL của các Bộ, cơ quan ngang bộ, HĐND và UBND cấp tỉnh. 1.1.2. Thẩm quyền ban hành VBQPPL của Bộ Nội Vụ Thẩm quyền ban hành VBQPPL đƣợc hiểu là giới hạn quyền lực do pháp luật quy định cho chủ thể ban hành VBQPPL để giải quyết những vấn đề thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn. Thẩm quyền ban hành VBQPPL bao gồm thẩm quyền hình thức và thẩm quyền nội dung. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 quy định: “Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục đƣợc quy định Trong Luật này hoặc trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, trong đó có quy tắc
    10. 19. 11 xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, đƣợc Nhà nƣớc đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội . Kiểm tra, xử lý VBQPPL là hoạt động đƣợc tiến hành sau khi văn bản đƣợc ban hành, nằm trong hệ thống các hoạt động nhằm nâng cao chất lƣợng và hoàn thiện hệ thống pháp luật bằng cách loại bỏ những quy định mâu thuẫn, chồng chéo, làm cho hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch. Việc đặt ra nhiệm vụ kiểm tra, xử lý VBQPPL trong khi văn bản đó đã đƣợc thẩm định, thẩm tra trƣớc khi ban hành và đƣợc rà soát, giám sát sau khi ban hành là vì: – Kiểm tra VBQPPL giúp phát hiện, xử lý những quy định mâu thuẫn, chồng chéo, trái pháp luật của văn bản mà các cơ quan có thẩm quyền thẩm định, thẩm tra có thể không hoặc chƣa phát hiện đƣợc hết. Hơn nữa, hoạt động thẩm định, thẩm tra chỉ mang tính chất khuyến nghị nên không thể xử lý triệt để những mâu thuẫn, chồng chéo trong dự thảo VBQPPL (nếu những đề nghị của cơ quan thẩm định không đƣợc cơ quan soạn thảo tiếp thu). – Sau khi VBQPPL đƣợc ban hành và tổ chức thực hiện trong thực tế, tình hình kinh tế – xã hội có thể thay đổi hoặc cơ quan nhà nƣớc cấp trên ban hành VBQPPL mới làm cho nội dung của văn bản đó không còn phù hợp, nếu không đƣợc phát hiện và xử lý kịp thời sẽ gây ra những hậu quả nhất định. – Hoạt động kiểm tra văn bản có thể phát hiện và xử lý nhanh chóng, kịp thời những văn bản trái pháp luật vì hoạt động này đƣợc tiến hành thƣờng xuyên, ngay sau khi văn bản đƣợc ban hành với sự tham gia đồng thời của nhiều chủ thể (khác với hoạt động định kỳ, không thƣờng xuyên của hoạt động giám sát, rà soát văn bản). Ngoài ra, kiểm tra, xử lý văn bản góp phần thực hiện nhiệm vụ đổi mới quy trình xây dựng, ban hành VBQPPL, vì thông qua việc xem xét, đánh giá văn bản, công tác này chỉ ra đƣợc những thiếu sót, khiếm khuyết trong quy trình ban hành văn bản, để có những kiến nghị nhằm đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng và ban hành VBQPPL. Hoạt động kiểm tra văn bản còn có ý nghĩa đối với việc duy trì trật tự quản lý nhà nƣớc và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Thực tế cho thấy, một số VBQPPL trái pháp luật đã xâm phạm đến trật tự quản lý,
    11. 23. 15 làm suy giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý của cơ quan nhà nƣớc và ảnh hƣởng tới quyền, lợi ích của các cơ quan, tổ chức, công dân, nếu không đƣợc kiểm tra, xử lý kịp thời sẽ ảnh hƣởng đến lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nƣớc. Hoạt động kiểm tra, xử lý VBQPPL cũng góp phần tạo dựng môi trƣờng pháp lý minh bạch, ổn định, lành mạnh, thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế. Bởi vì các nhà đầu tƣ và các đối tác nƣớc ngoài luôn quan tâm tới những rủi ro về chính sách, pháp luật; muốn giảm thiểu rủi ro, thì trƣớc hết cần phải loại bỏ mâu thuẫn, chồng chéo, trái pháp luật, và đó chính là nhiệm vụ của hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản. Do tính chất và tầm quan trọng nhƣ vậy, nên ở nƣớc ta trƣớc đây, hoạt động kiểm tra văn bản cũng đã đƣợc đặt ra và giao cho hệ thống Viện kiểm sát nhân dân. Qua thời gian thực hiện, bên cạnh những kết quả đạt đƣợc, hoạt động kiểm sát văn bản của Viện kiểm sát nhân dân đã bộc lộ những khiếm khuyết, hạn chế, chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu của thực tiễn. Từ thực tế đó và nhằm tạo điều kiện cho Viện kiểm sát nhân dân tập trung thực hiện tốt chức năng công tố, Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của Quốc hội Việt Nam sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 đã quy định Viện kiểm sát nhân dân chỉ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tƣ pháp, không thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân thủ pháp luật đối với các văn bản quy phạm pháp luật của Bộ, cơ quan ngang Bộ, HĐND và UBND các cấp. Đồng thời, trên cơ sở Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Tổ chức HĐND và UBND, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 135/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật, hiện nay đƣợc thay thế bằng Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật (sau đây gọi tắt là Nghị định số 40/2010/NĐ-CP) đã tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật trên phạm vi toàn quốc. b) Mục đích của kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật Mục đích của việc kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật là nhằm phát hiện những nội dung trái pháp luật của văn bản để kịp thời đình chỉ việc thi hành,
    12. 24. 16 sửa đổi, huỷ bỏ hoặc bãi bỏ văn bản, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật, đồng thời kiến nghị cơ quan, ngƣời có thẩm quyền xác định trách nhiệm của cơ quan, ngƣời có thẩm quyền đã ban hành văn bản trái pháp luật, góp phần nâng cao chất lƣợng, hiệu quả công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật . Ngoài ra, còn có hoạt động kiểm tra của cơ quan, ngƣời có thẩm quyền ban hành đối với chính văn bản của chính cơ quan mình ban hành (còn gọi là tự kiểm tra). Hoạt động này đƣợc tiến hành thƣờng xuyên ngay sau khi văn bản đƣợc ban hành; khi nhận đƣợc yêu cầu, kiến nghị, thông báo của cơ quan, ngƣời có thẩm quyền kiểm tra văn bản hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác và các phƣơng tiện thông tin đại chúng. 1.2.4. Nội dung kiểm tra VBQPPL Nội dung kiểm tra văn bản là kiểm tra sự phù hợp của văn bản đƣợc kiểm tra với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và văn bản của cơ quan nhà nƣớc cấp trên; sự phù hợp của hình thức văn bản với nội dung văn bản; sự phù hợp của nội dung văn bản với thẩm quyền của cơ quan ban hành văn bản; sự thống nhất giữa VBQPPL hiện hành với VBQPPL của cùng một cơ quan. Việc xem xét, đánh giá, kết luận về tính hợp pháp của văn bản dựa trên các tiêu chí sau đây: Thứ nhất, văn bản quy phạm pháp luật đƣợc ban hành đúng căn cứ pháp lý . Đúng căn cứ pháp lý là có căn cứ cho việc ban hành văn bản và căn cứ pháp lý làm cơ sở ban hành văn bản quy phạm pháp luật là những văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn đang có hiệu lực hoặc đã đƣợc ký ban hành, thông qua mà chƣa có hiệu lực tại thời điểm ban hành nhƣng có hiệu lực trƣớc hoặc cùng thời điểm với văn bản đƣợc ban hành đó (đây là điểm mới so với quy định tại Nghị định số 135 và Thông tư số 01 trước đây), bao gồm: Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nƣớc cấp trên có thẩm quyền quy định về chức năng, nhiệm vụ của cơ quan ban hành văn bản; văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nƣớc cấp trên có thẩm quyền quy định về vấn đề thuộc đối tƣợng, phạm vi điều chỉnh của văn bản. Thứ hai, văn bản quy phạm pháp luật đƣợc ban hành đúng thẩm quyền . Văn bản quy phạm pháp luật ban hành đúng thẩm quyền gồm thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội dung:
    13. 35. 27 – Thẩm quyền về hình thức: Cơ quan, ngƣời có thẩm quyền ban hành văn bản chỉ đƣợc ban hành văn bản theo đúng hình thức (tên gọi) văn bản quy phạm pháp luật đã đƣợc quy định cho cơ quan, ngƣời có thẩm quyền đó (đƣợc quy định tại Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004); – Thẩm quyền về nội dung: Cơ quan, ngƣời có thẩm quyền chỉ đƣợc ban hành các văn bản có nội dung phù hợp với thẩm quyền của mình đƣợc pháp luật cho phép hoặc đã đƣợc phân công, phân cấp. Thẩm quyền này đƣợc xác định trong các văn bản của cơ quan nhà nƣớc cấp trên có thẩm quyền quy định về phân công, phân cấp, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nƣớc cụ thể của từng cơ quan, từng cấp, từng ngành đối với từng lĩnh vực. Thứ ba, nội dung văn bản phù hợp với quy định của pháp luật, thể hiện: – Thông tƣ và Thông tƣ liên tịch của Bộ trƣởng, Thủ trƣởng cơ quan ngang bộ ban hành hoặc liên tịch ban hành phải phù hợp với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết, nghị quyết liên tịch của Uỷ ban thƣờng vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nƣớc, nghị định, nghị quyết liên tịch của Chính phủ, quyết định của Thủ tƣớng Chính phủ và thông tƣ của Bộ trƣởng, Thủ trƣởng cơ quan ngang bộ khác về lĩnh vực do Bộ trƣởng, Thủ trƣởng cơ quan ngang bộ đó quản lý; – Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phải phù hợp với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết, nghị quyết liên tịch của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nƣớc, nghị định, nghị quyết liên tịch của Chính phủ, quyết định của Thủ tƣớng Chính phủ và thông tƣ, thông tƣ liên tịch của Bộ trƣởng, Thủ trƣởng cơ quan ngang bộ (sau đây gọi chung là văn bản của các cơ quan nhà nƣớc Trung ƣơng). – Quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phải phù hợp với văn bản của các cơ quan nhà nƣớc Trung ƣơng và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.
    14. 36. 28 – Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện phải phù hợp với văn bản của các cơ quan nhà nƣớc Trung ƣơng và văn bản của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh. – Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã phải phù hợp với văn bản của các cơ quan nhà nƣớc Trung ƣơng, văn bản của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và huyện; – Quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân cấp huyện phải phù hợp với văn bản của các cơ quan nhà nƣớc Trung ƣơng, văn bản của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện. – Quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân cấp xã phải phù hợp với văn bản của các cơ quan nhà nƣớc Trung ƣơng, văn bản của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, huyện và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã. – Văn bản quy phạm pháp luật không quy định lại các nội dung đã đƣợc quy định trong văn bản quy phạm pháp luật khác và bảo đảm thống nhất giữa văn bản hiện hành với văn bản mới đƣợc ban hành của cùng một cơ quan. Ngoài ra, văn bản đƣợc kiểm tra còn phải phù hợp với các Điều ƣớc quốc tế mà nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập. Đối với văn bản đƣợc kiểm tra điều chỉnh những vấn đề đã đƣợc quy định tại Điều ƣớc quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập thì Điều ƣớc quốc tế đó cũng là cơ sở pháp lý để kiểm tra văn bản đó. Thứ tư, văn bản đƣợc kiểm tra phải đƣợc ban hành đúng trình tự, thủ tục, thể thức, kỹ thuật trình bày theo quy định của pháp luật. Trình bày đúng thể thức và kỹ thuật, bao gồm các nội dung: Tiêu đề (tiêu ngữ, quốc hiệu); tên cơ quan, tổ chức ban hành; số và ký hiệu của văn bản (ghi năm ban hành ở giữa số và ký hiệu); địa danh, ngày, tháng, năm ban hành; tên loại văn bản và trích yếu nội dung của văn bản; nội dung văn bản; viết đúng chính tả, ngữ pháp tiếng Việt và văn phong pháp luật; nơi nhận; chức vụ, họ tên và chữ ký của ngƣời có thẩm quyền; đóng dấu của cơ quan, tổ chức (kể cả các dấu chỉ mức độ mật…).
    15. 38. 30 thủ tục, tính hợp hiến, hợp pháp chứ không phải là cơ quan chuyên môn mà góp ý sâu vào từng nội dung quy định của dự thảo ấy. Mặc dù Nghị định số 40/2010/NĐ-CP không quy định “tính khả thi, không vi phạm quyền và nghĩa vụ của công dân” trong nội dung kiểm tra văn bản, nhƣng tôi cho đây là vấn đề cần thiết, cần bổ sung trong việc kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các Bộ, ngành và địa phƣơng. 1.2.5. Quy trình kiểm tra VBQPPL Trong công tác kiểm tra, quy trình kiểm tra rất quan trọng, quy trình kiểm tra là một chỉnh thể khép kín, gồm nhiều khâu, nhiều bƣớc, từ việc gửi, nhận, tổ chức kiểm tra và kiến nghị xử lý văn bản. Quy trình kiểm tra mà hợp lý, khoa học sẽ giúp cho ngƣời kiểm tra thực hiện việc kiểm tra đƣợc nhanh chóng, hiệu quả và đạt chất lƣợng cao. a) Thứ nhất, quy trình tự kiểm tra Về nguyên tắc, việc tự kiểm tra đƣợc tiến hành thƣờng xuyên tại chính cơ quan ban hành văn bản đối với văn bản do mình ban hành. Tuy nhiên, tuỳ theo tính chất, phạm vi, yêu cầu quản lý và số lƣợng văn bản đƣợc ban hành của Bộ, cơ quan ngang bộ, và từng địa phƣơng, việc tự kiểm tra văn bản có thể đƣợc giao cho tổ chức pháp chế Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan tƣ pháp địa phƣơng trực tiếp thực hiện hoặc phân công cho các đơn vị thuộc Bộ, cơ quan ngang bộ, các Sở, ban, ngành của địa phƣơng thực hiện theo lĩnh vực đƣợc giao phụ trách với điều kiện bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ và phát huy vai trò làm đầu mối của cơ quan pháp chế, tƣ pháp trong việc xây dựng kế hoạch, đôn đốc theo dõi công tác tự kiểm tra, tổng hợp và báo cáo kết quả tự kiểm tra với các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền. Riêng đối với văn bản có chứa quy phạm pháp luật, việc tự kiểm tra đƣợc tiến hành khi có yêu cầu, kiến nghị, khiếu nại của cơ quan, tổ chức, các cơ quan thông tin đại chúng, cán bộ, công chức cơ quan kiểm tra văn bản tự phát hiện trong quá trình kiểm tra văn bản. Khi phát hành văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan, đơn vị có trách nhiệm phát hành gửi văn bản cho cơ quan, đơn vị đƣợc phân công làm đầu mối tự kiểm tra để thực hiện việc tự kiểm tra. Trong trƣờng hợp nhận đƣợc yêu cầu, kiến nghị, khiếu nại của cơ quan, tổ
    16. 39. 31 chức, cá nhân hoặc cơ quan thông tin đại chúng về những văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhƣng không đƣợc ban hành bằng hình thức văn bản quy phạm pháp luật và văn bản do cơ quan, ngƣời không có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật ban hành, thì cơ quan, đơn vị có trách nhiệm ban hành những văn bản đó phải gửi ngay cho cơ quan, đơn vị đƣợc phân công làm đầu mối tự kiểm tra. Quá trình tự kiểm tra phát hiện văn bản có nội dung trái pháp luật hoặc không còn phù hợp, cơ quan, đơn vị đƣợc phân công tự kiểm tra có trách nhiệm thông báo ngay cho cơ quan, đơn vị đã chủ trì soạn thảo, trình văn bản, đồng thời phối hợp trao đổi để thống nhất những nội dung trái pháp luật hoặc không còn phù hợp, thống nhất các biện pháp xử lý và chuẩn bị dự thảo văn bản xử lý, báo cáo với cơ quan, ngƣời đã ban hành văn bản để kịp thời xử lý theo thẩm quyền. Việc tự kiểm tra đƣợc tiến hành theo các bƣớc sau: – Bước 1: Gửi văn bản kiểm tra. Đối với VBQPPL đã đƣợc cơ quan, ngƣời có thẩm quyền ký ban hành, khi phát hành văn bản, đơn vị phát hành văn bản có trách nhiệm đồng thời gửi văn bản cho đơn vị đƣợc phân công kiểm tra văn bản để thực hiện việc kiểm tra. Đối với văn bản liên tịch, mặc dù không chủ trì soạn thảo và phát hành, nhƣng là chủ thể phối hợp thì khi nhận đƣợc văn bản phải sao gửi tới cơ quan, đơn vị đƣợc phân công làm đầu mối tự kiểm tra để thực hiện việc tự kiểm tra. – Bước 2: Nhận văn bản tự kiểm tra. Cơ quan, đơn vị đƣợc phân công nhiệm vụ kiểm tra khi nhận đƣợc văn bản phải vào “sổ văn bản đến”. Việc lập riêng Sổ văn bản đến giúp ngƣời quản lý theo dõi, kiểm tra chính xác số văn bản mà cơ quan có thẩm quyền phát hành đã đƣợc tự kiểm tra, đồng thời cũng theo dõi đƣợc thời gian kiểm tra đối với văn bản đó. Công chức nhận đƣợc văn bản lãnh đạo cơ quan, đơn vị đƣợc giao kiểm tra phải thực hiện việc tự kiểm tra hoặc giao cho cộng tác viên thực hiện. – Bước 3: Tiến hành tự kiểm tra. Bƣớc này do ngƣời kiểm tra thực hiện trên cơ sở đối chiếu tỉ mỉ, cẩn thận từng nội dung văn bản đƣợc kiểm tra với văn bản làm cơ sở pháp lý.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Danh Mục Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Hết Hiệu Lực Toàn Bộ
  • Cấp Xã Không Nên Được Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Có Nên Giao Cấp Xã Được Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật?
  • Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật 1996
  • Căn Cứ Pháp Lý Để Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Nội Dung Giám Sát, Kiểm Tra Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Trình Tự Thực Hiện Tự Kiểm Tra Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Của Vụ Pháp Chế
  • Hội Nghị Tập Huấn Công Tác Xây Dựng Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Của Bộ Nội Vụ Năm 2021
  • Một Số Khó Khăn, Vướng Mắc Trong Quá Trình Thi Hành Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Năm 2021 Và Đề Xuất, Kiến Nghị
  • Bàn Về Ngoại Lệ Của Quy Định Trong Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Điểm Mới Về Thẩm Quyền Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Giám sát, kiểm tra là một nội dung của hoạt động quản lý nhà nước và mang tính quyền lực nhà nước mà biểu hiện rõ nét nhất là cơ quan giám sát, kiểm tra được quyền áp dụng những biện pháp xử lý mang lại hậuquả bất lợi cho cơ quan ban hành văn bản. Việc tuyên bố một văn bản là có dấu hiệu sai trái không chỉ mang tính pháp lý đơn thuần mà còn mang màu sắc chính trị, bởi vì ban hành văn bản trái pháp luật chính là hành động làm giảm uy tín của các cơ quan nhà nước và là biểu hiện tiêu cực của hoạt động quản lý nhà nước. Vì vậy, nội dung giám sát, kiểm tra phải được xác định rõ ràng để một mặt giúp chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản có thể lường trước và tránh để xảy ra vi phạm, mặt khác, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động giám sát, kiểm tra, giới hạn phạm vi hành động của cơ quan kiểm tra nhằm tránh sự tuỳ tiện khi sử dụng những thẩm quyền mang tính quyền lực nhà nước.

    2. Kiểm tra trước và kiểm tra sau đối với văn bản

    ‘Việc kiểm tra sau không thể trở thành một mối lo vô hình đối với cơ quan ban hành văn bản và càng không thể tạo ra một tâm lý e ngại, sợ sai phạm, làm triệt tiêu tính năng động của nhà quản lý dẫn đến né tránh việc ra quyết định ‘

    Giám sát, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật thực chất là sự xem xét, đánh giá hình thức và nội dung văn bản để kết luận về tính đúng đắn của văn bản quy phạm pháp luật. Những tiêu chí có tính quyết kiểm tra sau đối với văn bản khi bản thân tiêu chí về sự sai trái còn mơ hồ, không xác định và thiếu căn cứ pháp lý. Nếu như những vấn đề thuộc nội dung thẩm định, thẩm tra theo pháp luật hiện hành là tương đối thích hợp, góp phần làm tăng chất lượng của văn bản quy phạm pháp luật thì nó có thể có tác dụng ngược lại một khi được chuyển một cách cơ học thành nội dung kiểm tra sau. Việc kiểm tra sau không thể trở thành một mối lo vô hình đối với cơ quan ban hành văn bản và càng không thể tạo ra một tâm lý e ngại, sợ sai phạm, làm triệt tiêu tính năng động của nhà quản lý dẫn đến né tránh việc ra quyết định. Từ đó, cần phân biệt để tránh xu hướng đồng nhất nội dung kiểm tra trước đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật với nội dung kiểm tra sau đối với sản phẩm cuối cùng của quy trình xây dựng pháp luật là văn bản quy phạm pháp luật.

    3. Nội dung giám sát, kiểm tra

    định khi đánh giá một văn bản quy phạm pháp luật là sự tuân thủ thẩm quyền hình thức, thẩm quyền nội dung và sự phù hợp của văn bản với các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước cấp trên. Với tư duy đó, nội dung kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật bao gồm các vấn đề sau đây:

    Thẩm quyền ban hành văn bản

    Theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Điều 1) thì văn bản quy phạm pháp luật trước hết phải là văn bản được ban hành bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quản lý nhà nước là một hoạt động bao gồm các nội dung đa dạng và được thực hiện bởi các chủ thể khác nhau. Tuy nhiên, không phải chủ thể quản lý nhà nước nào cũng có chức năng điều chỉnh pháp luật. Trong hệ thống cơ quan hành pháp, ngoài Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, chỉ các Bộ, cơ quan ngang Bộ mới có thẩm quyền ban hành văn bản có chứa quy phạm pháp luật. Đối với các cơ quan chính quyền địa phương, quyền lập quy được giao cho Hội đồng nhân dân với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương và Uỷ ban nhân dân ư cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. Các chủ thể khác như cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp, mặc dù có thẩm quyền quản lý nhà nước nhưng không có quyền đặt ra các quy phạm pháp luật. phạm pháp luật, Luật quy định hình thức văn bản của mỗi loại cơ quan. Bên cạnh đó, Luật còn xác định thẩm quyền nội dung của từng loại văn bản. Chẳng hạn như Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ được ban hành để hướng dẫn thực hiện những quy định được luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Ban hành văn bản quy phạm pháp luật là một nội dung quản lý nhà nước, vì vậy, nó phải tuân thủ nguyên tắc pháp chế và kỷ luật trong hoạt động quản lý, có nghĩa là mỗi chủ thể được giao những thẩm quyền mang tính quyền lực nhà nước chỉ được phép hành động trong khuôn khổ và giới hạn thẩm quyền luật định. Hành vi ban hành văn bản quy phạm pháp luật sai thẩm quyền phải được thừa nhận là sự vi phạm Hiến pháp và luật và đương nhiên, sản phẩm của hành vi đó phải được kịp thời xử lý để khôi phục tính pháp chế trong hoạt động xây dựng pháp luật. Như vậy,

    ‘ Một văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng được ban hành bởi một chủ thể không có thẩm quyền khôngthể được coi là một văn bản quy phạm pháp luật ‘

    Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị quyết, nghị định của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ giao thuộc phạm vi ngành, lĩnh vực do mình phụ trách. Như vậy, giám sát, kiểm tra hình thức văn bản quy phạm pháp luật được tập trung vào những vấn đề sau đây:

    ưKiểm tra sự phù hợp của hình thức văn bản của cơ quan nhà nước với hình thức văn bản quy phạm pháp luật mà cơ quan đó có thẩm quyền ban hành theo quy định của Luật;

    – Kiểm tra sự phù hợp của nội dung văn bản với hình thức văn bản. Việc vi phạm quy tắc lựa chọn hình một văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng

    được ban hành bởi một chủ thể không có thẩm quyền không thể được coi là một văn bản quy phạm pháp luật. Chỉ riêng vi phạm thẩm quyền ban hành đã là một dấu hiệu đủ để đi đến kết luận về sự sai trái cuả văn bản mà không cần tiến hành bước tiếp theo là xem xét nội dung của văn bản.

    Văn bản quy phạm pháp luật phải được ban hành theo đúng hình thức luật định. Để thực hiện thẩm quyền quản lý nhà nước hiểu theo nghĩa rộng của từ này, các cơ quan nhà nước có thể ra các quyết định quản lý đa dạng, trong đó có thể có công văn, thông báo… Riêng đối với văn bản quy thức văn bản quy phạm pháp luật không thể đánh giá một cách đơn thuần là lỗi kỹ thuật, đặc biệt là trong trường hợp cơ quan nhà nước thay vì ban hành một văn bản dưới hình thức luật định lại sử dụng công văn, thông báo để đề ra quy phạm pháp luật. Trước hết, điều này chính là sự vi phạm các nguyên tắc quản lý nhà nước. Dưới một góc độ khác, loại văn bản sai trái này làm phá vỡ tính hoàn thiện, thống nhất của hệ thống pháp luật. Nhưng quan trọng hơn cả là việc ban hành văn bản sai hình thức đương nhiên sẽ dẫn đến hậu quả là vi phạm các quy định về trình tự, thủ tục xây dựng văn bản, đồng thời còn kéo theo xâu chuỗi những vi phạm khác là văn bản sẽ không được công bố, không được gửi để giám sát, kiểm tra…Vì lẽ đó, xem xét hình thức văn bản quy phạm pháp luật là một nội dung không thể thiếu trong giám sát, kiểm tra.

    Tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản

    Văn bản quy phạm pháp luật phải được ban hành bởi một chủ thể có thẩm quyền, phải đúng về hình thức và đúng về nội dung. Giám sát, kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản, thực chất là xem xét, đánh giá về mặt nội dung văn bản và đây chính là trọng tâm của hoạt động kiểm tra trước cũng như kiểm tra sau. Tính thống nhất của hệ thống pháp luật và nguyên tắc pháp chế trong hoạt động xây dựng pháp luật đòi hỏi sự chấp hành các quy định về thứ bậc hiệu lực pháp lý của văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời bảo đảm sự thống nhất giữa các văn bản có giá trị pháp lý tương đương. Theo đó, văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước cấp dưới ban hành phải phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; văn bản quy phạm pháp luật do các Bộ, cơ quan ngang Bộ ban hành không được trái với văn bản chuyên ngành của Bộ, cơ quan ngang Bộ khác; văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân không được mâu thuẫn với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cùng cấp…

    Giám sát, kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật tập trung vào những điểm chính sau đây:

    – Xem xét sự phù hợp của các quy định của văn bản với tinh thần và các nguyên tắc của đạo luật cơ bản;

    – Đánh giá sự phù hợp của văn bản với các quy định của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn theo nguyên tắc văn bản của cơ quan cấp dưới không được trái với văn bản của cơ quan cấp trên;

    – Xem xét sự phù hợp của văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân với nghị quyết của Hội đồng nhân cùng cấp;

    – Phát hiện những điểm mâu thuẫn của văn bản được kiểm tra với các văn bản quy phạm pháp luật khác của chính cơ quan ban hành văn bản đó;

    – Đánh giá về sự thống nhất giữa các quy định trong cùng một văn bản là đối tượng kiểm tra;

    – Phát hiện văn bản quy phạm pháp luật do Bộ, cơ quan ngang Bộ ban hành có dấu hiệu trái với các quy định của quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ, cơ quan ngang Bộ khác.

    Việc tiến hành một cách hiệu quả hoạt động giám sát, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật với một khối lượng công việc như vậy, chắc chắn sẽ góp phần tích cực vào việc bảo đảm tính đúng đắn, hoàn thiện không chỉ của một văn bản riêng lẻ mà còn của toàn bộ hệ thống pháp luật nói chung./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn: Kiểm Tra, Xử Lý Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật, Hay
  • Danh Mục Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Hết Hiệu Lực Toàn Bộ
  • Cấp Xã Không Nên Được Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Có Nên Giao Cấp Xã Được Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật?
  • Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật 1996
  • Cục Kiểm Tra Văn Bản Qppl

    --- Bài mới hơn ---

  • Vụ Doanh Nghiệp Bị Tố Thâu Tóm ‘đất Vàng’: Cục Kiểm Tra Văn Bản Qppl Nói Gì Về Bản “lạ” Của Đồng Nai?
  • Hiệu Lực Về Không Gian Của Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Nhận Thức Rõ Hơn Về Hiệu Lực Pháp Lý Của Điều Ước Quốc Tế Trong Sự Đối Sánh Với Văn Bản Qppl Ở Việt Nam
  • Tổng Hợp Kiến Thức Xây Dựng Vbpl
  • Luận Văn: Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Của Hđnd & Ubnd, Hot
  • Tại buổi làm việc, trên cơ sở báo cáo của Sở Tư pháp tỉnh Sơn La và kết quả theo dõi, kiểm tra của Cục Kiểm tra văn bản QPPL, Đoàn công tác đã trao đổi, làm rõ các kết quả đạt được, những thuận lợi và khó khăn, hạn chế trong việc thực hiện công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL trên địa bàn tỉnh từ năm 2021 đến nay. Theo đó, về công tác kiểm tra văn bản QPPL, từ năm 2021 đến hết tháng 6/2019, Sở Tư pháp Sơn La đã giúp UBND tỉnh thực hiện tự kiểm tra, lập hồ sơ kiểm tra đối với 115 văn bản do UBND tỉnh ban hành; tiến hành kiểm tra theo thẩm quyền đối với 132 văn bản do HĐND, UBND cấp huyện ban hành. Qua kiểm tra đã phát hiện và xử lý kịp thời theo quy định đối với 25 văn bản của UBND tỉnh và 61 văn bản của HĐND, UBND cấp huyện chưa phù hợp với quy định của pháp luật về nội dung, thẩm quyền, thể thức, kỹ thuật trình bày. Tỉnh cũng đã thực hiện nghiêm túc, đúng quy định việc xử lý đối với một số văn bản của cấp tỉnh do Cục Kiểm tra văn bản QPPL và cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương phát hiện, kiến nghị xử lý.

    Thay mặt Đoàn công tác, đồng chí Đồng Ngọc Ba – Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản QPPL, Trưởng Đoàn đã ghi nhận, đánh giá cao những nỗ lực và kết quả đã đạt được của Sở Tư pháp tỉnh Sơn La trong công tác tham mưu, giúp UBND tỉnh tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL từ xây dựng, hoàn thiện thể chế đến tổ chức chỉ đạo, triển khai thực hiện Trong điều kiện người ít việc nhiều, yêu cầu ngày càng cao (hiện tại Sở Tư pháp chỉ có 4 công chức thực hiện công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL và theo dõi thi hành pháp luật), không có công chức pháp chế chuyên trách tại các cơ quan chuyên môn của UBND tỉnh, Sở Tư pháp Sơn La đã có nhiều cố gắng trong việc kiểm soát chất lượng và hệ thống văn bản QPPL của tỉnh; vai trò của Sở Tư pháp ngày càng được coi trọng, nâng cao trong công tác xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thi hành pháp luật tại địa phương. Tuy vẫn còn tình trạng sai sót về thể thức, kỹ thuật trình bày trong một số văn bản QPPL của UBND và HĐND, qua kiểm tra theo thẩm quyền của Cục Kiểm tra văn bản QPPL từ năm 2021 đến nay, tỉnh Sơn La không có văn bản nào có dấu hiệu trái pháp luật.

    Đồng chí Đồng Ngọc Ba đề nghị Sở Tư pháp Sơn La cần tiếp tục phát huy kết quả đã đạt được, triển khai hiệu quả hơn công tác xây dựng, ban hành và kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL theo quy định của Luật Ban hành văn bản QPPL và Nghị định 34/2016/NĐ-CP của Chính phủ, đặc biệt là công tác thẩm định của Sở Tư pháp trong xây dựng văn bản QPPL của chính quyền tỉnh; quan tâm củng cố, bố trí biên chế chuyên trách về công tác pháp chế tại các cơ quan chuyên môn của UBND tỉnh; thực hiện cập nhật kịp thời, đầy đủ, chính xác văn bản QPPL của địa phương trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật theo quy định, qua đó tiếp tục củng cố, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, tạo môi trường và hành lang pháp lý thuận lợi cho việc phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

    Đồng chí Trần Thị Minh Hòa – Phó Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Sơn La bày tỏ sự cảm ơn, tiếp thu các ý kiến đánh giá, chỉ đạo, hướng dẫn của Đoàn công tác qua đó tham mưu với lãnh đạo UBND tỉnh chỉ đạo khắc phục những hạn chế để thực hiện ngày càng tốt hơn các công tác xây dựng, ban hành, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL tại địa phương trong thời gian tới./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cục Kiểm Tra Văn Bản Qppl, Bộ Tư Pháp Tổ Chức Tập Huấn, Hướng Dẫn Sử Dụng Phần Mềm Pháp Điển Hệ Thống Quy Phạm Pháp Luật
  • Hiệu Quả Từ Công Tác Kiểm Tra, Xử Lý Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Ban Hành Văn Bản Qppl Ở Cấp Huyện Và Xã Còn Sai Sót Cả Về Thể Thức Và Nội Dung
  • Cách Xoay File Pdf Đơn Giản Nhất
  • Bài Tập Thực Hành Văn Bản Tiếng Việt
  • Tăng Cường Kiểm Tra, Rà Soát, Hệ Thống Hoá Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Ngân Hàng Nhà Nước Chi Nhánh Tỉnh Hà Tĩnh Ban Hành Kế Hoạch Phổ Biến, Giáo Dục Pháp Luật Năm 2021
  • Dịch Thuật Chuyên Ngành Luật, Dịch Văn Bản Pháp Luật, Công Văn, Thông Tư, Quyết Định, Nghị Định Các Ngành
  • Hệ Thống Văn Bản Pháp Luật Thuế Còn Hiệu Lực
  • Văn Bản Pháp Luật Về Thuế
  • Top 10 Website Tra Cứu Văn Bản Pháp Luật Chính Xác Nhất, Tốt Nhất
  •     Bộ Tư pháp vừa có báo cáo gửi Thủ tướng Chính phủ về kết quả kiểm tra, rà soát, hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật năm 2021. Theo đó, các bộ, cơ quan ngang bộ (gồm cả Bộ Tư pháp) và địa phương đã tổ chức thực hiện kiểm tra theo thẩm quyền đối với 13.391 văn bản quy phạm pháp luật. Bộ Tư pháp (Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật) đã kiểm tra 4.885 quy phạm pháp luật do cơ quan cấp bộ và chính quyền cấp tỉnh ban hành.

     

     

    Một cuộc họp của Bộ Tư pháp

    Một cuộc họp của Bộ Tư pháp

        Các bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương đã hoàn thành việc hệ thống hóa và công bố kết quả hệ thống hóa quy phạm pháp luật thống nhất trong cả nước kỳ 2 (2014-2018) qua đó xác định đầy đủ, chính xác các quy phạm pháp luật còn hiệu lực trong cả nước từ cấp Trung ương đến cấp xã tính đến thời điểm 31/12/2018 (gồm 8.802 văn bản của các cơ quan nhà nước ở Trung ương, 28.290 văn bản cấp tỉnh, 12.844 văn bản cấp huyện và 11.726 văn bản cấp xã). Trên cơ sở kết quả hệ thống hóa, các cơ quan đã tích cực, chủ động xử lý, nhất là việc xử lý chấm dứt hiệu lực (bãi bỏ) các quy phạm pháp luật không còn được áp dụng trên thực tế nhưng chưa có căn cứ xác định hết hiệu lực.

     

     

        Về nhiệm vụ năm 2021, Bộ Tư pháp xác định thực hiện nghiêm yêu cầu, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật gắn với nâng cao hiệu lực, hiệu quả chỉ đạo điều hành và thực thi pháp luật, căn cứ thực tiễn tại các bộ, ngành, địa phương với các nhiệm vụ lớn sau:

     

        Các bộ, cơ quan ngang bộ và HĐND, UBND cấp tỉnh tiếp tục thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trách nhiệm trong công tác kiểm tra, rà soát, xử lý văn bản gắn với yêu cầu, giải pháp của Chính phủ về chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2021 và yêu cầu quản lý ngành, lĩnh vực, địa bàn; phát hiện, xử lý kịp thời các quy định không còn phù hợp theo quy định của pháp luật.

                                                                       P.V

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Bản Pháp Luật Phục Vụ Công Tác Quản Lý Bảo Vệ Rừng
  • Hộ Kinh Doanh Cá Thể
  • Tổng Hợp Các Văn Bản Pháp Luật Cần Thiết Cho Nghề Xuất Nhập Khẩu
  • Một Số So Sánh Quyền Con Người Với Quyền Công Dân
  • Nội Dung Toạ Đàm “Văn Bản Ban Hành Phải Vì Cuộc Sống”
  • Trình Tự Thực Hiện Tự Kiểm Tra Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Của Vụ Pháp Chế

    --- Bài mới hơn ---

  • Hội Nghị Tập Huấn Công Tác Xây Dựng Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Của Bộ Nội Vụ Năm 2021
  • Một Số Khó Khăn, Vướng Mắc Trong Quá Trình Thi Hành Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Năm 2021 Và Đề Xuất, Kiến Nghị
  • Bàn Về Ngoại Lệ Của Quy Định Trong Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Điểm Mới Về Thẩm Quyền Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Đề Thi Học Kì 1 Lớp 12 Môn Gdcd
  • Trình tự thực hiện tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Vụ Pháp chế được quy định tại Điều 15 Thông tư 06/2015/TT-TTCP quy định về rà soát, hệ thống hóa, pháp điển, kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật; theo dõi tình hình thi hành pháp luật thuộc trách nhiệm của Thanh tra Chính phủ, theo đó:

    1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày văn bản do Vụ Pháp chế chủ trì soạn thảo được ban hành hoặc kể từ ngày Vụ Pháp chế tiếp nhận văn bản kiểm tra, Vụ trưởng Vụ Pháp chế có trách nhiệm tổ chức tự kiểm tra văn bản.

    2. Đối với văn bản khi kiểm tra phát hiện có dấu hiệu trái pháp luật, người kiểm tra lập hồ sơ về văn bản có nội dung trái pháp luật. Hồ sơ gồm:

    a) Cơ sở pháp lý để kiểm tra;

    b) Phiếu kiểm tra văn bản theo mẫu số 01/BTP/KTrVB ban hành kèm theo Thông tư số 20/2010/TT-BTP ngày 30/11/2010 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật (sau đây gọi chung là Thông tư số 20/2010/TT-BTP);

    c) Văn bản được kiểm tra;

    d) Báo cáo kết quả tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật. Nội dung Báo cáo kết quả tự kiểm tra thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật (sau đây gọi chung là Nghị định số 40/2010/NĐ-CP);

    đ) Các văn bản làm cơ sở pháp lý để xác định nội dung trái pháp luật;

    e) Dự thảo văn bản xử lý văn bản có nội dung trái pháp luật;

    g) Dự thảo văn bản bổ sung, sửa đổi, thay thế (nếu có);

    3. Trên cơ sở kết quả tự kiểm tra, Vụ trưởng Vụ Pháp chế ký báo cáo kết quả tự kiểm tra và đề xuất hình thức xử lý (đối với văn bản do Vụ Pháp chế chủ trì soạn thảo) hoặc gửi thông báo cho đơn vị chủ trì soạn thảo thuộc Thanh tra Chính phủ về nội dung trái pháp luật của văn bản để tiến hành tự kiểm tra, đề xuất hình thức xử lý.

    Điều 16. Trình tự thực hiện tự kiểm tra của đơn vị chủ trì soạn thảo văn bản thuộc Thanh tra Chính phủ

    1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày văn bản được ký ban hành hoặc kể từ ngày nhận được thông báo của Vụ Pháp chế quy định tại Khoản 3 Điều 15 Thông tư này, Thủ trưởng đơn vị chủ trì soạn thảo tổ chức thực hiện tự kiểm tra. Tùy theo yêu cầu của văn bản được kiểm tra, Thủ trưởng đơn vị tự kiểm tra quyết định mời cộng tác viên tham gia kiểm tra văn bản.

    2. Người được phân công kiểm tra văn bản có trách nhiệm nghiên cứu, kiểm tra văn bản và quy trình xây dựng, ban hành văn bản để xem xét, đánh giá và kết luận về tính hợp pháp của văn bản được kiểm tra.

    3. Đối với Thông tư liên tịch, phạm vi kiểm tra tập trung vào các nội dung thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Thanh tra Chính phủ. Trong trường hợp cần thiết, đơn vị tự kiểm tra phối hợp với các cơ quan chuyên môn đã liên tịch xây dựng văn bản để kiểm tra toàn bộ nội dung và quy trình xây dựng, ban hành văn bản.

    4. Khi phát hiện dấu hiệu trái pháp luật của văn bản, người được phân công kiểm tra văn bản có trách nhiệm lập hồ sơ về văn bản có dấu hiệu trái pháp luật theo quy định tại khoản 2 Điều 17 Thông tư này trình Thủ trưởng đơn vị tự kiểm tra.

    6. Đơn vị tự kiểm tra báo cáo Tổng Thanh tra Chính phủ bằng văn bản, đồng thời chuyển toàn bộ hồ sơ kết quả tự kiểm tra văn bản có dấu hiệu trái pháp luật đến Vụ Pháp chế.

    Chúc sức khỏe và thành công!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nội Dung Giám Sát, Kiểm Tra Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Luận Văn: Kiểm Tra, Xử Lý Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật, Hay
  • Danh Mục Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Hết Hiệu Lực Toàn Bộ
  • Cấp Xã Không Nên Được Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Có Nên Giao Cấp Xã Được Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật?
  • Hiệu Quả Từ Công Tác Kiểm Tra, Xử Lý Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Cục Kiểm Tra Văn Bản Qppl, Bộ Tư Pháp Tổ Chức Tập Huấn, Hướng Dẫn Sử Dụng Phần Mềm Pháp Điển Hệ Thống Quy Phạm Pháp Luật
  • Cục Kiểm Tra Văn Bản Qppl
  • Vụ Doanh Nghiệp Bị Tố Thâu Tóm ‘đất Vàng’: Cục Kiểm Tra Văn Bản Qppl Nói Gì Về Bản “lạ” Của Đồng Nai?
  • Hiệu Lực Về Không Gian Của Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Nhận Thức Rõ Hơn Về Hiệu Lực Pháp Lý Của Điều Ước Quốc Tế Trong Sự Đối Sánh Với Văn Bản Qppl Ở Việt Nam
  • Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 22-6-2015 và có hiệu lực từ 1-7-2016.

    Sau gần 4 năm triển khai thi hành luật, các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh đã phát huy tốt chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm của mình trong việc soạn thảo, ban hành, thực thi văn bản QPPL của tỉnh; kịp thời rà soát với các văn bản QPPL của cấp trên và tình hình thực tế của địa phương để tham mưu cho HĐND, UBND tỉnh ban hành nhiều văn bản QPPL, góp phần vào việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước ở địa phương. Trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản, từng cơ quan, đơn vị phát huy vai trò và thực hiện đúng theo quy định của pháp luật từ khâu đề nghị, soạn thảo, lấy ý kiến dự thảo, thẩm định, trình thông qua dự thảo và ký ban hành…

    Với vai trò là cơ quan tham mưu, giúp UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về công tác xây dựng và theo dõi thi hành văn bản QPPL; kiểm tra, xử lý văn bản QPPL, những năm qua Sở Tư pháp đã chủ động và tham mưu cho UBND tỉnh ban hành các kế hoạch về kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL; kế hoạch bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác xây dựng, ban hành, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL, đồng thời trực tiếp thực hiện công tác kiểm tra văn bản QPPL theo quy định trên địa bàn toàn tỉnh.

    Có thể nói, qua gần 4 năm triển khai thi hành luật ban hành văn bản QPPL, công tác xây dựng văn bản QPPL của tỉnh đã có những chuyển biến tích cực, các văn bản QPPL của tỉnh được ban hành theo đúng quy định của luật và nghị định hướng dẫn. Hệ thống văn bản QPPL của tỉnh ban hành đã điều chỉnh cơ bản các mặt của đời sống chính trị, kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phòng của địa phương. Các văn bản ban hành được triển khai thực hiện thống nhất từ tỉnh đến cơ sở; đồng thời, có tác động rất lớn, tạo hành lang pháp lý trong việc bảo đảm hoạt động hiệu quả của bộ máy Nhà nước, góp phần tích cực trong nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước bằng pháp luật của chính quyền các cấp.

    Tuy nhiên, do luật và nghị định hướng dẫn có nhiều điểm mới nên vẫn còn tình trạng một số cơ quan soạn thảo chưa tuân thủ nghiêm quy định pháp luật về quy trình xây dựng văn bản. Công tác kiểm tra, rà soát văn bản QPPL đôi lúc chưa được thực hiện kịp thời, do đó việc sửa đổi, bổ sung, thay thế văn bản còn chậm…

    Để nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, xử lý văn bản trái pháp luật và khắc phục tình trạng ban hành văn bản trái pháp luật, thời gian tới các sở, ngành, đơn vị trong tỉnh tiếp tục quán triệt, nâng cao nhận thức về vai trò của công tác kiểm tra văn bản QPPL là một bộ phận quan trọng, thiết yếu của công tác xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành văn bản QPPL. Khi được giao soạn thảo văn bản để trình UBND tỉnh ban hành, các cơ quan, đơn vị soạn thảo cần tuân thủ đầy đủ, nghiêm túc các quy định về trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản QPPL theo quy định. Đối với các văn bản đã được HĐND, UBND tỉnh ban hành, trong quá trình thực hiện, các cơ quan, đơn vị cần tích cực, chủ động, thường xuyên rà soát để kịp thời phát hiện, kiến nghị sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ những nội dung mâu thuẫn, chồng chéo, không phù hợp. Kiện toàn đội ngũ làm công tác xây dựng pháp luật theo hướng chuyên nghiệp; thực hiện điều động, luân chuyển công chức đáp ứng đủ năng lực, trình độ để làm công tác xây dựng pháp luật; đảm bảo công chức làm công tác xây dựng pháp luật đủ về biên chế, có chất lượng về chuyên môn nhằm phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ quy định của luật. Bảo đảm các điều kiện cần thiết cho công tác xây dựng chính sách, soạn thảo văn bản QPPL.

    Bài và ảnh: Lê Nhân

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ban Hành Văn Bản Qppl Ở Cấp Huyện Và Xã Còn Sai Sót Cả Về Thể Thức Và Nội Dung
  • Cách Xoay File Pdf Đơn Giản Nhất
  • Bài Tập Thực Hành Văn Bản Tiếng Việt
  • 6 Cách Đơn Giản Để Thêm Văn Bản Vào Pdf
  • Cách Xóa Hình Ảnh Và Xoá Chữ Trong Pdf Bằng Pdf Eraser
  • Ôn Kiểm Tra Văn Bản Học Kì Ii

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Toàn Tập Word 2013 (Phần 18): Cách Chèn Text Box Và Wordart
  • 10 Plugins Phổ Biến Thêm Category Và Tag Trong WordPress
  • Hãy Kể Tên Các Loại Thao Tác Dữ Liệu
  • Em Hãy Kể Tên Các Loai Ô Nhiễm Chính
  • Ý Nghĩa Các Loại Văn Bản Hành Chính
  • ÔN KIỂM TRA VĂN BẢN HKII STT Tên văn bản Tác giả T. loại Giá trị nội dung Giá trị nghệ thuật 1 Chiếu dời đô( Thiên đô chiếu ) Lí Công Uẩn(Lí Thái Tổ) (974-1028) Chiếu- nghị luận trung đại-Chữ Hán Văn xuôi kết hợp với văn biền ngẫu Phản ánh khát vọng của nhân dân về một đất nước độc lập, thống nhất, đồng thời phản ánh ý chí tự cường của dân tộc Đại Việt trên đà lớn mạnh. Nội dung: 4 đoạn - Nêu đề tài dời đô, đưa những dẫn chứng trong lịch sử -Chứng minh bằng thực tế - Khẳng định thành Đại La là nơi tốt nhất để dời đô Kết cấu chặt chẽ, lí luận giàu sức thuyết phục, hài hoà giữa lí và tình. 2 Hịch tướng sĩ (1285 Trước kháng chiến chống Mông-Nguyên lần II) Trần.Q.Tuấn (1231- 1300) Hịch- chữ Hán Thể văn nghị luận trung đại thường dùng để cổ động, thuyết phục hoặc kêu gọi đấu tranh chống kẻ thù. Thường được viết theo thể văn biền ngẫu(từng cặp cân xứng với nhau). Tinh thần yêu nước nồng nàn của dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mông- Nguyên, thể hiện qua lòng căm thù giặc, ý chí quyết chiến, quyết thắng kẻ thù, trên cơ sở phê phán khuyết điểm của tì tướng, khuyên bảo họ học tập binh thư, rèn quân để đánh giặc.. Gồm 4 phần: 1.Nêu tấm gương trung nghĩa 2.Nhận định tình hình-sự ngang ngược, tội ác của giặc chỉ rõ việc phải làm 3.Phê phán nghiêm khắc thái độ hành động sai trái của tướng sĩ, chỉ ra việc nên làm. 4.Xác định tinh thần, kêu gọi. Đây là áng văn chính luận xuất sắc có kết cấu chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, hùng hồn, đanh thép,dẫn chứng thuyết phục, lời văn thống thiết có sức lôi cuốn mạnh mẽ. - Sử dụng các hình ảnh ẩn dụ à hành động thực tế à sự ngang ngược, tham lam, tàn bạo của kẻ thù. -Sử dụng hình ảnh so sánh, điệp từ, điệp ý, hành động tương phản à phê phán 3 Nước Đại Việt ta (Trích Bình Ngô Đại Cáo- 1428) Sau khi quân ta đại thắng 15 viện binh của quân Minh Nguyễn Trãi ( 1380- 1442) Cáo- chữ Hán Nghị luận trung đại, thường được vua chúa trình bày một chủ trương, công bố kết quả để mọi người biết. Thể loại biền ngẫu. Ý nghĩa như bản tuyên ngôn độc lập: Nước ta là đất nước có nền văn hiến lâu đời, có lãnh thổ riêng, phong tục riêng, có chủ quyền, có truyền thống lịch sử; kẻ thù xâm lược là phản nhân nghĩa nhất định thất bại. - Tư tưởng nhân nghĩa - Chân lí về chủ quyền độc lập dân tộc Lí luận chặt chẽ, chứng cứ hùng hồn, xác thực. 4 Bàn luận về phép học( Luận học pháp-1791) La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp ( 1723- 1804 ) Thiên tư sáng suốt, học rộng hiểu sâu. Tấu- chữ Hán Là loại văn thư của bề tôi, thần dân gửi vua chúa để trình bày sự việc, ý kiến, đề nghị. Quan niệm tiến bộ của tác giả về mục đích và tác dụng của việc học là để làm người có đạo đức, có tri thức góp phần làm hưng thịnh đất nước. Muốn học tốt phải có phương pháp, học rộng nhưng phải nắm cho gọn, theo điều học mà làm.( hành) Gồm 3 phần - Mục đích chân chính của việc học: học để làm người -Phê phán những lối học lệch lạc sai trái- cầu danh lợi à nước mất nhà tan - Khẳng định phương pháp học đúng đắn: phổ biến việc học,học từ những điều cơ bản nhấtà học rộngà tóm gọn,học đi đôi với hành, tác dụng của việc học. Thể loại văn nghị luận, lí luận chặt chẽ, luận cứ rõ ràng. -Sử dụng các câu châm ngôn với hình ảnh so sánh để làm sáng tỏ mục đích của việc học 5 Thuế máu (Trích chương I Bản Án Chế Độ Thực Dân Pháp- 1925) Sau Chiến tranh Thế giới lần I NguyễnÁi Quốc (1890- 1969 ) Phóng sự- Chính luận -nghị luận hiện đại (bằng tiếng Pháp) Bộ mặt giả nhân giả nghĩa, thủ đoạn tàn bạo của chính quyền Thực dân Pháp trong việc sử dụng người dân thuộc địa làm bia đỡ đạn trong các cuộc chiến tranh phi nghĩa, tàn khốc. Gồm 3 phần: - Chiến tranh và "người bản xứ" + Giọng văn mỉa mai, châm biếm, nghệ thuật trào phúng à bộ mặt tráo trợn của thực dân Pháp + Số phận bi thương của người dân thuộc địa , bị biến thành vật hi sinh cho lợi ích của bè lũ thực dân - Chế độ lính tình nguyện + Thủ đoạn cưỡng bức, lường gạt + Lập luận phản bác bằng các dẫn chứng thực tế - Kết quả của sự hi sinh +Giọng văn mỉa mai, câu hỏi tu từ +Kêu gọi sự đồng tình chống chiến tranh phi nghĩa Tư liệu phong phú, xác thực, ngòi bút trào phúng sắc sảo, hiện đại. Đoạn trích sử dụng nhiều hình ảnh giàu giá trị biểu cảm, có giọng điệu vừa đanh thép vừa mỉa mai, chua chát. Nghệ thuật châm biếm, đả kích sắc sảo tài tình 6 Đi bộ ngao du( Trích Ê- min hay về GDục ) J.Ru-xô (1712-1778 ) Nghị luận Đi bộ ngao du ích lợi nhiều mặt; tác giả là một người giản dị, yêu quý tự do, yêu thiên nhiên tha thiết. Văn bản được chia làm ba đoạn để trình bày ba luận điểm chính - Đi bộ ngao du cảm giác tự do không bị lệ thuộc - Trau dồi vốn kiến thức -Tốt cho sức khỏe Việc xen kẽ giữa lí luận từu tượng và những trải nghiệm của cá nhân làm cho những lập luận không khô khan, chặt chẽ, sinh động và có sức thuyết phục. 7 Ông Guốc- Đanh mặc lễ phục (Trưởng giả học làm sang) Mô-li-e (1622- 1673) Hài kịch- Trích hồi II Châm biếm, cười cợt bọn trưởng giả học làm sang một cách ngu ngốc, kệch kỡm.Sử dụng tiếng cười như một vũ khí sắc bén tấn công vào lối sống cầu kì học đòi của tầng lớp quý tộc đương thời. Nghệ thuật xây dựng kịch sinh động, khắc họa nhân vật tài tình. *Thế nào là văn bản nghị luận ? Là văn được viết ra nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng, một quan điểm nào đó. Muốn thế văn nghị luận phải có luận điểm rõ ràng, có lí lẽ,dẫn chứng thuyết phục. Những tư tưởng , quan điểm trong bài văn nghị luận phải hướng tới giải quyết những vấn đề đặt ra trong đời sống thì mới có ý nghĩa. *Văn bản nghị luận trung đại có nét gì khác biệt so với văn bản nghị luận hiện đại ? - Sự khác nhau giữa văn bản nghị luận trung đại và văn bản nghị luận hiện đại + Hình thức: Văn bản nghị luận trung đại thường được cố định ở một số thể loại như: chiếu, hịch, cáo... -Văn nghị luận hiện đại thì hình thức co duỗi tự nhiên, câu văn sinh động, phong phú có nhiều yếu tố khác cùng tham gia vào quá trình lập luận ( chẳng hạn như biểu cảm, tự sự, miêu tả...). + Về nội dung: Văn nghị luận trung đại: thường bàn tới những vấn đề to lớn, quan hệ tới quốc thái, dân an. Văn nghị luận hiện đại: có đề tài rộng hơn, phong phú hơn. Những vấn đề đời thường cũng được đưa ra để nghị luận. BÀI TẬP THAM KHẢO Câu 1: Những nét giống và khác nhau về nội dung tư tưởng , hình thức thể loại của các văn bản trong bài: chiếu, cáo, hịch ? * Giống nhau: - Đều bao trùm một tinh thần dân tộc sâu sắc, thể hiện ý chí tự cường của dân tộc Đại Việt đang lớn mạnh (chiếu); ở...quyết chiến quyết thắng lũ giặc xâm lăng tàn bạo (hịch); hoặc ở ý thức sâu sắc, đầy tự hào về một nước Việt Nam độc lập (nước Đại Việt ta) - Tinh thần dân tộc sâu sắc, lòng yêu nước nồng nàn, đó là gốc của sắc thái biểu cảm, là chất trữ tình. Và yếu tố có tình còn thể hiện ở tấm lòng, thái độ của người viết đối với người tiếp nhận. -Trong bài Chiếu: Vua Lí Thái Tổ tỏ ra một thái độ khá thận trọng, chân thành đối với " các Khanh" và ngài. - Trong bài Hịch: một mặt Trần Quốc Tuấn bộc lộ lòng căm thù giặc, bằng những lời sôi sục, mặt khác thể hiện thái độ vừa nghiêm khắc vừa ân cần đối với các tướng sĩ. * Khác nhau: - Chiếu: là thể văn do nhà Vua dùng để ban bố mệnh lệnh. Chiếu có thể làm bằng văn vần, biền ngẫu hoặc văn xuôi, được công bố và đón nhận một cách trịnh trọng. Thể hiện tư tưởng chính trị lớn lao, có ảnh hưởng tới vận mệnh của Triều đại, đất nước. - Hịch: là thể văn nghị luận thời xưa, thường được vua chúa, tướng lĩnh hoặc thủ lĩnh một phong trào dùng để cổ động, thuyết phục hoặc kêu gọi đấu tranh chống thù trong giặc ngoài. Hịch có kết cấu chặt chẽ, lí luận sắc bén, có sức thuyết phục. Hịch khích lệ tình cảm, tinh thần người nghe. Thường viết theo thể văn biền ngẫu (từng cặp câu cân xứng với nhau). - Cáo: là thể văn nghị luận cổ, thường được vua chúa và thủ lĩnh dùng để trình bày một chủ trương hay công bố kết quả một sự kiện để mọi người cùng biết. Phần lớn được viết bằng văn biền ngẫu ( không có hoặc có vần, thường đối, câu dài ngắn không gò bó, mỗi cặp 2 vế đối nhau). Cáo là thể văn có tính chất hùng biện do đó lời lẽ đanh thép, lí luận sắc bén, kết cấu chặt chẽ, mạch lạc. Câu 2: Hãy nêu lên những nét chung và riêng của tinh thần yêu nước được thể hiện trong văn bản,Hịch tướng sĩ và Nước đại việt ta ? - Hai văn bản trên đều được viết bởi những nhân vật lịch sử, ra đời gắn liền với những sự kiện trọng đại trong lịch sử dựng nước, giữ nước và đều thấm đượm tinhthần yêu nước nồng nàn.Tinh thần yêu nước ấy trong các văn bản đều có nét giống nhau vừa có nét khác nhau, tức là vừa thống nhất vừa đa dạng. - Đều thể hiện nổi bật ý thức về chủ quyền dân tộc, đều toát lên lời khẳng đinh nền độc lập dân tộc. Song ở mỗi văn bản ,nội dung yêu nước lại có nét riêng : - Nét nổi bật ở Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn là lòng căm thù sôi sục và tinh thần quyết chiến quyết thắng lũ giặc xâm lược -Nội dung chủ yếu của tinh thần yêu nước trong Nước Đại Việt ta của Nguyễn Trãi là sự khẳng định mạnh mẽ nền độc lập trên cơ sở ý thức dân tộc đặc biệt sâu sắc, đồng thời đó còn là niềm tự hào cao độ về sức mạnh chính nghĩa cùng truyền thống lịch sử,văn hoá vẻ vang của dân tộc . Câu 3: Cho đoạn văn: "Ta thường đến bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa , ta cũng vui lòng". a. Đoạn trích trên nằm trong tác phẩm nào? Cho biết tên tác giả? b. Đoạn trích trên có nội dung ý nghĩa như thế nào? HD: a. Đoạn trích nằm trong tác phẩm "Hịch tướng sĩ". Tác giả Trần Quốc Tuấn. b.- Đau xót đến quặn lòng trước cảnh nước nhà bị xâm lăng - uất ức, căm tức. - Tình yêu đất nước sâu sắc, căm thù giặc đến tột đỉnh, sẵn sàng xả thân vì đất nước „Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa". - Cổ vũ khích lệ tinh thần chiến đấu cho quân sĩ. Câu 4: Dựa vào "Hịch tướng sĩ",hãy nêu suy nghĩ của em về lòng yêu nước nồng nàn và vai trò của những người lãnh đạo anh minh như Trần Quốc Tuần đối với vận mệnh đất nước. a.Trần Quốc Tuấn và Hịch Tướng Sĩ : - Trần Quốc Tuấn (1231 -1300) tước Hưng Đạo Vương là một danh tiếng kiệt xuất đời Trần, là người : Có phẩm chất cao đẹp Có lòng yêu nước sâu sắc Văn võ song toàn Có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần II(1285) và lần III(1288) Là tác giả cuốn Binh thư yếu lược và Hịch tướng sĩ. + Hịch tướng sĩ là một văn kiện lịch sử trọng đại hàm chứa tình cảm yêu nước và khí phách anh hùng và mang tính nghệ thuật độc đáo, xứng đáng là một kiệt tác trong nền văn học Việt Nam. + Vừa mang yếu tố chính luận vừa mang yếu tố chữ tình. - Hoàn cảnh ra đời tác phẩm: Trước kháng chiến chống Mông-Nguyên lần II - 1285. Giặc cậy mạnh hống hách, ta sôi sục căm thù, quyêt tâm chiến đấu nhưng trong hàng ngũ có tướng sĩ dao động muốn cầu hoà. b. Suy nghĩ: - Bài hịch nêu cao tinh thần quyết chiến quyết thắng, đánh bại tư tưởng dao động, bàng quang, khích lệ tướng sĩ sẵn sàng chiến đấu chống giặc. - Nghệ thuật: Sử dụng nhiều động từ mạnh: xả thịt, lột da, nuốt gan, uống máu; lối nói thậm xưng: trăm thân, nghìn xác, phơi ngoài nội cỏ, gói trong da ngựa. - Giá trị biểu đạt: Lòng sục sôi, nhiệt huyết và tinh thần quyết chiến của Trần Quốc Tuấn. + Tâm trạng đau đớn, đắng cay, tủi nhục: tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa. + Lòng căm thù sục sôi, quyết không dung tha cho lũ giặc: chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. + Tư thế hiên ngang, lẫm liệt cùng tinh thần quyết chiến kẻ thù: Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng. + Tố cáo tội ác ngang ngược của kẻ thù "Đi lại nghênh ngang ngoài đường-Uốn lưỡi cú diều sỉ mắng triều đình, đòi ngọc lụa, vét bạc vàng....." + Lòng yêu nước của Trần Quốc Tuấn thể hiện ở việc: Tác giả khơi dậy mối ân tình của mình với tướng sĩ . Đau đớn đến thắt tim thắt ruột quên ăn, mất ngủ thể hiện lòng căm thù giặc sâu sắc (Có dẫn chứng) Phê phán thái độ sai, hành động sai của các tì tướng. Kêu gọi tướng sĩ đoàn kết một lòng, nêu cao tinh thần cảnh giác và quyết chiến, quyết thắng với kẻ thù. Câu 5 : Trình bày cảm nhận của em về đoạn văn sau: Huống chi ta cùng các ngươi sinh phải thời loạn lạc, lớn gặp buổi gian nan. Ngó thấy sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ, thác mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa để thoả lòng tham không cùng, giả hiệu Vân Nam Vương mà thu bạc vàng, để vét của kho có hạn. Thật khác nào như đem thịt mà nuôi hổ đói, sao cho khỏi để tai vạ về sau! (Hịch tướng sĩ -Trần Quốc Tuấn) a. Nghệ thuật: - Sử dụng từ ngữ giàu hình ảnh gợi tả, phép ẩn dụ, câu văn biền ngẫu, một loạt động từ đòi, thu , vétà sự tham lam của kẻ thù, hình tượng ẩn dụ "cú diều", "dê chó", "hổ đói" à bản chất hung hãn, độc ác, vô nhân tính của kẻ thù, sự khinh bỉ giặc cao độ của Trần Quốc Tuấn b. Nội dung: - Lột tả tội ác ngang ngược hống hách của kẻ thù "đi lại .. nghênh ngang", sỉ mắng.., bắt nạt.. - Lòng căm thù giặc sâu sắc, lòng yêu nước nồng nàn, kêu gọi tinh thần đoàn kết, ý chí quyết chiến, quyết thắng giặc Nội dung chung cả bài: - " Hịch tướng sĩ" đã thể hiện sâu sắc nhiệt tình yêu nước của vị tiết chế trước hoàn cảnh đất nước trong cảnh nước sôi lửa bỏng - Tố cáo tội ác và những hành vi ngang nguợc của kẻ thù. - Bộc lộ tâm trạng đau đớn, dằn vặt và lòng căm thù không đội trời chung với quân xâm lược. - Nêu cao tinh thần của vị chủ soái trước hoàn cảnh tổ quốc bị lâm nguy. - Phê phán nghiêm khắc thái độ bàng quan, chỉ biết hưởng lạc của các tướng sĩ. Khéo léo nêu lên lòng yêu thương sâu sắc của ông đối với các tướng sĩ. - Hậu quả nghiêm trọng không những sẽ ảnh hưởng cho ông mà còn cho gia đình những tướng sĩ vô trách nhiệm ấy, một khi đất nuớc rơi vào tay quân thù. Câu 6: Bài "Hịch tướng sĩ" của Trần Quốc Tuấn có một đoạn văn nói rất cảm động về tấm lòng yêu nước căm thù giặc của vị chủ tướng. Đó là đoạn nào? Hãy chép lại chính xác đoạn văn đó theo bản dịch của sách giáo khoa.Phân tích hiệu quả của việc dùng từ ngữ , giọng điệu trong đoạn văn. HD: "Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối , ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa. Chỉ căm tức rằng chưa xả thịt, lột da, nuốt gan, uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa ta cũng vui lòng " - Cách sử dụng câu văn biền ngẫu giọng chì chiết, các động từ mạnh kết hợp với việc sử dụng điển cố thể hiện lòng căm thù sôi sục sâu sắc của vị chủ tướng đối với quân giặc. Câu 7: Vì sao Bình Ngô Đại cáo được coi là bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc việt Nam ? Vì bài cáo đã khẳng định Việt Nam là một nước độc lập, chủ quyền, đó là chân lí hiển nhiên. + Nước ta có nền văn hiến lâu đời + Có lãnh thổ riêng + Phong tục riêng + Có chủ quyền, có các triều đại đặt ngang hàng với các triều đại phương bắc + Có truyền thống lịch sử oanh liệt, bất cứ kẻ xâm lược nào vào nước ta đều bị sức mạnh nhân nghĩa của chúng ta làm cho đại bại. Câu 8: So sánh với ( Sông núi nước Nam - lớp 7). Nước Đại Việt ta có những điểm mới nào ? - Ý thức về nền độc lập dân tộc ( Sông núi nước Nam) được xác định trên 2 phương diện: lãnh thổ (Sông núi nước Nam) và chủ quyền (Vua Nam ở) - Bình Ngô đại cáo ý thức dân tộc phát triển cao hơn, sâu sắc và toàn diện hơn nhiều. Ngoài hai yếu tố lãnh thổ và chủ quyền, ý thức về độc lập dân tộc còn được mở rộng, bổ sung bằng các yếu tố mới, đầy ý nghĩa. Đó là nền văn hiến lâu đời, phong tục tập quán riêng, truyền thống lịch sử anh hùng "Bao đời xây nền độc lập". Câu 9: Viết đoạn văn giới thiệu về tác giả Nguyễn Trãi. - Nguyễn Trãi( 1380 -1442), hiệu là Ức trai, con trai Nguyễn Phi Khanh, tham gia khởi nghĩa Lam Sơn cùng Lê Lợi, là người văn võ song toàn. - Là người Việt Nam đầu tiên được phong là Danh nhân văn hoá thế giới (1980) - Các tác phẩm: Bình Ngô đại cáo, Ức trai thi tập, Quốc âm thi tập, Quân trung từ mệnh tập ... Câu 10: "Nước Đại Việt ta" của Nguyễn Trãi là áng văn tràn đầy lòng tự hào dân tộc. Dựa vào văn bản in trong sách giáo khoa, em hãy làm sáng tỏ nhận định trên. - Áng văn tràn đầy lòng tự hào dân tộc - Nguyên lí nhân nghĩa là nguyên lí cơ bản - Tư tưởng tiến bộ - Nhân nghĩa gắn liền với yêu nước chống giặc ngoại xâm - Yêu nước là "yêu dân", "trừ bạo" - Khẳng định nước Đại Việt có độc lập, chủ quyền: + Văn hiến lâu đời + Lãnh thổ rõ ràng + Phong tục tập quán riêng + Chủ quyền tồn tại song song với các triều đại Trung Quốc - Sức mạnh chính nghĩa, thực tế chứng minh , dẫn chứng ... Kết luận: "Nước Đại Việt ta"là bản tuyên ngôn độc lập tràn đầy lòng tự hào dân tộc, Nguyễn Trãi đã tạo nêu sức mạnh Đại Việt, tầm vóc Đại Việt chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược. Câu11: Em hãy giải thích ý nghĩa nhan đề Thuế máu trong văn bản thuế máu của Nguyễn Ái Quốc. Em có nhận xét gì về nghệ thuật lập luận và nghệ thuật trào phúng được biểu hiện trong văn bản. HD: *Giải thích ý nghĩa nhan đề Thuế máu:- Thuế máu- nhan đề bóc trần luận điệu khai hóa, bảo hộ của thực dân Pháp. Người dân thuộc địa phải chịu nhiều thứ thuế vô lí. Song một thứ thuế tàn nhẫn, phũ phàng nhất là bị bóc lột xương máu, mạng sống. Thuế máu là cách gọi của Nguyễn Ái Quốc, gợi số phận thảm thương của người dân thuộc địa, bao hàm lòng căm phẫn , thái độ mỉa mai đối với tội ác ghê tởm của chính quyền thực dân Nhan đề độc đáo, có giá trị tố cáo tội ác của thực dân Pháp * Nhận xét về nghệ thuật lập luận và nghệ thuật trào phúng được biểu hiện trong văn bản Thuế máu: - Tác giả sử dụng sắc sảo các thủ pháp nghệ thuật tương phản để vạch trần giọng lưỡi, thủ đoạn bịp bợm của bọn thực dân trong việc bắt nô lệ " bản xứ" làm bia đỡ đạn. - Sử dụng từ ngữ trào phúng sắc sảo như: " Chiến tranh vui tươi", " lập tức họ biến thành...", " được phong cho cái danh hiệu tối cao".... khiến cho giọng văn châm biếm trở nên sâu cay, mỉa mai.)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Tin Học 6 Bài 14: Soạn Thảo Văn Bản Đơn Giản
  • (Tin Học 6) Bài 13: Làm Quen Với Soạn Thảo Văn Bản
  • Giáo Án Tin Học 6 Bài 14: Soạn Thảo Văn Bản Đơn Giản (Tiếp Theo)
  • Giáo Án Tin Học 6 Tiết 39, 40: Soạn Thảo Văn Bản Đơn Giản
  • Tin Học Văn Phòng Là Gì? Các Kỹ Năng Tin Học Văn Phòng Cơ Bản Cần Nắm Vững
  • Sự Chồng Chéo Về Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Giữa Thanh Tra Và Kiểm Toán

    --- Bài mới hơn ---

  • Công Tác Cải Cách Hành Chính Trong Năm 2021
  • Triển Khai Kết Luận Của Thủ Tướng Chính Phủ Tại Hội Nghị Phòng, Chống Thiên Tai, Tìm Kiếm Cứu Nạn Năm 2021
  • Không Để Nợ Văn Bản, Đề Án Sang Chính Phủ Khóa Mới
  • Bắc Ninh Được Chính Phủ Đánh Giá Nợ Đọng Văn Bản Ít
  • Lần Đầu Tiên Chính Phủ Không Còn Nợ Đọng Văn Bản
  • Thực tế, trong những năm vừa qua, hoạt động kiểm toán đã góp phần tích cực trong việc xem xét, đánh giá việc chấp hành pháp luật về các lĩnh vực tài chính, ngân sách và nhiều lĩnh vực khác, đã thu hồi tiền và tài sản với giá trị lớn… được các cấp lãnh đạo và xã hội đánh giá cao. Một số nội dung kiểm toán cũng được các cơ quan thanh tra tham khảo và kế thừa. Tuy nhiên, với các nội hàm về nội dung kiểm toán quy định rộng, dẫn tới một số cuộc kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động đang có sự giao thoa nhất định với nội dung thanh tra chuyên ngành của nhiều bộ, ngành. Một trong những nguyên nhân của việc chồng chéo trong hoạt động của ngành thanh tra và kiểm toán là do quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của Kiểm toán Nhà nước và Thanh tra Chính phủ vẫn còn có những bất cập, thậm chí chưa phân định rõ ràng ranh giới về thẩm quyền giữa hai cơ quan này, đặc biệt là giữa kiểm toán với thanh tra chuyên ngành; như tại: Quyết định số 02/2017/QĐ-KTNN ngày 13/3/2017 của Tổng Kiểm toán Nhà nước ban hành quy trình kiểm toán dự án đầu tư xây dựng công trình; Quyết định số 204/QĐ-KTNN ngày 08/02/2017 của Kiểm toán Nhà nước về việc ban hành đề cương hướng dẫn kiểm toán việc quản lý và sử dụng đất khu đô thị…

    1.2. Về nội dung, đối tượng, căn cứ quyết định thanh tra, kiểm toán a) Về nội dung, đối tượng thanh tra, kiểm toán

    Theo quy định của Luật Kiểm toán Nhà nước năm 2021, Luật Thanh tra năm 2010, Nghị định số 49/2014/NĐ-CP ngày 20/5/2014 của Chính phủ về giám sát, kiểm tra, thanh tra đối với doanh nghiệp nhà nước trong việc chấp hành pháp luật và tuân thủ các quyết định của chủ sở hữu cho thấy: về đối tượng của thanh tra và kiểm toán đối với doanh nghiệp đều là doanh nghiệp nhà nước, có vốn sở hữu của nhà nước nhưng về nội dung thì kiểm toán tập trung vào đánh giá, xác nhận tính đúng đắn, trung thực, việc tuân thủ pháp luật, tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý và sử dụng tài chính công, tài sản công tại doanh nghiệp còn thanh tra tập trung vào việc xem xét, đánh giá và xử lý về việc chấp hành pháp luật và tuân thủ các quyết định của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước.

    b) Về căn cứ quyết định thanh tra, kiểm toán

    Từ căn cứ ban hành quyết định kiểm toán theo Điều 30 Luật Kiểm toán Nhà nước năm 2021, căn cứ tiến hành thanh tra theo Điều 38 Luật thanh tra năm 2010 cho thấy, việc ra quyết định thanh tra, quyết định kiểm toán đều dựa trên các căn cứ cụ thể theo quy định của Luật chuyên ngành, phù hợp với đặc thù của hoạt động thanh tra, kiểm toán. Tuy nhiên, trường hợp căn cứ ban hành quyết định kiểm toán theo Khoản 3 Điều 30 Luật kiểm toán Nhà nước: ” Khi có đề nghị của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cơ quan, tổ chức không có trong kế hoạch kiểm toán năm của Kiểm toán Nhà nước và được Tổng kiểm toán nhà nước chấp nhận” cần được quy định rõ hơn về điều kiện chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị kiểm toán của cơ quan, tổ chức nói trên để tránh tình trạng lạm dụng việc kiểm toán hoặc tùy tiện bỏ lọt các trường hợp cần được kiểm toán.

    1.3. Về xây dựng và thực hiện kế hoạch thanh tra, kiểm toán hàng năm đối với doanh nghiệp a) Về xây dựng và thực hiện kế hoạch kiểm toán nhà nước b) Về xây dựng và thực hiện kế hoạch thanh tra

    Theo Luật Kiểm toán nhà nước, kế hoạch kiểm toán năm do Kiểm toán Nhà nước ban hành và báo cáo Quốc hội trước khi thực hiện (Khoản 1 Điều 10 Luật Kiểm toán nhà nước). Nguyên tắc xây dựng kế hoạch kiểm toán năm: Nguyên tắc xây dựng Kế hoạch kiểm toán năm được quy định cụ thể tại Điều 3 Quyết định số 03/2017/QĐ-KTNN ngày 21/3/2017 của Kiểm toán Nhà nước quy định lập, thẩm định và ban hành kiểm toán năm của Kiểm toán Nhà nước, nguyên tắc này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hạn chế sự chồng chéo trong việc xây dựng kế hoạch kiểm toán với kế hoạch thanh tra. Thời gian ban hành kế hoạch kiểm toán năm: Theo quy định, trước ngày 15/6 hàng năm, Tổng Kiểm toán nhà nước ban hành Định hướng xây dựng kế hoạch kiểm toán năm trong đó hướng dẫn xây dựng kế hoạch kiểm toán năm sau. Kế hoạch kiểm toán năm của Kiểm toán Nhà nước được Tổng Kiểm toán Nhà nước ký ban hành trước ngày 31/12 năm trước (Khoản 1 Điều 13 Quyết định số 03).

    Ngày 28/5/2015, Bộ Kế hoạch đầu tư, Bộ Tài chính và Bộ Nội vụ ban hành Thông tư liên tịch số 04/2015/TTLT-BKHĐT-BTC-BNV về Quy chế phối hợp mẫu giữa các cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp sau đăng ký thành lập, với quy định Thanh tra tỉnh sẽ chủ trì, phối hợp với các sở, ngành cấp tỉnh và UBND cấp huyện để rà soát yêu cầu kế hoạch thanh tra doanh nghiệp trước khi trình Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt chính thức trên cơ sở yêu cầu các sở, ngành và UBND cấp huyện gửi dự thảo kế hoạch thanh tra trước ngày 15/11 hàng năm cho Thanh tra tỉnh.

    Như vậy, qua rà soát, phân tích các quy định về xây dựng kế hoạch thanh tra, kế hoạch kiểm toán cho thấy, trong quy trình xây dựng định hướng chương trình, kế hoạch thanh tra, kế hoạch kiểm toán đã có những quy định nhằm phòng ngừa, giảm thiểu sự chồng chéo, trùng lặp thông qua việc lấy ý kiến của các cơ quan hữu quan, cơ quan thanh tra, kiểm toán. Tuy nhiên, quy định này còn mang tính tùy nghi ” trong trường hợp cần thiết ” mà chưa xác định rõ trường hợp cần thiết là trường hợp nào, khi nào việc lấy ý kiến là bắt buộc. Đồng thời, chưa cụ thể hóa cơ quan hữu quan là cơ quan nào, cơ quan thanh tra nào cần phải lấy ý kiến… Do vậy, trong thực tế, việc kiểm soát sự chồng chéo, trùng lặp vẫn chưa được kiểm soát triệt để.

    1.4. Về việc thực hiện thanh tra, kiểm toán đột xuất

    Để khắc phục tình trạng này, ngày 10/3/2015, Thanh tra Chính phủ và Kiểm toán Nhà nước đã ký Quy chế phối hợp. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là quy định mang tính chất giải quyết tình thế giữa Kiểm toán nhà nước và Thanh tra Chính phủ nhưng chưa giải quyết được sự chồng chéo, trùng lặp giữa kiểm toán với thanh tra các bộ, ngành. Đồng thời, theo quy định Tổng Thanh tra Chính phủ ban hành kế hoạch thanh tra chậm nhất vào ngày 10/11 hàng năm, Tổng Kiểm toán ban hành Kế hoạch kiểm toán trước ngày 31/12 năm trước, trong khi đó quy định về thời hạn Thanh tra Chính phủ và Kiểm toán nhà nước gửi dự thảo kế hoạch kiểm toán và kế hoạch thanh tra của năm tiếp theo cho nhau để trao đổi ý kiến trước 15/11 là không phù hợp về mặt thời hạn. Mặt khác, do thời điểm ban hành kế hoạch khác nhau (kế hoạch thanh tra thường phải gửi chậm nhất là ngày 25/11 hàng năm, nhưng với kiểm toán khu vực thì đến tháng 3 năm sau mới công bố kế hoạch cụ thể) và sự phối hợp chưa chặt chẽ giữa Thanh tra Chính phủ với Kiểm toán Nhà nước, thanh tra các bộ, ngành với Kiểm toán các Khu vực, dẫn tới có sự trùng lặp về thời gian và tình trạng kế hoạch Kiểm toán Nhà nước các khu vực đang có sự chồng chéo với kế hoạch thanh tra của Thanh tra bộ. Ngoài ra, sự phối hợp giữa Kiểm toán Nhà nước và Thanh tra Chính phủ trong xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm toán còn thiếu thường xuyên nên tình trạng chồng chéo, trùng lặp vẫn còn tồn tại. Vì vậy, ngành Thanh tra và Kiểm toán cần có sự phối hợp chặt chẽ hơn nữa để đưa ra những kế hoạch hợp lý, xử lý được vấn đề chồng chéo, trùng lặp hiệu quả hơn.

    Ngoài việc tiến hành thanh tra theo kế hoạch, cơ quan thanh tra còn ra quyết định thanh tra đột xuất trong một số trường hợp, vụ việc cụ thể, theo Khoản 1 Điều 20 Nghị định số 86/2011/NĐ-CP ngày 22/9/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra. Tuy nhiên, việc ra quyết định thanh tra đột xuất hiện nay chưa được quy định cụ thể, rõ ràng và kiểm soát chặt chẽ về điều kiện tiến hành, về mức độ vi phạm pháp luật, tính cấp thiết của yêu cầu trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng… nên dẫn đến việc triển khai các cuộc thanh tra đột xuất chưa có sự thống nhất, là nguyên nhân gây chồng chéo trong hoạt động thanh tra của các cơ quan thanh tra và giữa cơ quan thanh tra với cơ quan kiểm toán.

    Ngoài ra, theo quy định tại Chỉ thị số 20/CT-TTg ngày 17/5/2017 chỉ khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật rõ ràng thì cơ quan có thẩm quyền mới được ra quyết định thanh tra đột xuất. Tuy nhiên, vấn đề là ” dấu hiệu vi phạm rõ ràng” được hiểu như thế nào, khi nào trở thành căn cứ để ra quyết định thanh tra cũng cần được xem xét và quy định thống nhất tại các văn bản pháp luật, tránh trường hợp việc xác định tính chất, mức độ vi phạm của vụ việc theo ý chí chủ quan của người ra quyết định thanh tra.

    2. Các quy định xử lý tình trạng chồng chéo, trùng lặp trong hoạt động thanh tra, kiểm toán đối với doanh nghiệp nhà nước

    Mặt khác, việc ra quyết định kiểm toán đột xuất cũng chưa có quy định pháp luật nào quy định cụ thể về vấn đề này, do đó các căn cứ để tiến hành kiểm toán đột xuất (nếu có) là một trong những nội dung cần được bổ sung quy định để tránh chồng chéo, trùng lặp.

    Qua rà soát cho thấy, pháp luật về kiểm toán hiện nay chưa có quy định rõ ràng trong việc xử lý tình trạng chồng chéo, trùng lặp về phạm vi, nội dung, đối tượng, thời gian kiểm toán và chồng chéo, trùng lặp giữa hoạt động kiểm toán với hoạt động thanh tra trong quá trình thực hiện kiểm toán. Để khắc phục tình trạng chồng chéo, phát huy, kế thừa kết quả giữa hoạt động thanh tra nhà nước và kiểm toán nhà nước, Thanh tra Chính phủ và Kiểm toán Nhà nước đã ban hành Quy chế phối hợp (ngày 10/3/2015), trong đó có quy định cụ thể về phối hợp trong xây dựng kế hoạch kiểm toán, thanh tra; phối hợp xử lý trùng lặp về đơn vị được kiểm toán, đối tượng thanh tra; việc sử dụng kết quả kiểm toán, thanh tra… Tuy nhiên, quy chế này mới chỉ dừng lại ở quy định về trách nhiệm của hai cơ quan phối hợp để thống nhất phương án xử lý mà chưa đưa ra được nguyên tắc xử lý, phương thức xử lý cụ thể trong những trường hợp xảy ra chồng chéo, trùng lặp. Điều này cần phải được quy định rõ hơn để thống nhất trong việc áp dụng. Bên cạnh đó, quy định nói trên mới chỉ xử lý được sự chồng chéo giữa Kiểm toán nhà nước và Thanh tra Chính phủ mà chưa dự liệu được sự chồng chéo giữa Kiểm toán Nhà nước và thanh tra các bộ, ngành, địa phương.

    Tuy vậy, nội dung Quy chế phối hợp đã quy định một số vấn đề để hạn chế và xử lý kịp thời những chồng chéo, trùng lặp trong hoạt động thanh tra và kiểm toán; cụ thể:

    Những quy định này có ý nghĩa nhất định trong việc giúp cho cơ quan Kiểm toán Nhà nước rà soát tránh chồng chéo hoặc kế thừa kết quả từ các cuộc thanh tra, kiểm toán trước. Tuy nhiên, tại các văn bản này chưa quy định rõ việc kế thừa, sử dụng kết quả thanh tra chính thức trước đó là bắt buộc, do vậy, việc khảo sát, thu thập những thông tin về kết quả thanh tra có thể chỉ là với mục đích tham khảo, việc sử dụng hoàn toàn phụ thuộc vào cơ quan tiến hành thanh tra, kiểm toán. Mặt khác, việc quy định cơ quan sử dụng kết quả đã được kết luận chính thức qua hoạt động kiểm toán, thanh tra phải tự chịu trách nhiệm về việc sử dụng kết quả kiểm toán, thanh tra đã không phát huy được hiệu quả, giá trị của việc kế thừa, do cơ quan sử dụng phải chịu trách nhiệm về tính đúng đắn của kết quả kiểm toán, thanh tra trước đó nên thực tế để kế thừa vẫn phải xem xét, kiểm tra lại các nội dung đã có kết luận.

    Thứ hai, về phối hợp trong cung cấp thông tin và cơ sở dữ liệu: ngoài việc phối hợp qua việc sử dụng, kế thừa kết quả kiểm toán, thanh tra của các Đoàn kiểm toán, thanh tra trước, Quy chế phối hợp giữa Kiểm toán Nhà nước và Thanh tra Chính phủ còn quy định việc phối hợp trong cung cấp thông tin và cơ sở dữ liệu về kiểm toán, thanh tra; phối hợp trong việc theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kiến nghị kiểm toán, kết luận thanh tra.

    Ngoài quy định nhằm hạn chế chồng chéo, trùng lặp trong việc xây dựng kế hoạch thanh tra, kế hoạch kiểm toán thông qua Quy chế phối hợp, trong quá trình tiến hành thanh tra, kiểm toán, cũng có những quy định xử lý chồng chéo, trùng lặp. Cụ thể: Thông tư số 01/2014/TT-TTCP ngày 23/4/2014 của Thanh tra Chính phủ về xây dựng, phê duyệt định hướng chương trình thanh tra, kế hoạch thanh tra.Mặt khác, tại Điều 13 Luật Thanh tra quy định các hành vi nghiêm cấm: “thanh tra không đúng thẩm quyền, vi phạm nội dung thanh tra…”; Nghị định số 49/2014/NĐ-CP ngày 20/5/2014 về giám sát, kiểm tra, thanh tra đối với doanh nghiệp nhà nước trong việc chấp hành pháp luật và tuân thủ các quyết định của chủ sở hữu, quy định thẩm quyền xử lý chồng chéo trong hoạt động thanh tra đối với doanh nghiệp (Điều 9); Thông tư liên tịch số 04/2015/TTLT-BKHĐT-BTC-BNV ngày 28/5/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụvàĐiều 13 quy định trách nhiệm của các cơ quan trong việc phối hợp xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp; Chỉ thị số 1034/CT-KTNN ngày 03/7/2017 của Kiểm toán Nhà nước về việc chấn chỉnh hoạt động kiểm toán, tránh chồng chéo, trùng lặp; Nghị định số 82/2012/NĐ-CP ngày 09/10/2012 về tổ chức và hoạt động thanh tra ngành tài chính (khoản 3 Điều 11); Văn bản 9179/BTC-TTr ngày 11/7/2017 của Bộ Tài chính về chấn chỉnh hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với doanh nghiệp theo Chỉ thị số 20/CT-TTg ngày 17/5/2017; Thông báo số 98/TB-VPCP ngày 22/2/2017 của Văn phòng Chính phủ thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc.

    3. Những tồn tại, vướng mắc và nguyên nhân dẫn đến chồng chéo, trùng lặp

    Nhìn chung, các quy định pháp luật hiện hành về xử lý chồng chéo, trùng lặp trong hoạt động thanh tra, kiểm toán đã góp phần hạn chế chồng chéo, trùng lặp trong thời gian qua, đặc biệt từ năm 2021 đến nay, sự phối hợp giữa Thanh tra Chính phủ với Kiểm toán Nhà nước; giữa Thanh tra các bộ, ngành với Kiểm toán khu vực đã được tăng cường, thường xuyên có sự trao đổi, thống nhất ngay từ khâu dự thảo kế hoạch, do đó tình trạng trên đã được khắc phục đáng kể, số cuộc thanh tra có chồng chéo với kiểm toán đã giảm mạnh; các cuộc thanh tra, kiểm toán có sự chồng chéo, trùng lặp được chủ động loại khỏi dự thảo Kế hoạch của Kiểm toán Nhà nước và Thanh tra Chính phủ, có tác động tích cực giảm số cuộc thanh tra, kiểm toán chồng chéo cả về nội dung và thời gian thanh tra; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, giảm bức xúc, ảnh hưởng đến quyền lợi và hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhiều quy định pháp lý về xử lý chồng chéo, trùng lặp còn chưa đầy đủ, chưa xác định được trách nhiệm thực hiện và trách nhiệm khi để xảy ra chồng chéo, trùng lặp; trong thời gian tới, để xử lý triệt để tình trạng chồng chéo, trùng lặp cần sửa đổi, bổ sung, ban hành các quy định về xử lý chồng chéo, trùng lặp phù hợp với thực tiễn, có tính bắt buộc và có giá trị pháp lý cao hơn, cần thiết sửa đổi, bổ sung Luật Thanh tra, Luật Kiểm toán Nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu về xử lý chồng chéo, trùng lặp.

    Mặc dù việc thực hiện các quy định hạn chế chồng chéo, trùng lặp đã mang lại những kết quả nhất định. Tuy nhiên, thực tế hoạt động thanh tra, kiểm toán cũng cho thấy vẫn còn xảy ra một số vướng mắc trong việc thực hiện các quy định xử lý chồng chéo, trùng lặp.

    Thứ nhất, quy định pháp luật về thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan thanh tra và cơ quan kiểm toán vẫn còn bất cập, chưa phân định một cách rõ ràng, rành mạch về thẩm quyền thanh tra, kiểm toán trong một số trường hợp; sự phân công giữa các bộ, ngành ở Trung ương và sự phân cấp, ủy quyền giữa các bộ, ngành ở Trung ương và chính quyền địa phương chưa rõ ràng; sự phối hợp giữa các cơ quan thanh tra và cơ quan kiểm toán trong việc xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm toán chưa chặt chẽ, thường xuyên.

    Kết quả rà soát bước đầu cho thấy, một số văn bản quy phạm pháp luật trong cả lĩnh vực thanh tra và kiểm toán đều cần được phân tích, đánh giá và sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, đặc biệt là một số văn bản quy phạm pháp luật của Thanh tra Chính phủ và Kiểm toán Nhà nước như quy định về nguyên tắc lập kế hoạch thanh tra, kế hoạch kiểm toán năm; căn cứ lập kế hoạch thanh tra, kế hoạch kiểm toán năm; trình tự, thủ tục lập, thẩm định và ban hành kế hoạch thanh tra năm, kế hoạch kiểm toán năm; những quy định về kế thừa kết quả đã được kết luận chính thức qua hoạt động kiểm toán, thanh tra thực tế chưa mang lại hiệu quả cần có sự điều chỉnh về trách nhiệm của cơ quan ban hành kết luận và cơ quan sử dụng kết luận.

    Thứ hai, các cuộc chồng chéo, trùng lặp trong hoạt động giữa các cơ quan thanh tra và kiểm toán chủ yếu chồng chéo về đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra, kiểm toán khiến những cuộc thanh tra khó đi vào thực chất, gây lãng phí nguồn nhân lực, gây phiền hà đối với cơ quan, đơn vị được thanh tra, nguyên nhân là do kế hoạch của Kiểm toán Nhà nước không nêu chi tiết về đối tượng, nội dung, thời gian được kiểm toán mà chỉ ghi đầu mối được kiểm toán, vì vậy khi ngành Thanh tra xây dựng kế hoạch thanh tra không xác định được cụ thể các đơn vị sẽ được kiểm toán cũng như thời gian kiểm toán. Vấn đề này cũng được thể hiện tại Báo cáo số 3208/BC-TTCP ngày 28/12/2017 của Thanh tra Chính phủ về Tổng kết 06 năm thi hành Luật Thanh tra.

    4. Đề xuất, kiến nghị

    Thứ ba, ngoài việc chồng chéo, trùng lặp trong hoạt động thanh tra, kiểm toán, thực tế doanh nghiệp nhà nước còn là đối tượng phải tiếp nhận các cuộc kiểm tra theo kế hoạch, kiểm tra đột xuất của cơ quan có thẩm quyền, đặc biệt là các cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực nên càng làm cho tình trạng chồng chéo, trùng lặp trong thanh tra, kiểm tra, kiểm toán khó kiểm soát, khó xử lý; một trong những nguyên nhân là hiện nay chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào quy định về việc kiểm tra của cơ quan nhà nước (quy trình kiểm tra, thủ tục kiểm tra, đối tượng kiểm tra…), dẫn đến tình trạng một doanh nghiệp là đối tượng của nhiều cơ quan khác nhau mà chưa có giải pháp nào xử lý hữu hiệu và triệt để.

    Trên cơ sở kết quả rà soát, có thể đưa ra một số đề xuất, kiến nghị nhằm khắc phục tình trạng chồng chéo trong hoạt động thanh tra, kiểm toán đối với doanh nghiệp, cụ thể như sau:

    Thứ nhất, phân định hoạt động rõ ràng, rành mạch giữa hai hoạt động thanh tra và kiểm toán trong các văn bản quy phạm pháp luật; tăng cường phối hợp giữa hoạt động thanh tra và hoạt động kiểm toán, nhất là phối hợp trong xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm toán và xử lý chồng chéo trong hoạt động thanh tra, kiểm toán; một số giải pháp khác như tăng cường công tác chỉ đạo điều hành hoạt động thanh tra, kiểm toán; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin; củng cố, kiện toàn bộ máy, phát triển nguồn nhân lực thanh tra, kiểm toán đảm bảo đồng bộ; mở rộng hợp tác quốc tế; phân định rõ thẩm quyền giữa thanh tra các ngành; giữa thanh tra ngành và thanh tra cấp hành chính; giữa cơ quan thanh tra với các cơ quan có thẩm quyền khác trong việc thanh tra, kiểm tra; xây dựng cơ chế phối hợp để hoạt động thanh tra, kiểm tra có tính thống nhất, tránh tình trạng chồng chéo, trùng lặp như hiện nay.

    Thứ hai, tiếp tục tăng cường sự phối hợp trong xây dựng và triển khai kế hoạch giữa Thanh tra Chính phủ và Kiểm toán Nhà nước; giữa Thanh tra các bộ, ngành với Kiểm toán các khu vực, để tránh chồng chéo về thời gian và nội dung; cần nâng cao việc công khai và thống nhất về Kế hoạch thanh tra, Kế hoạch kiểm toán hàng năm trước khi ban hành nhằm giảm các cuộc thanh tra, kiểm toán trùng lặp hoặc điều chỉnh nội dung, phạm vi thanh tra, kiểm toán khi triển khai thực hiện các cuộc thanh tra, kiểm toán theo kế hoạch.

    Thứ ba, nâng cao trách nhiệm các cơ quan thanh tra chuyên ngành, chính quyền địa phương, các cơ quan kiểm toán phải căn cứ vào Kế hoạch thanh tra hàng năm của Thanh tra Chính phủ và Kế hoạch kiểm toán hàng năm của Kiểm toán Nhà nước để xây dựng Kế hoạch thanh tra, kiểm toán và báo cáo kịp thời khi triển khai thực hiện, đặc biệt khi phát hiện có chồng chéo, trùng lặp.

    Thứ tư, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật chưa rõ ràng dễ gây tình trạng chồng chéo; bãi bỏ các quy dịnh trái thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ; quy định rõ trách nhiệm đối với cơ quan để xảy ra tình trạng chồng chéo, trùng lặp trong hoạt động thanh tra, kiểm toán…, cụ thể:

    (1) Khi sửa đổi, bổ sung Luật Thanh tra, Luật Kiểm toán Nhà nước trên cơ sở đánh giá, tổng kết về chồng chéo, trùng lặp giữa thanh tra và kiểm toán để đề xuất sửa đổi, bổ sung các vấn đề, như: cần quy định rõ nếu có sự chồng chéo, trùng lặp thời gian, đối tượng thì trường hợp nào dừng lại, trường hợp nào được tiếp tục làm; nếu chồng chéo, trùng lặp về phạm vi, nội dung thì quy định rõ việc kế thừa, nội dung kế thừa, trách nhiệm của cơ quan ban hành kết luận và cơ quan kế thừa; khi có chồng chéo, trùng lặp quy định rõ thẩm quyền (cơ quan nào sẽ tiếp tục làm, cơ quan nào có thẩm quyền xử lý…); quy định rõ căn cứ xây dựng thanh tra, kiểm toán đột xuất; cơ chế kiểm soát các cuộc thanh tra, kiểm toán đột xuất; việc xử lý chồng chéo giữa các cuộc thanh tra, kiểm toán đột xuất với thanh tra, kiểm toán theo kế hoạch…

    (2) Sớm sửa đổi, bổ sung Thông tư số 01/2014/TT-TTCP ngày 23/4/2014 của TTCP cho phù hợp với tình hình thực tiễn.

    (3) Xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định về kiểm tra của cơ quan nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước.

    (4) Có hướng dẫn cụ thể về thẩm quyền thanh tra của các cơ quan thanh tra nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước; phân định rõ phạm vi thanh tra (nội dung, đối tượng) của Thanh tra bộ với Thanh tra tỉnh, Thanh tra tỉnh với Thanh tra sở khi tiến hành thanh tra doanh nghiệp nhà nước theo phạm vi quản lý nhà nước của thủ trưởng cơ quan cùng cấp; phân định phạm vi thanh tra với phạm vi kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước, Kiểm toán khu vực.

    (5) Cần ban hành nghị định hướng dẫn về tổ chức thanh tra nội bộ trong doanh nghiệp nhà nước; bổ sung quy định và xây dựng cơ chế tạo quyền chủ động cho doanh nghiệp nhà nước khi phát hiện có chồng chéo, trùng lặp trong hoạt động thanh tra, kiểm toán tại đơn vị mình và có căn cứ, hồ sơ, tài liệu chứng minh về sự chồng chéo, trùng lặp đó thì có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét dừng hoặc hoãn việc thanh tra, kiểm toán bị chồng chéo, trùng lặp. Trong trường hợp có cơ sở xác định việc chồng chéo cơ quan có thẩm quyền phải chấp thuận đề nghị của doanh nghiệp.

    Thứ năm, thực hiện nghiêm túc, đầy đủ Quy chế phối hợp giữa Thanh tra Chính phủ và Kiểm toán Nhà nước; sớm sửa đổi Quy chế phối hợp trong việc xây dựng chương trình, kế hoạch thanh tra, kiểm toán và việc xử lý chồng chéo trong hoạt động thanh tra, kiểm toán; xây dựng các Quy chế phối hợp giữa Thanh tra bộ, ngành, địa phương với Kiểm toán khu vực thuộc Kiểm toán Nhà nước; theo dõi việc thi hành và phát hiện bất cập, vướng mắc để kịp thời sửa đổi.

    Ths – TTVC Nguyễn Thị Hồng Thắm Vụ Pháp chế, Thanh tra Chính phủ

    Có thể khẳng định, sự chồng chéo giữa hoạt động thanh tra và kiểm toán là một trong những nguyên nhân gây lãng phí nguồn lực của Nhà nước và làm ảnh hưởng đến hoạt động của cơ quan, tổ chức là đối tượng của hoạt động thanh tra và kiểm toán. Do đó, việc tăng cường phải rà soát hệ thống văn VBQPPL về thanh tra, kiểm toán nhằm phát hiện các bất cập, chồng chéo của các VBQPPL đang là vấn để hết sức cấp thiết, qua đó góp phần sửa đổi, ban hành hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền ban hành VBQPPL về thanh tra, đặc biệt là thanh tra chuyên ngành, kiểm tra và kiểm toán theo hướng lồng ghép, phối hợp và kế thừa kết quả hoạt động giữa các cơ quan./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đổi Mới Thư Viện Của Thanh Tra Chính Phủ
  • Vụ Thoái Vốn Ở Hãng Phim Truyện Việt Nam::bộ Vhttdl Làm Trái Kết Luận Của Thanh Tra Chính Phủ?
  • Mẫu Văn Bản 1131 Của Thanh Tra Chính Phủ
  • Chỉ Thị Của Thủ Tướng Chính Phủ Về Phòng, Chống Dịch Bệnh Viêm Đường Hô Hấp Cấp Do Chủng Mới Của Virus Corona Gây Ra
  • Mới Nhất Về Covid
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100